bài viết trong chuyên mục "xem ngày giờ"

Hiển thị các bài đăng có nhãn xem ngày giờ. Hiển thị tất cả bài đăng

Xem ngày giờ tốt


.XEM NGÀY GIỜ TỐT THEO LỊCH VẠN SỰ THÔNG THƯ CHỮ NHO CỔ TRUYỀN:

Từ ngàn đời nay, dân tộc Việt Nam ta làm công việc gì quan trọng như xây nhà, cưới hỏi, khai trương, nhậm chức, ma chay …đều xem xét rất kỹ, chọn ngày tháng thật tốt để làm.
Đó là những ngày hoàng đạo, thiên thành, hỷ thần, sinh khí, mãn đức tinh…khi xem xét còn phải chọn ngày phù hợp với gia chủ để làm các công việc khác nhau động thổ, đổ mái, nhập trạch, khai trương cửa hàng, công ty, cưới hỏi, sinh nở, mua nhà, ô tô, xe máy, kí hợp đồng giá trị lớn, nhậm chức…
Ngoài ra tùy công việc còn cần phải tránh như ngày cưới hỏi tránh các sao như không phòng, cô thần, nhân cách, trùng tang…
Ngày động thổ, làm nhà tránh các sao thổ kỵ, thổ cấm, địa tặc, hà khôi, lục bất thành….
Ngày phẫu thuật, đi khám chữa bệnh tránh các sao huyết chi, đao châm sát, mộc mã sát…
Những ngày hắc đạo, sát chủ, thụ tử, đại hao thì mọi việc đều phải kiêng.
An táng hạ huyệt tránh ngày giờ trùng tang,
Lợp nhà, làm nhà xưởng kiêng ngày thiên hỏa,
Mọi việc lễ bái, cầu khấn kiêng ngày thần cách, thiên cẩu.
Trồng cây cối kiêng ngày địa hỏa…
Xuất hành kiêng ngày ngũ quỷ…
Ngày Thiên Ma làm nhà không được ở, nhậm chức dễ mất mạng,
Ngày sát sư kiêng đi lễ, khai giảng.
Ngày vạn sự không thành kiêng mọi việc.
Ngày tam lương 3 việc lớn làm nhà, tậu đất, mua xe không thành.
Ngày nguyệt kỵ kiêng mọi việc…
Khi xem tuổi cưới hỏi (chỉ xem tuổi con gái) ,  tuổi làm nhà cũng phải kết hợp cả 3 yếu tố kim lâu, hoang ốc, tam tai và được xem đúng phương pháp mới mang lại kết quả chính xác nhất.
Lưu ý: Hiện nay có rất nhiều bản dịch Lịch vạn sự chữ quốc ngữ tam sao thất bản nhiều điểm khác với lịch chữ Nho cổ, để tránh phạm phải ngày sát chủ, thụ tử, cấm đám cưới, cấm đào đất, ngày cô thần…nên xem theo lịch Vạn sự chữ Nho gốc!

Quan niệm ngày xấu tốt
Theo phong tục từ trước tới nay nhiều người thường kén ngày lành tháng tốt để xuất hành, động thổ, đổ bê tông mái, cất nóc, nhập trạch, khai trương, ăn hỏi, rước dâu, ký hợp đồng, hộ liệm, di quan, phá nấm, nhập phủ (hạ huyệt)v.v.Trước là trọn vẹn niềm tin về tâm linh, sau là yên tâm tư tưởng để tiến hành công việc

niem-phat-1

 1.Quan niệm về ngày xấu – tốt



Theo phong tục từ trước tới nay nhiều người thường kén ngày lành tháng tốt để xuất hành, động thổ, đổ bê tông mái, cất nóc, nhập trạch,  khai trương, ăn hỏi, rước dâu, ký hợp đồng, hộ liệm, di quan, phá nấm, nhập phủ (hạ huyệt)v.v.Trước là trọn vẹn niềm tin về tâm linh, sau là yên tâm tư tưởng để tiến hành công việc. Do nhu cầu nhiều như thế nên thông tin, sách vở, tài liệu từ xưa tới nay có quá nhiều ( tồn tại rất nhiều mâu thuẫn), Nếu không phải người tinh thông có chuyên môn thì khó tìm được ngày giờ vừa ý (đa thư loạn mục).

2.Ngày nguyệt kỵ mùng 5, 14, 23

Trong 1 tháng  luôn có 3 ngày cộng vào bằng 5

Ngày mùng 5

Ngày 14  gồm 1+4 = 5

Ngày 23 gồm  2+3 = 5

Các Cụ thường gọi là ngày “nửa đời, nửa đoạn”, xuất hành đi đâu cũng vất vả, khó được việc, “mùng 5, 14, 23 đi chơi còn lỗ nữa là đi buôn”

Phi tinh trong cửu cung bát quái : Nhất bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch, cửu tử. Trong số cửu tinh thì  Sao Ngũ hoàng ( thuộc trung cung ) được cho là xấu nhất, vận sao Ngũ hoàng bay tới đâu mang hoạ tới đó. Cứ theo phi tinh 9 cung lại quay trở về Ngũ hoàng :

Ngũ hoàng 5

5 + 9 = 14

14 + 9 = 23



Đặc biệt nhất là ngày 5 tháng 5  (trùng lặp Ngũ hoàng thổ), người ta thường nói: “nen nét như rắn mùng 5”. Vào ngày mùng 5 /5 âm lịch rắn không ra khỏi Mà, tương truyền ai chặt được đầu rắn mùng 5 ra đường  sẽ gặp nhiều may mắn. Bởi vì thời gian đó phương lực ly tâm từ Trái Đất kết hợp với lực hấp dẫn từ Mặt Trăng,  hướng tâm từ Mặt Trời và Vũ trụ không bình thường gây cho Rắn run sợ, ù tai, hoa mắt không dám ra ngoài.

Còn có sách Cổ gọi là ngày Lý Nhan :

Niên niên nguyệt nguyệt tại nhân gian

Tùng cổ chí kim hữu văn tự

Khẩu khẩu tương truyền bất đẳng dấu

Vô sự vu tử chi xã tắc

Lý nhan nhập trạch táng 3 nam

Mùng 5 phạm ly tán gia trưởng

14 phùng chi thân tự chướng

23 hành thuyền lạc thuỷ lâm quan sự

Giai nhân Mộ khán nhị thập tam.

( Bất lợi kỵ cưới gả, đi xa )


3.Ngày Tam Nương sát

Thượng tuần sơ Tam dữ sơ Thất ( đầu tháng ngày 3, ngày 7 )

Trung tuần  Thập tam Thập bát dương ( giữa tháng ngày 13, ngày 18 )

Hạ tuần Chấp nhị dữ Chấp thất (cuối tháng ngày 22, 27 )

Tháng nào cũng vậy.

Theo quan niệm của nhiều người  thì  xuất hành hoặc khởi đầu làm việc gì đều  vất vả không được việc.

Thực ra theo phong tục tập quán của Việt Nam thì vào những ngày đó Ngọc Hoàng thượng Đế sai 3 cô gái xinh đẹp ( Tam nương ) xuống hạ giới ( giáng hạ ) để làm mê muội và thử lòng con Người (nếu ai gặp phải) làm cho bỏ bê công việc, đam mê tửu sắc, cờ bạc v.v.

Cũng là lời khuyên răn của Tiền Nhân cho con cháu nên làm chủ trong mọi hoàn cảnh, chịu khó học tập, cần cù làm việc.

 Trong khoa Chiêm Tinh thì ngày Tam nương, Nguyệt kỵ không được cho là quan trọng so với  các sao chính tinh và ngày kiêng kỵ  khác như : Sát chủ, Thụ tử, Trùng tang, Trùng phục, Không sàng, Không phòng, Thiên tai địa hoạ, Trời nghiêng đất lở, Hoang ốc, Thiên hình hắc đạo, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạo, Dương công kỵ, Thập ác đại ma, Lục nhật phá quần. v.v..

4.Cách chọn ngày lành tháng tốt và hoá giải những điều kiêng kỵ ( nếu gặp phải ) :

Cùng  1  giờ  1 ngày như nhau kẻ thắng người bại, kẻ cười ngưòi khóc, Sinh, Tử Hiếu, Hỷ  song song . Người  nhậm chức, người thoái quan. Người Thi đỗ, người thi trượt. Người bán đắt (có lộc), người mua đắt (mất lộc).v.v.

Từ xưa tới nay chưa bao giờ có ngày giờ thật tốt ( ngày lành tháng tốt ) hoặc thật xấu cho mọi người, mọi việc. Vì nếu thật sự có ngày giờ tốt ấy thì không có người mất thì có ai được? không có người thua thì sao có người thắng ? thì ngày đó lại là ngày xấu.

Ngày giờ tốt xấu chỉ ảnh hưởng tới từng công việc, từng tuổi nào liên quan đến nó mà thôi.

Cho nên khi chọn ngày lành tháng tốt phải biết rõ tính chất từng công việc, tuổi Chủ nhân, 24 tiết khí, phong tục tập quán, thông thạo Lý số, Nhâm Cầm Độn Toán mới quyết định được.

 Có người cứ máy móc mua về mấy quyển sách giở ra tra, tốt chưa thấy đâu nhiều khi lại gặp điều tối kỵ như : Thượng lương, đổ bê tông mái nhà chiều tối ,hạ thuỷ tàu thuyền ngày nước ròng (chân triều), rước dâu nửa đêm tháng 7 mưa ngâu, bốc mộ  buổi trưa mùa hạ, lập đàn cúng tế ngày sát sư, bệnh nhân, sản phụ mổ cấp cứu còn chờ ... sáng trăng (Thầy bấm).v.v. Là nên tránh.

 Thí dụ : Khi xem làm việc gì  tham khảo ngoài những sao xấu, ngày xấu chung đã kê ở trên thì phải chú ý điều tối kỵ cho từng việc như :

  Nếu Việc bốc Mộ, khâm liệm, di quan, hạ huyệt  kỵ nhất ngày giờ trùng tang (cải mả gặp trùng tang như trồng Lang gặp gió bấc ).

 Nếu Động thổ, hạ móng, đổ bê tông mái, cất nóc, tân gia, ăn hỏi, rước dâu,nhập phòng, kỵ nhất ngày Không sàng, không phòng, cô thần, quả tú, giá ốc ...

 Hạ thuỷ tàu thuyền phải chọn ngày theo con nước sinh, đỉnh triều.

 Lập đàn lễ bái kỵ ngày sát sư, không vong. v.v.

 Là nên làm. Cứ như thế suy ra những việc khác.

 Sau đó chọn những ngày giờ tốt, tránh xấu như sau :

 Tránh những ngày  giờ xấu như ; Sát chủ, Thụ tử, Trùng tang, Trùng phục, Không sàng, Không phòng, Thiên tai địa hoạ, Trời nghiêng đất lở, Hoang ốc, Thiên hình hắc đạo, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạoDương công kỵ, Thập ác đại ma, Lục nhật phá quần. v.v..

5.Ngày giờ hoàng đạo

Tính ngày Hoàng đạo thì xem tháng đó là tháng gì theo hàng chi.

Tính giờ Hoàng đạo thì xem ngày đó là ngày gì theo hàng chi.

Dần, thân gia tý; mão dậu dần (Dần Thân từ cung Tý, Mão Dậu từ cung Dần)

Thìn, tuất tầm thìn: tý ngọ thân (Thìn Tuất từ cung Thìn, Tý Ngọ từ cung Thân)

Tị, hợi thiên cung tầm ngọ vị (Tị Hợi từ cung Ngọ )

Sửu mùi tòng tuất định kỳ chân (Sửu Mùi từ cung Tuất)

Thứ tự thuận chiều tính như sau :

Đạo 道 Viễn 遠,  Kỉ 紀 ,  Thời 時,  Thông 通 , Đạt 達, Lộ 路 , Diêu 遙, Hà 何 , Nhật 日 , Hoán 逭 , Trình  程.

  Nếu ai biết chữ nho thì thấy chữ nào có bộ quai sước 辶 là Hoàng đạo (tốt)

 Cụ thể có 6 chữ  có quai sước (màu đỏ) là Hoàng Đạo : Đạo (Thanh long hoàng đạo), Viễn (Minh đường hoàng đạo) , Thông (Kim quỹ hoàng đạo), Đạt (Thiên đức hoàng đạo, Diêu (Ngọc đường hoàng đạo), Hoàn (Tư mệnh hoàng đạo). tốt.

 Còn lại là :Thiên hình hắc đạo, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạo (xấu) .

 Sao Hoàng đạo vừa đem tốt lành đến vừa hoá giải được những điều hung kỵ.

6. Ngày Bất tương

 Tức là không dùng ngày Âm tương, Dương tương và Âm dương cụ tương (tương là sát khắc lẫn nhau) vì:

Âm dương nữ tử (hại cho bên nữ)

            Dương tương nam vong (hại cho bên nam)

            Âm Dương câu tương nam nữ cụ thương (hại cho cả nam và nữ)

            Âm Dương bất tương nam nữ kiết xương (Âm Dương bất tương nam nữ đều tốt).

Bảng lập thành ngày Bất tương

Tháng 1

Bính, Nhâm: tý; Ất, Kỷ, Tân, Quý: mão.

Tháng 2

Bính, Canh, Mậu: tý, tuất; Ất, Đinh, Kỷ: sửu.

Tháng 3

Ất, Đinh, Kỷ: dậu, sửu.

Tháng 4

Giáp, Bính, Mậu: tý; Giáp, Bính: thân; Ất Đinh: dậu; Giáp, Mậu: tuất.

Tháng 5

Kỷ Mùi, Mậu Tuất; Ất, Quý: mùi, dậu; Giáp, Bính: thân, tuất.

Tháng 6

Giáp, Nhâm: ngọ, thân, tuất; Ất, Quý: mùi, dậu; Mậu tuất, Kỷ mùi.

Tháng 7

Ất, Kỷ, Quý: tỵ, mùi; Giáp, Nhâm, Mậu: ngọ; Ất, Quý: dậu; Giáp, Nhâm: thân.

Tháng 8

Giáp, Nhâm, Mậu: ngọ, thìn; Giáp Tuất; Tân, Kỷ, Quý: tỵ, mùi.

Tháng 9

Kỷ, Tân: tỵ, mùi;  Canh, Nhâm, Mậu: ngọ; Quý; Tân: mão; Quý mùi.

Tháng 10

Mậu tý; Mậu, Canh, Nhâm: dần, thìn; Kỷ, Tân, Quý: mão.

Tháng 11

Canh, Nhâm, Mậu: thìn; Đinh, Kỷ: mão; Đinh, Tân, Kỷ: tỵ, sửu.

Tháng 12

Đinh, Tân, Kỷ: sửu, mão; Bính, Canh, Mậu: dần, thìn.



6.      Xem Nhị Thập bát tú

Đông phương Thanh long (青龍): Giác (角) Cang (亢) Đê (氐) Phòng (房) Tâm (心) Vĩ (尾) Cơ (箕) ...

Tây phương Bạch hổ (白虎): Khuê (奎) Lâu (婁) Vị (胃) Mão (昴) Tất (畢) Chủy/Tuy (觜) Sâm (參) ...

Nam phương Chu tước (朱雀): Tỉnh (井) Quỷ (鬼) Liễu (柳) Tinh (星) Trương (張) Dực (翼) Chẩn (軫) ...

Bắc phương Huyền vũ (玄武): Đẩu (斗) Ngưu (牛) Nữ (女) Hư (虛) Nguy (危) Thất (室) Bích (壁) ...

 Trong số 28 sao có 14 sao tốt, 14 sao xấu.



7.      Có 12 trực, mỗi tháng một trực, mỗi ngày một trực theo thứ tự sau :

  Gồm có :1- Kiến. 2- Trừ. 3- Mãn 4- Bình. 5-  Định. 6- Chấp. 7-  Phá. 8-Nguy. 9- Thành. 10- Thu.  11- Khai. 12- Bế.

 Trực dùng để chỉ tên cho 12 tháng âm lịch, về sau chuyển hóa dùng để chỉ ngày tốt hay xấu. Vào Tiết lập xuân, vào lúc hoàng hôn chập tối, sao cán gáo còn gọi là Diêu quang tinh tức là sao đứng đầu trong hình cán gáo thuộc chùm sao Đại hùng tinh - Bắc Đẩu chỉ vào hướng Đông Bắc hợp với cung Dần, nên tháng Giêng lập xuân Kiến Dần gọi là trực Kiến vào ngày Dần. Tiết Kinh Trập tháng 2, sao cán gáo cũng đúng lúc hoàng hôn chỉ hướng Chính Đông hợp với cung Mão nên gọi tháng 2 Kiến mão Trực Kiến vào những ngày Mão. Tiết Thanh Minh tháng 3, sao cán gáo chỉ hướng Đông Nam hợp cung Thìn nên gọi tháng 3 Kiến Thìn, Trực Kiến vào những ngày Thìn, lần lượt quay vòng như vậy, sau 12 tháng trở lại tháng giêng Kiến Dần.

  Chu kỳ quay hàng chi là 12 ngày, ngày trực cũng 12 ngày, nhưng vì tháng giêng Kiến Dần, tháng 2 Kiến Mão, nên mỗi tháng có hiện tượng 2 ngày liên tiếp cùng một trực, gọi là ngày Trùng Kiến. Bắt đầu từ ngày tiết đầu tiên của tháng nào thì theo trực của tháng đó.

Không phải Trực xấu là xấu mà phải xem Sinh Khắc với Mệnh và công việc để luận.

Xem Ngay Tot - Ngày Hoàng Đạo.

Hoàng đạo ở trong thiên văn cổ đại (còn có tên là Thiên Hoàng đạo) tức là quỹ đạo chuyển động của mặt trời trên bầu trời mà người xưa đã quan sát được. Qua quỹ đạo chuyển động đó quan sát thấy được đường đi của mặt trời trong vòng một năm có những khoảng cách khác nhau, lấy quỹ đạo đó để phân định mùa lên hè và khí tiết. Thuyết nhị thập bát tú cũng có nguồn gốc xuất phát từ Hoàng đạo.

>>>> Tu Vi Nam At Mui

>>>> Lich 2015

Các sao ở trên cung Hoàng đạo vốn không hề có hàm ý sao tốt hay xấu. Nhưng theo như tâm lý của người xưa: Mặt trời tức là ông Trời. Mặt trời là 1 vật thể vhữu hình, ông Trời là vô hình. Mọi người mọi vật, mọi việc, mọi điều họa phúc trên đời này được quan niệm rằng đều do ông Trời đầy đủ uy quyển quyết định. Ngày ngày, tháng tháng, năm năm, trên con đường đi của ông Trời qua từng chặng đường tất phải có các vị thần hộ vệ, mỗi vị thần tượng trưng cho một ngôi sao, các thần có thần thiện nhưng cũng có thần ác, mỗi thần chuyên lo một việc nhất định do ông Trời giao phó. Vì vậy trong 12 giờ sẽ có 12 vị Thần sát, các vị Thần sát cũng cho luân phiên trực nhật mỗi vị một ngày trong tháng trong năm. Đường thần thiện đi thì được gọi là Hoàng đạo, đường thẩn ác đi sẽ gọi là Hắc đạo.



Giờ hoàng đạo là gi? Và cách chọn giờ hoàng đạo như thế nào?

Theo như phong tục cổ truyền, để khởi đầu một việc gì, ngoài việc phải chọn ngày lành tháng tốt còn phải chọn được giờ tốt. Xuất hành, hay khởi công xây dựng, khai trương cửa hàng, bắt đầu đi đón dâu, đưa dâu, bắt đầu lễ đưa ma hạ huyệt đều phải chọn giờ Hoàng đạo tránh giờ Hắc đạo. Trừ trường hợp đặc biệt, ví dụ sắp đến giờ tàu xe xuất phát, nếu đợi giờ tốt có khi nhỡ kế hoạch; hoặc có giờ tốt, ngày tốt nhưng thời tiết rất xấu, chưa khởi công được... Nếu cứ quá câu nệ nhiều khi lại hỏng việc. Chúng tôi giới thiệu một phương pháp đơn giản, giúp các bạn không biết chữ Hán cũng có thể xem được giờ Hoàng đạo.

Trước hết cần phải xem công lịch để biết ngày hàng chi là ngày nào (từ Tý đến Hợi).

Một ngày đêm âm lịch là 12 giờ (2 tiếng đồng hồ là một giờ), bắt đầu là giờ Tý (chính Tý là 12 glờ đêm) theo thứ tự: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Mỗi câu lục bát sau đây có 14 chữ: Hai chữ đầu chỉ 2 ngày, chữ thứ 3 chỉ giờ Tý, chữ thứ 4 chỉ giờ Sửu, lần lượt theo thứ tự từ chữ thứ 3 đến chữ thứ 14 chỉ từ giờ Tý, Sửu, Dần, Mão... Xem trong bảng, thấy giờ nào có phụ âm đầu là chữ "d1' thì đó là giờ hoàng đạo. Phân tích tỷ mỉ hơn, đó là các giờ: Thanh long, Minh đường, Kim đường, Thiên lương, Ngọc đường, Tư mệnh.

Mỗi người khi sinh ra lại mang tính cách, vận mệnh khác nhau. Tuy nhiên, nếu sinh vào những ngày này theo âm lịch, đảm bảo luôn được phúc khí bao bọc cả đời, cuộc sống thanh nhàn, dư dả.
  
 
Xem bói ngày sinh, những người sinh vào các ngày âm lịch dưới đây có số may mắn, hưởng phúc khí trời ban, sớm công thành danh toại, phát tài phát lộc, trung niên đã nhàn hạ, sung sướng.
 

1. Người sinh ngày mùng 3 và 15 âm lịch

 
Xét về góc độ tử vi số mệnh, những người sinh vào ngày mùng 3 và 15 âm lịch vốn được thượng đế phát xuống để trở thành quý nhân của người khác. 
 
Ai sinh vào 2 ngày này được trời ban nhiều phúc khí và may mắn. Đa phần trong số họ không những có khả năng làm giàu cho bản thân mình mà còn là “bùa may mắn” cho những người xung quanh. Đa số những người này đều có khả năng lãnh đạo và có hào quang chiếu sáng.
 
Từ nhỏ tới khi trưởng thành, người sinh ngày mùng 3 và 15 âm lịch đều gặp được nhiều quý nhân phù trợ, tạo điều kiện để đạt được những điều tốt đẹp.
 
Theo lịch vạn niên, bước qua ngưỡng tuổi 30, cuộc đời của họ như bước sang một giai đoạn mới hoàng kim và rực rỡ hơn. Mọi phương diện bao gồm cả sự nghiệp, hôn nhân đến tài vận đều rất suôn sẻ và thuận lợi. Làm gì cũng được các vị thần may mắn che chở, hậu vận đầy đủ sung túc khiến ai cũng ngưỡng mộ.

Xem ngay sinh cho nguoi sinh vao ngay 6 va 9 am lich
 
 

2. Người sinh ngày 6 và 9 âm lịch

 
Xem bói ngày sinh cho người sinh vào ngày 6 và ngày 9 âm lịch, bản thân những người này mang lại vô vàn những may mắn và điều tốt đẹp đến cho gia đình. 
 
Trời sinh những người này có tính cách hiền lành, biết suy nghĩ, thấu đáo và coi trọng nghĩa khí. Họ vốn dĩ không phải là người tham vọng nhưng lại được hưởng nhiều hơn cái mình muốn.
 
Đặc điểm nổi bật của những người sinh vào các ngày này là sống thuận theo tự nhiên. Họ tâm niệm rằng chỉ cần làm tốt việc của mình thì không việc gì phải lo sợ.
 
Xem tử vi con giáp cho thấy, sau 30 tuổi, cuộc sống của họ như một bước lên mây, hoàn toàn thăng hoa rực rỡ. Đến đại vận 40 tuổi, tài vận khắp nơi đổ về, giúp họ có được khối gia sản tuyệt vời, khiến bao người phải trầm trồ khen ngợi. 
 
Bước vào tuổi 50 chính là thời điểm mà họ có đầy đủ quyền lực và hoàn toàn có thể tận hưởng cuộc sống giàu sang phú quý.

Ngược lại với ngày sinh phú quý, có xem bói ngày sinh âm lịch khiến cuộc đời nàng giáp dễ lận đận, long đong, bạn có rơi vào trường hợp này không?

Xem boi ngay sinh am lich
 
 

3. Người sinh ngày 21 âm lịch

 
Xem bói ngày sinh cho người sinh vào ngày 21 âm lịch cho thấy, những người này sự thu hút, sức hấp dẫn đặc biệt mà ít ai có được.
 
Trời sinh họ vốn đã thông minh, lanh lợi và sống rất tình cảm. Họ có thể không được sinh ra trong gia đình giàu có, sung túc ngay từ đầu, nhưng lại là người có khả năng tạo dựng cuộc sống giàu sang, phú quý.
 
Đa phần người sinh vào ngày này có khí chất mạnh mẽ, bản lĩnh và sẵn sàng chuẩn bị tinh thần để đối mặt với những khó khăn, thử thách.
 
Đặc biệt khi bước vào giai đoạn từ 30 trở lên, những người này sẽ xây dựng được cơ ngơi vững chắc, kinh doanh gì thì cũng thu được nhiều lợi nhuận, sự nghiệp thăng hoa đến không ngờ.
 
Cứ sau 10 năm, họ lại đạt được thành quả ngoài mong đợi. Không những thế, đời sống tình cảm, cuộc sống gia đình lại an yên hạnh phúc, ước gì được nấy, nửa đời còn lại toàn gặp những điều tốt đẹp và may mắn.
 
*Thông tin mang tính tham khảo!

Ngày sát chủ 
Bài thơ để nhớ về ngày Sát Chủ như sau: 
Giêng Rắn, hai Chuột, ba Dê nằm.
Bốn Mèo, sáu Chó, Khỉ tháng năm.
Bảy Trâu, chin Ngựa, tám Heo nái .
Một Cọp, mười Gà, chạp Rồng xâm.

Nghĩa là : 
Trong tháng Giêng vào ngày Tỵ ( Rắn) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Hai vào ngày Tý ( Chuột) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Ba vào ngày Mùi ( Dê ) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Tư vào ngày Mão ( Mèo) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Năm vào ngày Thân ( Khỉ) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Sáu vào ngày Tuất ( Chó ) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Bảy vào ngày Sửu ( Trâu ) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Tám vào ngày Hợi ( Lợn ) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Chín vào ngày Ngọ ( Ngựa) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Mười vào ngày Dậu ( Gà ) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Mười Một vào ngày Dần ( Hổ - Cọp) là ngày Sát Chủ 
Trong tháng Mười Hai vào ngày Thìn ( Rồng) là ngày Sát Chủ 

Khi muốn xem ngày giờ tốt để làm việc gì quan trọng lớn lao, người xem ngày phải trước tiên loại ra ngày Sát Chủ vì ác tính của vị thần này. 
Đối chiếu phép xem ngày trong Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, thì những ngày Sát Chủ hầu như đều có nhiều hung ác tinh, nên không thể lấy dùng vào việc.
Sự tích về thần Sát Chủ : 
Xưa, có bốn vị đạo gia tu luyện phép tiên. Một ngày kia đắc đạo đều trở thành tiên, tên hiệu lần lượt là Tế Công nhất Tiên, Bán Hạ nhị Tiên, Thất Chiêu tam Tiên và Mai Thanh tứ Tiên. Trải qua một thời gian sau đó, bốn bị tiên gia được lên cõi Đâu Suất để tu tập Phật Pháp. Trong số bốn vị thì Mai Thanh tứ Tiên là người ít tuổi nhất vẫn ham cảnh vui thú đời thường, nên đối với việc học tập kinh chú, luyện pháp Phật có phần trễ nải. 
Đối với Phật Pháp có bát giới ( tám điều răn ) là : 
1.Không sát sanh
2.Không trộm cướp
3.Không tà dâm
4.Không nói bậy
5.Không uống rượu
6.Không ngồi giường cao
7.Không mang đồ vàng, trang sức đẹp tốt
8.Không tập múa hát vui vẻ.

Mai Thanh tứ Tiên đã cố gắng tránh được 7 điều, duy có việc không được uống rượu là không làm sao khắc phục nổi. Vì vậy được Đức Phật đặt cho pháp danh là Bát Giới Thượng Tiên, mục đích là nghe đến tên phải nghĩ tới tám điều mà tu chỉnh bản thân, mới mong việc tu tập đắc thành quả.

Tuy nhiên chứng nào tật nấy không thay đổi, cho nên Bát Giới Thượng Tiên vẫn không có được kết quả gì. Trong khi các vị huynh trưởng đã được đắc đạo tiếp tục tu luyện lên cao. Điểm xấu của Bát Giới Thượng Tiên là một khi uống rượu say thì nổi ác tính, rất háo sát, ít người can ngăn được. Vì thế, giới tiên đều xa lánh ngại tiếp xúc và đặt thêm cho cái tên là : Sát Giới Thượng Tiên.

Đức Phật thấy tính khí con người này chưa được thuần hậu, khó tu thành chính quả bèn điều Sát Giới Thượng Tiên về làm Thiên binh Thiên Tướng dưới sự quản chế của Na Tra Thái Tử Đại Vương, mong rằng tính nết ham mê rượu nhờ kỷ cương quân pháp mà chấm dứt. Khi có sự giác ngộ, thay đổi bản tính thì cho phép quay về tiếp tục tu tập đạo pháp.

Sát giới Thượng Tiên được giao thống lĩnh 5 vạn Thiên binh. Nhiệm vụ tuần tiễu vào hai ngày nhất định trong tháng (như ở trong cách tỉnh đã nêu trên). Khi không "ma men" khuấy đảo thì Sát giới Thượng tiên quân pháp rất chặt chẽ, thưởng phạt nghiêm minh, khiến binh lính dưới quyền đều nể phục. Nhưng khi "Tửu nhập ngôn xuất" thì hành động hồ đồ, ác tính nổi lên. Thấy điều gì ngang tai trái mắt không vừa lòng là ra tay sát phạt, bất kể hay dở. Chính vì thế ngày mà có vị này đi tuần tra thường hay sinh ra những việc tai bay vạ gió bất ngờ. Người phàm trần nếu làm những việc gì quan trọng như động thổ, cất nóc, cưới hỏi, an táng … nhằm vào ngày này là khó bề thuận lợi, hay phát sinh tai ương họa hại, chuốc lấy rủi ro. Vì lẽ đó mà Sát Giới Thượng Tiên lại được xem như là ôn thần, gọi là 
Thần Sát Chủ. Ngày Nguyệt kỵ 
Ngày Nguyệt kỵ là những ngày nhất thiết phải kiêng kỵ trong tháng. 
Mỗi tháng có ba ngày là các ngày : ngày mồng 5, ngày 14 và ngày 23. 
Trong ba ngày này nhiều sự kỵ dụng như : Làm nhà, Cưới gả, Ăn hỏi, Tậu đất, Mua bán những thứ có giá trị lớn, Xuất hành đi xa ( du lịch, công tác đột xuất, thăm viếng thân nhân,…); Đổ trần, cất nóc; Động thổ; An táng; Tôn tượng hô thần; Trình đồng mở phủ; Lập điện thờ Phật, Thần; Cúng bái tế lễ, lập đàn cầu siêu, giải oan, giải hạn…. 

Tóm lại là 
ngày xấu đối với những việc có tính chất dị thường, quan trọng, khác biệt so với những công việc thường ngày. Chẳng hạn thường ngày vẫn đi làm, đi chợ, đi học, đi làm thuê …gọi là việc thường nhật, thì những ngày trên không phải kiêng kỵ. Nếu bỗng dưng khác đi, cần phải đi mua sắm xe máy mới, ô tô mới, vậy đó là việc có tính chất dị thường, quan trọng ( vì chiếc xe là tài sản cố định có giá trị, gắn bó lâu dài với người sử dụng, mục đích phục vụ cuộc sống chất lượng hơn.). Hoặc tích lũy được số tiền lớn qua bao tháng, năm cần cù lao động, đến một ngày nào đó tính đến việc mua tậu đất đai để xây dựng nhà cửa. Vậy sự việc đó mang tính chất dị thường, quan trọng. Hoặc gia đình đang yên vui, bỗng dưng xảy ra việc có người nhà đột quỵ, thiên thu vĩnh biệt, vậy cũng hiểu như trên. 

Nói chung ai cũng biết ba ngày này nhưng tại sao lại phải kiêng khem như vậy thì không có ai hiểu rõ chân tướng. Nay trình bày cho mọi người được biết : 
Ngày mồng 5 . Ngày 14 ( 1+4 = 5) . Ngày 23 ( 2+3=5) tất cả đều hiển thị con số 5.
Từ ngày mồng 5 đến ngày 14 cách nhau 9 ngày. Từ ngày 14 đến ngày 23 cũng cách nhau đúng 9 ngày. Ta thấy đều biểu thị con số 9. 
Số 5 là con số của Thổ ( Địa ) gọi là Ngũ Hoàng trung thổ, sức mạnh vĩ đại thâm sâu, dịu dàng nhân ái bao dung như tấm lòng người mẹ ( Địa Mẫu).
Số 9 là con số của Bát Quái Cửu Cung, chính là bầu trời thái cực, sức mạnh khôn lường, biến hóa vô biên, quyền lực tối cao tối thượng, uy nghi lẫm liệt, nghiêm nghị hiên ngang như đức tính người cha ( Thiên Phụ ) .

Những ngày này Thiên Địa tương thông ( Thiên Địa thông giao) . Đại Hội Đồng Tiên Thánh ban sắc lệnh : “Chư vị Tiên gia, chư vị Thánh Thần phải bế cung tu luyện đạo pháp”. 
Lại truyền khẩu dụ xuống dưới sai Thiên Thương Nguyệt Sát Thị Đẳng Thần là Thiên binh Thiên tướng thống lĩnh 50 vạn Thiên binh nghiêm trì luật giới. Bất cứ kẻ nào dám phạm luật đều bị nghiêm trị. 
Vì lý do đó mà các ty, quận, ban, sở …thuộc thế giới Thần Thông không được phép tiếp nhận giải quyết các tấu sớ trình, văn khấn báo và những hành động bất thường khác có liên quan đến sự phải chú ý, phải bảo vệ của Thánh Thần hoặc gia tiên tiền tổ…. Vì thế mới có sự kiêng kỵ như đã nêu trên . Một khi phạm kỵ tất nhiên sẽ phải chuốc lấy tai ương, rủi ro, hoạn nạn, không thể toại ý sở
Ngày Tam Nương ( Tam Ma Nhật Kỵ) 

Dân gian lưu truyền ngày Tam Nương mồng 3, mồng 7, 13 – 18, 22 – 27 tổng cộng sáu ngày.
Lại còn có bài thơ kể rằng :
“Mồng Ba, mồng bảy tránh xa
Mười ba, mười tám cũng là không hay
Hăm hai, hăm bảy sáu ngày
Là Tam Nương sát họa tai khôn lường


Vào những ngày kể trên thì tất cả mọi công việc được coi là thành quả hoặc sẽ   mang lại thành quả, sự vận động mang tính chất khác thường, … đều không nên tiến hành khởi sự vì sẽ bị phá hỏng, chuốc lấy rủi ro, tai ương, hoạn nạn bất ngờ, vận xui rủi, tai họa rình rập nguy hiểm….mức độ ảnh hưởng tác động còn mạnh hơn cả ngày Nguyệt kỵ.

Sự kiêng kỵ cũng giống như đối với ngày Nguyệt kỵ : Không tổ chức ăn hỏi, đám cưới, an táng, động thổ, cất nóc, đổ trần nhà, đào ao, mua súc vật về chăn nuôi, tế lễ cầu siêu, chiêu an giải hạn, lập điện thờ Phật Thần, hô thần nhập tượng, đi lễ đền chùa ( đi xa), xuất hành ( đi du lịch nước ngoài, đi công tác nước ngoài để ký kết hợp đồng, đi thăm thân nhân…). Khai trương cửa hàng, nhà hàng, siêu thị…, cho vay cho mượn,…

Nguồn gốc của chuyện này như sau: 
Xưa, thuở ấy con người phàm tục và những vị Phật, Tiên gia, Thánh, Thần có nhiều điều kiện tiếp xúc gặp gỡ, khó phân biệt thân phận. Trong một cơ duyên   của trời đất, có ba người con gái được học thần thông mà tu luyện đắc đạo thành Thần, có phép biến hóa. Cả ba người đều cùng chọn một ngọn núi lớn để   tiếp tục hành trình tu học phép Tiên trong thời gian 3 năm . Tình cờ một ngày đều gặp nhau khi đi lấy nước, hỏi han một hồi biết là cùng đồng đạo thì hoan hỉ lắm, bèn rủ nhau tập hợp lại để việc rèn luyện nhanh chóng và giúp đỡ nhau   cho khỏi cô quạnh.

Vì việc bế cung tu luyện phải lâu dài, mà việc ăn uống không thể nào bỏ mặc. Nên phân chia nhau ra mỗi người đi kiếm thức ăn một lượt. Thượng tuần mồng 3. mồng 7. Trung tuần 13 , 18 . Hạ tuần 22, 27 . ( Trong thế giới Thần Thông không chia tháng ra bốn tuần như người cõi trần mà chia ra ba tuần, mỗi tuần có 10 ngày. Thượng tuần từ mồng 1 đến mồng 10. Trung tuần từ 11 đến ngày 20. Hạ tuần từ ngày 21 đến ngày 30).

Người đầu tiên được cử đi vào ngày mồng 3 và mồng 7 của thượng tuần . Sau khi xin được các đồ chay tịnh, trái quả, trên đường mang về thấy một nơi có nhiều chim bay, đậu thì không kềm chế được sự thèm thuồng, bèn tìm cách bắt được mấy con đem vặt lông nướng thơm đánh chén no say. Đương nhiên khi về đến động thất, giấu lẹm hai người kia việc đó.

Người thứ hai được cử đi vào ngày 13,18 của trung tuần. Sau khi xin được các đồ chay tịnh, trái quả, trên đường về qua một nơi thấy có nhiều hang rắn, nhiều loài rắn to nhỏ sinh sống, cũng không kềm chế được sự thích thú, bèn tìm cách đánh bắt vài con đem nướng chin, ngồi thảnh thơi đánh chén. Đương nhiên khi về đến động thất cũng tuyệt nhiên không kể gì thêm.

Người thứ ba được cử đi vào ngày 22, 27 hạ tuần. Sau khi xin được các đồ ăn thức uống chay tịnh thì trên đường về, qua một nơi thấy có rất nhiều loài Dúi sinh sống , bèn bắt mấy con đem nướng thơm lừng rồi ngồi đánh chén. Đương nhiên khi về cũng không nói chuyện cho ai hay.

Trải qua thời gian, đã gần 3 năm cứ diễn biến như vậy. Một hôm có người thợ săn sống ở gần ngọn núi đó đi săn bắn, tình cờ bắt gặp người đàn bà đi như bay trên mặt đất đuổi theo lũ chim mà bắt giết, nướng ăn thịt thì lấy làm lạ lắm. Bèn bí mật theo dõi, biết được sự việc của ba người nữ đang tu luyện phép tiên, về kể lại cho Sơn Thần Thổ Địa nghe chuyện. Thổ Địa bất bình lên tấu trình Thiên Quan. Thiên Quan lại bẩm tấu lên Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng nổi   giận sai Thiên Binh, Thiên Tướng lập tức xuống bắt ngay ba người nữ kia về trị tội, giáng xuống đầu thai làm loài Ngạ Quỷ.

Nhờ có chút bản lĩnh mà bọn họ đều trở thành quỷ tướng trong thế giới Quỷ. Nhưng trí nhớ thì đã bị lãng quên do ăn canh Cháo Lú, trong tiềm thức chỉ còn lờ mờ ký ức về những ngày lạ lùng trong tháng là mồng 3, mồng 7, 13-18, 22-27. Mỗi khi đến những ngày đó thì ma tính nổi lên rất mạnh, điên cuồng. Bèn sai bọn lâu la thuộc hạ dưới quyền cùng đi theo để phá phách gây hại, gieo rắc tai bay vạ gió cho muôn người, muôn nhà. Vì thế mà ngày này có tên là ngày Tam Nương hay là ngày Tam Ma nhật kỵ.
cầu. Không Phòng kỵ giá thú 
Trong việc xem ngày cưới, ngày Không Phòng được đặt lên hàng đầu trong việc loại trừ các ngày được coi là bất lợi cho hôn thú. Ngày này có một bài thơ để cho dễ nhớ như sau : 
Xuân : Long - Xà - Thử kỵ Không Phòng 
Hạ : Khuyển - Chư - Dương phá bại vong
Thu : Mã - Thỏ - Dần vô nghi dụng 
Đông : Kê - Hầu - Sửu kết hôn hung 

Giảng nghĩa : 
Vào mùa Xuân, tức là vào các tháng Giêng, Hai, Ba ( tháng Dần, tháng Mão, thángThìn ) những ngày là Thìn ( Long), Tỵ ( Xà), Tý ( Thử ) là ngày Không Phòng.

Vào mùa Hạ, tức là vào các tháng Bốn, Năm, Sáu ( tháng Tỵ, tháng Ngọ, tháng Mùi) những ngày là Tuất ( Khuyển ), Hợi ( Chư), Mùi ( Dương ) là ngày Không Phòng.

Vào mùa Thu, tức là vào các tháng Bảy, Tám, Chín ( tháng Thân, tháng Dậu, tháng Tuất) những ngày là Ngọ ( Mã), Mão ( Thỏ) , Dần là ngày Không Phòng 

Vào mùa Đông, tức là vào các tháng Mười, Mười Một, Mười Hai ( tháng Hợi, tháng Tý, tháng Sửu) những ngày là Dậu ( Kê), Thân ( Hầu ), Sửu là ngày Không Phòng. 

Kết hôn vào ngày Không Phòng chủ việc cô đơn, bất lợi, không hạnh phúc lâu dài. Cuộc sống gia đình hay trục trặc dễ đổ vỡ. Hôn nhân không được thuận lợi. 
Đây chỉ kỵ việc kết hôn, việc ăn hỏi không kỵ.

Nguồn gốc sự tích ngày Không Phòng như sau: 
Xưa, có vị tiên gia tên hiệu Không Phòng Hôn Thú Thị Đẳng Thần là một trong số những thuộc hạ dưới quyền của Đức Nguyệt Lão Nhân Duyên Phu Thê Tử Tôn Tác Hợp. Được giao nhiệm vụ tra cứu sổ sách duyên nghiệp, tác hợp nhân duyên cho chúng sanh bá tánh nơi cõi trần. Vì tình cờ gặp gỡ mà thân quen với một tiên nữ có tên là Lan Tiên - thị nữ của Hằng Nga Tiên Nữ, ở cung Quảng Hàn. 

Trải qua thời gian biến đổi, nam nữ tình thân, phát sinh mối quan hệ tình cảm yêu thương tha thiết. Tuy nhiên, luật của thế giới thần thông đối với Tiên, Thần là không được phép có ái tình nhục dục, không được yêu đương, tình cảm nam nữ không được vượt quá giới hạn tình bạn.

Hai người bàn tính việc bỏ trốn xuống trần gian. Sự việc bị bại lộ, Lan Tiên bị giáng xuống làm phàm nhân, đầu thai vào cõi Nhân làm người, vĩnh viễn không được trở lại Tiên giới. Không Phòng Hôn Thú Thị Đẳng Thần bị bãi miễn chức vụ, bắt giam 100 ngày rồi sau khi thụ hình giáng xuống làm người trông coi vườn Thượng Uyển ở cung Đâu Suất.
Mặc dù phải chịu hậu quả do làm trái Thiên Quy, nhưng Không Phòng vẫn không hề hối tiếc. Trong tâm trí của chàng, hình ảnh nàng Lan Tiên xinh tươi, dịu dàng, đằm thắm lúc nào cũng hiển hiện không phai mờ. Xa cách ngàn trùng, nỗi bi ai chán chường, buồn phiền vô hạn. Chàng Không Phòng giờ đây không còn thanh tao, đạo mạo như xưa nữa. Mái tóc chàng nửa thì đen, nửa thì trắng, lại dài đến tận thắt lưng. Một khuôn mặt ưu tư, khắc khổ, âu sầu, đôi mắt chỉ toát lên nỗi nhớ nhung và tiếc thương khôn tả. Khoác trên người chiếc áo choàng dài màu xám, bộ dạng của chàng đáng thương tới mức Thần Tiên gặp mặt cũng buồn lây, Ma, Quỷ trông thấy cũng hờn dỗi.

Mỗi khi nhớ đến Lan Tiên, chàng xin phép đi ngao du nơi trần gian . Mục đích là xuống cõi trần để tìm gặp lại một lần bạn tâm tình xưa cũ. Nhưng Lan Tiên đã bị giáng đầu thai làm người phàm , giờ đây dung mạo và hoàn cảnh đã đổi khác, biết tìm ở nơi đâu?
Chàng nhìn thấy trong những đám cưới , cô dâu nào cũng xinh đẹp như là tiên nữ giáng trần. Chàng tự hỏi: “Biết đâu trong số đó chính là Lan Tiên? “
Thôi thì nhầm còn hơn bỏ sót, chàng liền dùng cây gậy Bạch Trúc chỉ vào cô dâu, chú dể mà niệm thần chú, khiến cho người con gái nọ phải thay lòng, người con trai kia phải đổi dạ, để họ không thể có được sự tâm đầu ý hợp, hòa đồng, hạnh phúc, để không ai có thể cướp đi người trong mộng của chàng.

Từ đó, cứ vào 3 ngày cố định của bốn mùa, chàng Không Phòng lại xuống cõi nhân gian kiếm tìm trong hy vọng. Gây ra cho chúng sanh biết bao nhiêu hậu quả nhân duyên trái ngang.


Xem tuổi làm nhà


Xem ngày làm nhà - Cửu trạch – Kim lâu – Hoang ốc – Tam tai - Mượn tuổi - Động thổ - Thượng lương - Lễ động thổ
 Thông thường công trình nào khởi công được chọn lựa ngày giờ, tuổi tác và xem xét cẩn thận tâm linh, phong thuỷ thì được bền vững với thời gian, chủ nhà được vinh hoa phú quý, Ngũ đại đồng đường. Ngược lại những công trình không chuẩn bị chu đáo những việc trên thường bị thiên tai, địch hoạ, nhanh chóng bị hỏng, không có người ở, chủ nhân gặp bất hạnh rủi ro, kinh doanh không hiệu quả  v.v.
Do đó khi các bạn muốn khởi công nhà ở, biệt thự, khách sạn, văn phòng, ngân hàng, chung cư, khu resort v.v. nên theo thứ tự những lựa chọn sau thì sẽ được vạn sự như ý.
1-    Chọn cửu trạch:
  Gồm có 9 Trạch :
-Trạch Phúc, cát
-Trạch Đức,  cát
-Trạch Bại,   hung
-Trạch Hư,   hung
-Trạch Khốc, hung
-Trạch Quỷ, hung
-Trạch Tử,   hung
-Trạch Bảo, cát
-Trạch Lộc, cát
Cách tính Cửu trạch như sau:
 10 tuổi Trạch Phúc, 11 tuổi Trạch Đức, 12 tuổi Trạch bại, 13 tuổi Trạch Hư, 14 tuổi Trạch Khốc, 15 tuổi Trạch Quỷ, 16 tuổi Trạch Tử, 17 tuổi Trạch Bảo an, 18 tuổi Trạch Lộc cứ như thế tính đi.
2- Tránh Kim lâu:
-Kim lâu Gia trưởng, hung
-Kim lâu Thê tài, hung
-Kim lâu Tử tôn, hung
-Kim lâu Lục súc, hung
Cách tính Kim lâu:
Kim lâu bàng ách khởi Khôn cung
Thường liên đáo ngũ nhập trung cung
Khảm – Ly - Chấn – Đoài vi thượng cát
Càn – Khôn - Cấn - Tốn thị vi hung.
3- Tránh hoang ốc:
-Nhất Cát, cát
-Nhị Nghi, cát
-Tam địa sát, hung
-Tứ Tấn tài, cát
-Ngũ Thụ Tử, hung
-Lục Hoang ốc, hung
Cách tính hoang ốc:
13 tuổi Nhất cát, 14 tuổi Nhị nghi, 15 tuổi Tam địa sát, 16 tuổi Tứ Tấn tài, 17 tuổi Ngũ Thụ tử, 18 tuổi Lục hoang ốc cứ thế mà tính tiếp.
4- Tránh Tam tai:
-Tam tai đầu tổn tài
-Tam tai giữa tổn lục súc
-Tam tai cuối tổn nhân khẩu
Cách tính Tam tai:
-Tuổi Thân, Tí, Thìn vào năm Dần, Mão, Thìn
-Tuổi Tị, Dậu, Sửu vào năm Hợi, Tí, Sửu
-Tuổi Hợi, Mão, Mùi vào năm Tị, Ngọ, Mùi
-Tuổi Dần, Ngọ, Tuất vào năm Thân, Dậu, Tuất
5-Tránh chủ nhân: đang vận khăn xám, Vợ đang mang thai thì không được động thổ, cất nóc, đổ bê tông mái nhà, dọn phòng, khai trương.
6- Liên quan sao chiếu mệnh:
 Khi chủ nhà gặp hạn sao xấu vẫn có thể động thổ trạch nếu xem những yêu cầu trên đều được, nhưng phải chú ý:
Hạn sao Thái bạch nên làm sau tháng 5 âm lịch
Hạn sao La hầu nên làm sau tháng 7 âm lịch
Hạn sao Thái âm nên làm sau thánh 8 âm lịch
Hạn sao Kế đô nên làm sau tháng 9 âm lịch
Hạn sao Thuỷ diệu nên làm sau tháng 10 âm lịch
7- Mượn tuổi:
 Khi làm nhà thì phải chính chủ mới tốt, nếu không được tuổi mà phải mượn tuổi là bất đắc dĩ. Những trạch xấu ít thì còn có tác dụng, nếu gặp trạch quá xấu thì chỉ giải được 1 phần thôi. Nhiều người mượn tuổi làm nhà, làm xong nhà lễ xin chuộc lại ngay là không có tác dụng. Đã không được tuổi làm nhà thì làm sao được tuổi mà chuộc nhà ( như mua nhà)?
 Nếu trong hoàn cảnh bắt buộc phải làm thì phải tìm Thầy giỏi có kinh nghiệm để hạn chế rủi ro.
8- Động thổ:  Gọi là phép điểm Long
 Dùng Cuốc là tốt nhất, đứng theo hướng quy định rồi cuốc vào trong nhà mỗi nơi 5 nhát theo thứ tự: Gồm 4 tứ duy + 4 tứ chính + trung cung
Tổng cộng là 45 nhát.
Phép điểm Long: phải dựa vào thời điểm khởi công mới tầm được Huyệt đạo của Long.
 Ví dụ : Tháng giêng thì lục Càn Long Phúc,tứ Tốn Long Bối,  nhị Khôn Long Đầu,  bát Cấn Long Túc, tam Chấn Long Nhĩ, thất Đoài Long Tỷ, cửu Ly Long Mục, nhất Khảm Long Vĩ, ngũ Trung cung Long Tề ..cứ thế suy ra.
9-Thượng lương - Cất nóc - Đổ bê tông mái nhà - dọn nhà mới –  lễ tân gia - trấn trạch - bồi hoàn long mạch v.v. đều xem như trên.
 Tuỳ thời gian làm để biết khi thượng lương hay đổ bê tông mái nhà, chủ nhà sẽ đứng vị trí nào? quay mặt về đâu? đổ bao nhiêu xô bê tông? hoặc cất nóc nhà ra sao?
10- Chuẩn bị khoa lễ:
-  Hương hoa, ngũ quả, chè hoa cau, oản, trầu cau, trà, thuốc, bánh kẹo.
- Xôi gà, thịt luộc, 5 quả trứng gà sống gói giấy trang kim 5 màu, 2 quả trứng vịt sống gói giấy trang kim màu trắng và xanh, 3 chai rượu con.
-Tiền vàng các loại.
- Năm Ngựa 5 màu, đủ roi cờ kiếm hài mũ quần áo.
- Mũ, áo, hài quan Thổ công.
- Ngựa, Voi, Rắn, Rùa đều màu vàng.
-Tiền tào quan 5 lễ.
- Vàng hoa 5 màu 5 hộp.
- 1 cốc nước ngũ vị hương.
- 12 con chim, 1 mớ cá trạch, 1 rổ ốc con, Cua, Ếch v.v.
- 100 bộ quần áo chúng sinh, cháo, nẻ, muối, gạo, khoai, sắn, bỏng, bánh đa .v.v. 1 bát nước to.
-  10 ngọn nến 5 màu .
- Quần ,áo, hài, mũ, nón, giày, dép, cho Ông Bà tiền Chủ, Bà chúa Đất, Thần Tài.v.v.
11- Sớ Thổ công:
Chí thành khả cách nam danh cảm ứng chi huyền cơ khắc kính dĩ thân liêu ngụ tinh thần chi tố khổn phàm tâm khẩn đảo tuệ nhãn chứng minh viên hữu
Việt Nam quốc ................
Thượng phụng
Phật thánh hiến cúng........    Thiên tiến lễ động thổ trạch (tân gia, trấn trạch)v.v
Giải hạn tống ách trừ tai khất cầu gia nội bình an lộc tài vượng tiến diên thọ sự kim thần tín chủ...........
Thiết khủng phương ngung cấm kỵ hoặc do phạm cửu dĩ nan thông cư xử hành tàng mạc thức cát hung chi sám tạ tư phùng lệ
.........Tiết bái đảo cầu an giải nhất thiên tai ương nhạ hà sa cát khánh do thị kim nguyệt cát nhật
Tu thiết nhang hoa kim ngân đầu thành ngũ thể tịnh tín nhất tâm cụ hữu sớ văn chí tâm
Thượng tấu
Cung duy
Bản xứ thổ công địa chủ ngũ phương vạn phúc phu nhân
Vị tiền
Bản xứ thổ công địa chủ ngũ phương vạn phúc phu nhân
Vị tiền
Bản gia đông trù tư mệnh tảo phủ thần quân
Vị tiền
Bản xứ thổ địa phúc đức chính thần
Vị tiền
Ngũ phương long mạch tiền chủ tiếp dẫn tài thần
Vị tiền cúng vọng
Tôn thần
Đổng thuỳ
Chiếu giám
Phục nguyện
Thần vị trấn phương ngung quyền chi chiêu tịch linh thông hữu hách át phục thi cố  khí nhi khẳng sử bằng lăng chính trực vô tư ngoại đạo yêu tà quỷ bất dung tiệp đột hoàng thi âm lực tĩnh chấn dương môn sở cư chi nam bắc tây đông vô ngu thử thiết khuyết xư chi
Bạch điêu nam nữ hàm toại tiến an đản thần hạ tình vô nhậm khích thiết bỉnh dinh chi chí cẩn sớ.


Thiên vận:  niên .... nguyệt......(ngày, tháng,năm).


Ngày tam nương


Ngày tam nương (tam nương nhật ) theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc là những ngày rất xấu. Do đó, mỗi khi khởi sự làm một việc quan trọng (như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, sửa chữa hay cất nhà, v.v...) để khỏi chuốc lấy thất bại, phải tránh khởi sự vào các ngày tam nương, gồm ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, và 27 trong mỗi tháng Âm lịch.
Tam nương là “ba người đàn bà”. Theo dân gian Trung Quốc, tam nương gồm ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự. Hầu hết sách sử Trung Quốc đều kết tội ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại Hạ, Thương, Tây Chu trước Công nguyên (TCN). Các sử gia đều phỏng chừng ba sự kiện “tan nhà đổ nước” này lần lượt xảy ra trong các năm như sau:
1. Muội Hỉ mê hoặc vua Kiệt (tức Lý Quý , cai trị? - 1600 TCN), làm sụp đổ nhà Hạ (khoảng 2100 TCN - 1600 TCN).
2. Đát Kỷ (người Việt quen gọi Đắc Kỷ) mê hoặc vua Trụ (tức Đế Tân , cai trị khoảng 1154 TCN - 1066 TCN), làm sụp đổ nhà Thương (khoảng 1600 TCN - 1066 TCN). Huyền thoại đề quyết nàng Đát Kỷ là con cáo cái thành tinh (hồ ly tinh), có phép hoá ra mỹ nhân.
3. Bao Tự (?-771 TCN) mê hoặc vua U vương (tức Cơ Cung Niết , cai trị 781 TCN – 771 TCN), làm sụp đổ nhà Tây Chu (khoảng 1066 TCN - 771 TCN). Vua U vương chưa bao giờ thấy Bao Tự cười, ra lệnh ai làm cho nàng cười sẽ được thưởng ngàn lạng vàng. Nàng thích nghe tiếng lụa bị xé, vua U vương cho xé lụa ngày đêm để nàng vui, thậm chí còn cho đốt lửa trên các hoả đài để đánh lừa các chư hầu đem quân về cứu Thiên tử nhà Chu (vua U vương).
Bao Tự đứng trên lầu cao, nhìn cảnh chư hầu mắc lỡm, cười ngặt nghẽo. Hậu quả, khi bị quân Khuyển Nhung vây khốn nguy ngập, vua U vương cho đốt lửa trên hoả đài thì các chư hầu không thèm về cứu vì đinh ninh đó là trò lừa bịp cốt làm vui lòng người đẹp.
Theo dân gian Trung Quốc, ngày tam nương là ngày ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ, Bao Tự được đưa vào nội cung của ba ông vua bị mang tiếng là rất hiếu sắc, tham dâm, bạo ngược vô đạo nói trên. Nhưng vì sao chỉ có ba nàng mà lại kể ra sáu ngày nhập cung? Ngày nào liên quan tới nàng nào? Xưa nay chẳng thấy ai giải thích!
Dù là truyền thuyết, hoang tưởng nhưng tín ngưỡng dân gian lâu đời này đã truyền từ Trung Quốc sang Việt Nam, ảnh hưởng tới không ít quần chúng xưa nay. Thiếu cơ sở khoa học, thiếu bằng chứng xác thực nhưng thói thường vẫn cho rằng “có kiêng có lành”!


Tục chọn ngày giờ


Khi xã hội có giai cấp xuất hiện, con người cổ sơ cũng chưa thể nào hiểu nổi: tại sao thân phận từng người khác nhau? Kẻ đàn áp, bóc lột, độc ác, tàn bạo được hưởng phú quý, người nô lệ chịu cảnh khốn khổ bần cùng, các tập đoàn người gây còn gây chiến tranh tàn phá lẫn nhau, bao nhiêu cảnh đau thương chết chóc bất ngờ ập tới...?
Không giải thích nổi, họ đành quy mọi mối vào tạo hoá. Tạo hoá theo quan niệm thời nay là mọi thiên thể trong vũ trụ, là môi trường thiên nhiên và xã hội, nhưng theo quan niệm xưa là các lực lượng siêu nhiên, là ông trời là cả một loạt thiên thần ác quỷ hoặc một vùng phân dã dưới bầu trời. Trời ban phúc cho ai, người ấy được cai trị kẻ dưới, trời gieo tai vạ cho ai người ấy phải chịu. Bao nhiêu bất công trong đời chỉ biết van trời.
Do bản năng sinh tồn, con người phải tìm lẽ sống, tìm cách duy trì và phát triển nòi giống, vươn lên làm chủ muôn vật trên trái đất. Nhu cầu được thu hái sản phẩm, ăn no, mặc ấm, được ở yên, được đi lại bình yên, chống đỡ được bệnh tật tai hoạ là những nhu cầu cơ bản thuộc bản năng sinh vật. Tâm lý chung của xã hội loài người: tìm điều lành tránh điều dữ, xuất phát chung của các loại hình tôn giáo, các loại hình bói toán và các thuật chọn ngày giờ lành dữ.
Có ngày tốt ngày xấu hay không?
Thực tế có ngày làm mọi việc đều thắng lợi, nhiều điều may mắn tự nhiên đưa tới, ngược lại có ngày vất vả sớm chiều chẳng được việc gì, lại còn gặp tai nạn bất ngờ. Người ta muốn hỏi vì sao vậy? Phép duy vật biện chứng giải thích: Đó là quy luật tất nhiên và ngẫu nhiên. Trong tất nhiên có yếu tố ngẫu nhiên, ngược lại trong ngẫu nhiên cũng có yếu tố tất nhiên. Lý luận thì như vậy, nhưng người ta muốn biết cụ thể: làm sao đón trước được những yếu tố ngẫu nhiên tốt và tránh những yếu tố ngẫu nhiên xấu? Cụ thể: Tháng này cưới vợ nên chọn ngày nào thì tương lai duyên ưa phận đẹp, làm nhà nên chọn ngày nào thì con cháu sum vầy, gia đình làm ăn nên nổi, an táng nên chọn giờ nào, tránh giờ nào, để cầu được phúc đức tránh được tai vạ về sau. Vì vậy người ta phải tìm thầy, tìm sách xem ngày chọn giờ.
Nhưng trong Hiệp kỷ lịch không có ngày nào hoàn toàn tốt hay xấu cho mọi người, mọi việc, mọi địa phương.
Thực tế, trên chiến trường, thời điểm ta thắng thì địch thua, trên thương trường anh mất của thì người khác được của. Trời mưa lợi cho việc đồng áng ruộng vườn thì bất lợi cho việc xây nhà hay đi đường.v.v. Như vậy ngày tốt ngày xấu còn tuỳ thuộc từng người, từng việc, từng hướng, từng vùng.
Ngày tốt, ngày xấu còn tuỳ thuộc vào quan niệm của từng người.
Ví dụ mất của là điều không may, nhưng để an ủi người mất của, người ta bảo đó là điều may vì “của đi thay người”.
Ngày Nguyệt kỵ tức mồng năm, mười bốn, hai ba, ta cho là ngày xấu, kỵ kiêng xuất hành. Nhưng tránh được ngày nguyệt kỵ lại đến ngày tam nương (13 tam nương, 14 nguyệt kỵ, 22 tam nương, 23 nguyệt kỵ), nếu có việc cần kíp thì sao?
Có nhiều cho rằng: ngày xấu thiên hạ kiêng không xuất hành, thì đối với mình càng tốt, vì ngoài đường đỡ chen chúc nhau, xe tàu rộng chỗ, đỡ tai nạn giao thông.
Ngày Nguyệt kỵ: trong phong tục, mọi miền ở nước ta đều cho là ngày xấu, nhưng có thuyết cho rằng đó là ba ngày tốt nhất trong cả tháng. Bởi vậy, ngày xưa vua chúa chọn ba ngày đó đi du ngoạn. Vua chúa đi đâu cũng có binh lính dẹp đường, tiền hô hậu ủng. Dân chúng không được nhìn mặt vua chúa, phải cúi rạp hai bên vệ đường, chờ cho xa giá đi qua mới được đứng dậy. Muốn được việc, đành phải tìm đường khác đi cho nhanh, đỡ mất thì giờ, nhiều khi phải bỏ việc quay trở về. Dần dần, trở thành phong tục Nhân dân tránh 3 ngày mồng 5, mười bốn hăm ba của từng tháng, gọi ba ngày đó là ngày Nguyệt kỵ (ngày kiêng kỵ xuất hành của từng tháng). Ngày tốt đối với kẻ cao sang, nhưng trở thành ngày xấu của dân thường.
Khi đã chọn được ngày tốt đối với từng việc, theo thuật chiêm tinh, còn phải đối chiếu ngày đó có hợp với bản mệnh của người chủ sự hay không? Cụ thể, phải xem ngày đó thuộc hàng can, hàng chi nào? Có tương xung, tương khắc,tương hình, tương hại với bản mệnh can, chi của người chủ sự hay không?
Bác sĩ Vũ Định, trong bài “có ngày tốt, ngày xấu hay không?” (báo Hà Nội mới chủ nhật số 73) có nêu lên lập luận về nhịp sinh học của từng cá thể.
“Nếu biết ngày tháng năm sinh của mỗi người, có thể xác định được các chu kỳ đều chuyển tiếp từ bán chu kỳ dương sang bán chu kỳ âm. Số ngày trùng hợp với chuyển tiếp các chu kỳ là ngày xấu, có thể coi là ngày vận hạn của người đó”.
Lập luận trên phù hợp với nhận thức về mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố địa vật lý vũ trụ với các hoạt động chức năng của cơ thể...Ta thử vận dụng lập luận về nhịp sinh học từng cá thể như đã nêu trên để phân tích ngày giờ hợp hay xung khắc với bản mệnh từng người trong thuật chiêm tinh có cùng luận cứ khoa học hay không?
Chọn ngày chọn giờ và bói toán khác nhau:
Các thuật sĩ làm nghề bói toán và chọn ngày chọn giờ đều có tên gọi chung là các nhà chiêm tinh hay âm dương học.
Nhưng bói toán và chọn ngày thuộc hai giai đoạn, hai lĩnh vực tư duy khác nhau của con người.
Con người muốn biết tương lai thân phận mình ra sao, sắp tới vận hạn rủi may thế nào, họ không nắm được quy luật thiên nhiên và xã hội, họ chỉ biết dựa vào thuật bói toán. Bói toán khi chưa có chủ định, chưa có phương hướng, chưa biết vận hội ra sao, việc làm thành bại thế nào.
Khác với thuật bói toán, khi người chủ sự muốn chọn ngày chọn giờ, tức là họ đã có chủ định, đã chuẩn bị sẵn cơ sở vật chất, hay ít ra cũng đã có dự án phác thảo, duy còn phân vân “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” (Con người chủ động mưu tính công việc, việc làm đó thành hay bại còn do trời), có nghĩa là con người đặt khẳng định nội lực của mình, họ chỉ muốn tiến hành trong thời cơ nào thuận lẽ trời, dễ đi đến thành công , tránh được tai hoạ.
Vì sao tục chọn ngày chọn giờ tồn tại lâu đời?
Xuất phát từ bản năng trở thành tâm lý phổ biến trong quần chúng, mọi việc làm có thành bại. Không phải mọi người đều tin rằng yếu tố quyết định sự thành bại là do chọn ngày chọn giờ. Có người không tin vào thuật chiêm tinh, cho đó là điều nhảm nhí, nhưng chiều theo tâm lý chung của nhiều người trong gia đình họ hàng, xét thấy chẳng có hại gì, nên cũng chọn ngày chọn giờ. Đối với một người trong một năm, năm năm, làm sao tránh khỏi rủi ro bất ngờ, huống gì đối với cả nhà, cả họ. Hễ khi ai đó xảy ra tai nạn, họ đổ lỗi cho người chủ sự báng bổ, không chịu chọn ngày, chọn hướng.
Chỉ có lợi, không có hại:
Chọn ngày, giờ là một tục lệ biểu hiện sự thành kính, thận trọng, nghiêm trang, không tuỳ tiện, không cẩu thả trước, trong và sau khi tiến hành một công trình, do đó dễ được sự đồng tình của những người có liên quan, đối tác.
Có một luận thuyết để tin cậy.
Thuật chiêm tinh đúng hay sai, luận thuyết mình tuân theo đáng tin cậy hay không, chỉ có những người đi sâu nghiên cứu mới xác định được, tuy rằng “vô sư, vô sách, quỷ thần bất trách”, nhưng có vẫn còn hơn không, nếu sai sót gì đổ lỗi cho thầy, đã có thầy mang tội, người chủ sự đỡ lo.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Follow by Email

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.