bài viết trong chuyên mục "xem chân gà"

Hiển thị các bài đăng có nhãn xem chân gà. Hiển thị tất cả bài đăng

Định ngón cun (ngón út nhỏ ngắn) làm hệ Chu tước. Lấy ngón trong của chân gà làm hệ Thanh Long. Dùng ngón ngoài của chân gà làm hệ Bạch hổ. Xem boi
boi tinh yeu
Xem bói chân gà- 20 cách xem chân gà cúng giỗ
"Dùng ngón to (ngón giữa của chân gà) làm vị trí của Huyền vũ.
Định ngón cun (ngón út nhỏ ngắn) làm hệ Chu tước.
Lấy ngón trong của chân gà làm hệ Thanh Long.
Dùng ngón ngoài của chân gà làm hệ Bạch hổ."
Lấy cung ngọ là hoả và là vị trí của Đằng xà, nên lấy cái đó làm huyệt pháp.
Lấy cung giữa (còn gọi là đốt hay gọi là dóng) ở ngón giữa của chân gà làm cung Thổ và là vị trí của câu Trần.
Lấy đó mà định làm nơi tôn quý, (là mồ mả tổ tiên và dòng họ về sau thuộc về dòng san nào).
Nếu vị trí Thổ lệch sang ngón trái, thì lấy đó là vị trí câu Trần.
Nếu cung Thổ lệch thiên sang ngón phải thì định đó là vị trí của Đằng xà, đó cũng là vị trí chỉ cho về lục Thân, nếu ở chỗ đó có huyết hồng tươi là Chân long (tức là đất tốt có mạch).
Cung giữa của ngón giữa (ngón dài) còn gọi là cung ngũ hào, nếu thấy huyết sắc tươi và như tơ nhỏ ấy là huyệt đãi người hiền (cái huyệt đó).
Thứ nữa là tìm Long mạch, định tên của các ngôi Bát quái mà biết được thịnh suy.
Lại nói rộng ra: sét các quẻ hào, nắm được mười đơn vị hàng thiên can như ở trên bàn tay:
(10 đơn vị Thiên can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và khởi tính được ngũ hành.
(Theo Phong thuy Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ).
Phải biết được Âm dương có thuận ? Phải xét trong ngoài, xếp đặt được các cung Bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn mà thấy ở đó huyền sắc trôi chảy, nguyên vẹn, không pha trộn, Dương trôi chảy là thuận.
Thấy âm chảy rẽ khác ra là nghịch. Xét ở cung: Tốn, Ly, Khôn, Đoài cần gấp rút thêm vào: Thấy sinh là lợi cho mình, thấy ngang ra là khắc, khắc là ngược lại (không hợp lý, bất lợi).
Không đọng ấy là đất chỉ để mộ tạm chôn mà thôi, vì đó là đất không có mạch.
Thấy loạn đọng ấy là hồn phách không yên.
Có điểm đen ấy là phúc ít, hoạ nhiều. Thấy hưu trù (tức là thấy huyết ở các cung nói trên có ngắt ngừng lại) thì người nhà gặp tai ương, súc vật trong nhà sẽ bị chết tiệt.
Riêng vị trí cung Ngọ thấy huyết hồng tươi loang lổ là mộ đó ở về phương nam có án.
Thấy ở cung Tốn có hỷ sắc (tươi tốt) đó là điềm có bảng bút chi khoa, (ý nói là cho con cháu đỗ đạt). Ở nơi đầu mối thấy có huyết đọng là vượng lâu dài.
Các hào vị có huyết hưu (huyết đến đó ngắt ngừng lại) là phúc bị ít vì bị hãm.
Thấy ngón trong và ngón ngoài quay hướng vào nhau đó là điều mau chóng, nếu thấy ngón trong và ngón ngoài vẫy qua, lắc lại (vênh váo không quay vào nhau) là hiện tượng chây chậm).
Thấy trùng động (là ba đầu móng ở 3 đầu ngón, cả ba đều cúi quắm gục lồng lên nhau) hoặc trùng khắc (là sung khắc lồng lớp lên nhau) đó là cái thế sơn thuỷ bức bách xâm phạm mạnh (là sơn thuỷ cưỡng bách).
Thấy hỷ động, hỷ giao (là có đầu ngón giữa ngẩng lên, lại có ngón khác ở đầu móng cúi xuống và giao vào nhau) ấy là Long Hổ trùng điệp ứng gấp.
Hoặc ở vị trí cung càn thấy có huyết đọng lên đến cung đoài, ấy là mạch Kim uyển chuyển vào chùa hoặc vào miếu nào đó.
Hoặc ở vị trí cung chấn thấy có ám phá (là tối phá) lên đến cung Tốn phải đoán đó là ảnh hưởng gốc cây và nhờ đó gió thổi vào, vậy là ở Phương Đông có chùa Phật đối lại (quay vào mộ đó), ở Phương Nam có đền đài xung khắc với mộ đó.
Nếu thấy huyết đọng ở cung Khảm, ở cung Hợi và Tý, ắt về phía Bắc của mộ đó có Thuỷ khuyết xấu, đó gọi là Huyền vũ đoản hiệp (là bị gò ép).
Hoặc có huyền đọng ở cung Cấn, ở vị trí Sửu và Dần, là ở phía Đông bắc của ngôi mộ đó có Thổ bách ám, cái thế đó lộc thuộc bất minh (là trong nhà trong họ không yên).
Nếu thấy ở vị trí Tý và Sửu đọng huyết thì lại xem Kim mộc giao sung, ấy là nước mưa của Trời dội xuống đọng lại, hoặc là nước bùn lầy tràn vào phạm mà lay động, hoặc nước hoàng tuyền ở cạnh đó cuốn thẳng đi, hoặc sông ngòi đầm trạch nước lớn mênh mông, bị nước phá sau đầu, hoặc nước trong thung lũng trên núi chẳng thấy vào hoặc ở nóc nhà nào chảy thẳng vào.
Xem kỹ vị trí cung Cấn nếu có loang lổ ẩn dấu là có thổ sơn.
Bằng thấy ở cung Khôn có sắc khí tươi tía thí luận: Táng ở nơi gò đất lớn, lại có thần linh tại phương Bắc chiếu và ở phương Nam có đền trên đỉnh núi hoặc ở gò cao.
Nếu thấy ở cung Chấn đọng thì đoán là: có ba nhánh rễ cây gỗ xâm vào mộ.
Cùng ở đốt mão phương, thì đoán là ở chỗ đó có bờ ruộng hoặc đường đi thẳng phạm vào mộ.
Nếu chẳng vậy thì có một khí cựu thần sung tới, chân long chẳng ứng (không hợp, không cho kết phát).
Nếu thấy ngón Lớn động lớn thì hằn bờ góc ruộng bắn thẳng vào mặt mộ. Nếu không như vậy là: mộc phủ phong suy (gió thổi cái hơi gỗ cây thối nát đưa vào).
Nếu vị trí cung Thân có thấy mờ tối, hẳn là ngôi mộ đó bị ngọn núi che lấp hướng trước mặt, như vậy thì con trai trong nhà, trong họ bị cuồng điên hoặc hủi rụng tóc.
Nếu thấy hoả huyết đọng ở vị trí cung Tý và Ngọ và thấy Kim huyết loạn ở Mùi Thân, là chốn mộ đó trước đây có gio than bếp lửa đã làm hết khí, hoặc trước có đá nhọn của núi sông vào phạm đến mạch, đương hành lại.
Xem tuong ở cung giữa có huyết thổ lẫn với huyết thuỷ, ấy là có sâu, kiến đang phá hoại xương cốt, nếu thấy thuỷ thanh ấy là có loài lươn chạch vào quan tài, hoặc vào tiểu.
Nếu thấy ở Khôn và Cấn có loạn động thì đoán: Nam giới chết trận.
Hoặc thấy ở cung Dần cung Thân có vết huyết như Kim chỉ ngang, hoặc ở Cấn Dần thấy sắc trong là thủy tận sơn cùng; Nếu ở Dần và Dậu thấy có hồng sắc loang lổ, là đất thiêng sinh nhân hào kiệt.
Nếu thấy ngón cái co rút lại và đảo ngược lại, là đất chẳng được, người chết sẽ thiếu máu sợ hãi co dật chân tay mà chết.
Nếu nội ẩn (là ngón trong dấu đi) thì đoán là phi long (rồng bay).
Nếu ngoại ẩn (ngón ngoài dấu đi) đoán là phi hổ (hổ bay).
Nếu ngón trong đè ngón cái ở chỗ: Hổ - Tý, lại có huyết đọng ấy là chu tước, phải đoán là mộ bị khô không có nước.
Nếu ở cung ngọ thấy khô như lửa đốt vào ấy là Huyền vũ, thì không có người nối dõi, vì phản huyệt (huyệt ngược), bất chính nên vong linh bất bình !
Đầu ngón cái ủ rũ co rút lại, còn là: "Long đoản Sơn, Khắc vong mệnh; huyết đọng, cái tươi là: "Sơn chỉ long trường, mạch phụ quan hài" (là núi chắn, rồng dài, có mạch bổ sung cho quan tài và hài cốt).
Nếu huyết loạn ở ngoài ngón, là hổ không đủ chân !
Nếu huyết đọng ở trong ngón, là thân rồng chẳng tốt.
Nếu hai ngón: nội và ngoài như đôi mi mắt chầu vào nhau, chầu ngang nhau, đó là Long Hổ đầu sát. Nếu huyết điểm ở ngón cun (ngón nhỏ), ngón cun lại chỉ vào ngón nội, phải đoán là: nội loạn động, ắt phải đề phòng trộm cướp, dịch lệ, hoả tai.
Nếu thấy huyết đen ở cung Khôn (cung Khôn ở ngón ngoài) và ngón ngoài lại cúi ra ngoài, đó là cái mối hại người hại vật, và là cái mối tranh tụng, hoặc bị trộm đêm cướp ngày lấy của cải và còn bị kinh khủng về người và súc vật.
Nếu thấy máu sắc hồng tươi ở hai cung: Thân và Dậu, đó là sẽ phát minh người "Quán cổ anh hùng".
Xem xét ở hai ngôi: Chấn và Đoài nếu có điểm thâm đen và thô (to), đó là con cháu dâm dục.
Thường xem ngón trong và ngón ngoài phù trợ tiếp nhau và ngón cun (út) chỉ lên không, chỉ cao gần đến cung ly, cung khảm ấy là mộ ở vị trí Bính hướng Nhâm, lại xem hai cung: càn tốn thì lấy Tân Hợi và ngón cun chỉ gần ngôi tốn, là mộ toạ Bính, hoặc ở tốn san, nếu như phân kim thì rõ chốn đó, tức là mạch đất tốt vậy.
Nếu ngón cun chỉ gần trên cung Khôn, đó là ngồi hướng quý, nhìn về hướng đinh.
Bằng ngón cun chỉ vào giữa cung Khôn, nên lấy tâm ở cung cấn.
Cung Khôn có nhiều hồng huyết, nếu cung Cấn có nhiều sắc loang lổ và tươi hồng ở cung Khôn, ít sự liên hệ (rời rạc) ở cung bên: hoặc Bính Thân hoặc Bính Dần.
Nếu chỉ vào dưới cung Khôn là biểu thị con cháu có voi ngựa (ý nói con cháu sang giầu).
Nếu vào cung Chấn và Mão là thuộc vị trí Tân, lại thấu tươi tía là biểu thị có văn tinh bảng bút chi khoa (ý nói con cháu thi đỗ).
Nếu ở cung Chấn là vị trí chính ất có sắc hồng và loạn, đó là cho biết sắp có sự kiện cáo, khẩu thiệt, quan phi (bị phạt lẽ trái về mình).
Lấy cung Khôn là quẻ dâu rể.
Định vị trí cấn dần là kho tàng. Quẻ Hào Khôn ẩn vết là dâu rể không tốt lành.
Ở vị trí cấn có nhiều loang lổ sắc, là mấu chốt kỳ lạ, quẻ ấy mà xung trong, lại hoá ra quẻ lành, nếu gấp lại là tốt lành, nếu ám đen là độc. Nếu ứng về Tây Bắc là Kim tức thuỷ vương, cửa thuỷ có chúa loài cá giải tụ hội.
Ở vị trí Đông Nam có hoả sinh minh đường, có chim phượng chầu, là cái thế Long hổ trùng điệp, có sơn thủy lớp lớp, mạch hưng thịnh được lâu, hàng năm lại càng hưng thịnh lên./.
20 Cách xem chân gà cúng
12 cung hoang dao
Xem chân gà- 20 cách xem chân gà cúng giỗ
Thấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái".
1- Tứ hỷ cáchCách này là cả 3 ngón cùng thẳng lên, hình như không dựa vào nhau, không dính vào nhau, không rối ngoặc vào nhau, có màu sắc tươi tỉnh, đó là biểu tượng hoà hợp, đều đại cát vậy.
2- Kê ba cáchLà kiểu ba đầu ngón (của ngón trong, ngón cái và ngón ngoài) đều thứ tự gối đầu ngón vào nhau và cùng dựa vào nhau, giống như hình 3 người cùng cúi theo 1 chiều, mà cùng vẫy vời và đều có sắc tươi tỉnh, ấy là cách một nhà vui vẻ.
3- Phù cái cáchKiểu này là: ở giữa cung ly (cung ly ở đầu ngón cái) với cung chấn và tốn như ghé vào hôn nhau, nhưng cung khảm và cung cấn lại không dính vào nhau (hơi xa cách bỏ trống) và có hỷ sắc (ở cung tốn tươi vui) ấy là biểu tượng: "Cầm giáo nhọn bền vậy, nếu ngón trong và ngoài đều như vậy là: cách nội ngoại phù cái".
4- Ủ cái cáchKiểu này: ở đầu ngón cái co rụt, có sắc ủ rũ, đó là biểu tượng chủ sẽ chuyên tay biến chuyển (có biến cố tráo trở).
5- Tinh cái cáchKiểu này có ba dóng của ngón trong cùng ghé vào ngón cái chút ít và như sợ hãi phải cúi theo, như cùng cúi vái chào, ấy là biểu tượng: "Lục khuyến" (là 6 đốt thúc đẩy nhau) nếu ngón trong và ngón ngoài đều như vậy, gọi là: "Cách dựa cái" (dựa vào ngón cái).
6- Nội náu cáchKiểu này: Cung tốn ghé cúi vào cung ly, ly che dấu cho cung tốn, ấy là cách ẩn nấp, như vậy là mọi sự phải dè chừng nếu ngón ngoài ẩn nấp cũng vậy, gọi là "Cách ẩn nấp".
7- Nội ngăn cáchLà kiểu: ở giữa cung Tốn và cung cấn có ghé dính vào ngón giữa (ngón cái) nhưng cung trung không ghé dính gì với cung chấn, mà ở đầu cung tốn lại chọc vào cung ly, đó gọi là: "Kéo ngăn quá cái" ấy là biểu tượng mọi sự có trở ngại, không nên làm ẩy phải dè giặt.
8- Ngoại dương cách(Còn gọi là ngoại ra tứ, nghĩa là ngoài uốn éo)
Kiểu này: ba dóng của ngón ngoài và ba dóng của ngón cái quay ngược nhau và chẳng quay vào ngón cái một chút nào.
Quẻ này nếu đem về: cầu quan, cầu tài, cầu hôn nhân là tối kỵ, nếu làm 3 việc trên đều chẳng đạt mà còn có hại.
9- Bổng cun cáchKiểu này là: có ngón cun cúi xuống, chỏ vào cung khôn hay cung đoài như đóng cửa ngăn ngại, nếu ở ngón cái tươi, các điểm có kỷ sắc là có sự vui mừng, nếu ngón cái co rụt lại và cúi xuống là điểm độc dữ !
Nếu thấy bổng cun tươi cái mà xem về bệnh tật thì lại càng kỵ (độc), nếu bổng cun, cùng bổng cái thì đoán như vậy !
10- Liệp cun cáchKiểu này: có ngón út dẵm séo lên và vượt qua, thấy ngón út đè lên các cung: càn, khảm, cấn, đó là biểu tượng phải trì hoãn sự việc lại.
11- Ngôi cái cáchKiểu này giống như núi đá lởm chởm gập gềnh, nó là ngón cái cao cất bổng mặt, đó là biểu tượng không hy vọng, còn chơi vơi, không chắc được việc.
12- Nội nghịch cáu cáchKiểu này có ngón trong xông ra ngoài, bỏ rời ngón cái, mà cúi xuống, thấy rõ ở bên phải đầu ngón cái (chỗ cung ly), đó là mình đi tìm người khác, nếu ở chỗ đằng sau lưng có tươi là điềm mừng.
13- Ngoại quá cáchLà kiểu: ngón ngoài xông ra, rời ngón cái, cúi xuống dưới, thể hiện ở bên trái đầu ngón ấy là người ta tìm mình, như vậy phải nên đề phòng.
14- Máy động cáchCác đốt dưới của cả 3 ngón chằng dính liền nhau, mà ở đầu cung tốn lại tiếp giáp với cung ly, giống như gốc cây rưa tiếp nhận mũi tên (hoặc như mũi tên chọc vào cung ly), mà ngón cái lại gần tiểu chỉ (cun) ở cung ly ấy, vậy phải dựa vào bát quái mà xem, nếu ngón trong và ngón ngoài đều như thế, thì gọi là: "Cách cặp cổ" cách này tối độc.
15- Động đẵn cáchLà kiểu cung Ly ủ rũ co gục xuống, mà ngón có cung tốn lại vươn lên cao hơn, như lưỡi dao chặt lưng từ nửa cung ly trở xuống, coi đó là biểu tượng chủ nhà có sự canh cánh bên lòng và phải xem ngón cun chỉ vào cung nào, rồi dựa vào bát quái mà đoán. (Dù ngón trong hay ngón ngoài mà đều như vậy thì cũng cùng một phép đoán).
16- Ngoại hơn tứ cáchKiểu này, còn gọi là thắng phụ chi hình, tức là thấy các cung: tốn, ly, khôn tranh nhau, cung ly lại cúi xuống, coi đó là: sẽ có sự đánh nhau, kiện nhau. Nếu tốn cao hơn khôn ấy là: "Nội hơn tứ cách". Khôn cao hơn tốn ấy là: "Ngoại hơn tứ cách".
17- Đề cái cáchĐầu cung ly co cúi, đầu khôn che dấu ở trên đầu cung ly, đó gọi là "Ngoại đè cái" (ngón ngoài đè trên cái), nếu ngón trong đè cái tất có loạn từ trong loạn ra ngoài đè cái hằn có biến bên ngoài vào (loạn từ ngoài tới).
18- Thức hầu cáchĐầu cung tốn sung chọc lại cung ly, ly cúi xuống dưới, ngón trong đè ngón cái, ngón ngoài vượt qua chèn ngón khác, đó là biểu hiện: "Bức gia" là nhà bị chèn ép.
19- Vãn nội cáchNgón út chỉ bên tả, ấy là kéo ngón trong chỉ vào cung cấn dần, ấy là biểu hiện kho vựa bị tuôn ra (mọi sự độc). Nếu ngón út chỉ ngoài là "Vãn ngoại cách" cách này là tốt lành.
20- Tươi cái cáchThấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái". 

Phép xem 20 cách

Cập 
Thấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái".
1Tứ hỷ cách
Cách này là cả 3 ngón cùng thẳng lên, hình như không dựa vào nhau, không dính vào nhau, không rối ngoặc vào nhau, có màu sắc tươi tỉnh, đó là biểu tượng hoà hợp, đều đại cát vậy.
2- Kê ba cách
Là kiểu ba đầu ngón (của ngón trong, ngón cái và ngón ngoài) đều thứ tự gối đầu ngón vào nhau và cùng dựa vào nhau, giống như hình 3 người cùng cúi theo 1 chiều, mà cùng vẫy vời và đều có sắc tươi tỉnh, ấy là cách một nhà vui vẻ.
3- Phù cái cách
Kiểu này là: ở giữa cung ly (cung ly ở đầu ngón cái) với cung chấn và tốn như ghé vào hôn nhau, nhưng cung khảm và cung cấn lại không dính vào nhau (hơi xa cách bỏ trống) và có hỷ sắc (ở cung tốn tươi vui) ấy là biểu tượng: "Cầm giáo nhọn bền vậy, nếu ngón trong và ngoài đều như vậy là: cách nội ngoại phù cái".
4- Ủ cái cách
Kiểu này: ở đầu ngón cái co rụt, có sắc ủ rũ, đó là biểu tượng chủ sẽ chuyên tay biến chuyển (có biến cố tráo trở).
5- Tinh cái cách
Kiểu này có ba dóng của ngón trong cùng ghé vào ngón cái chút ít và như sợ hãi phải cúi theo, như cùng cúi vái chào, ấy là biểu tượng: "Lục khuyến" (là 6 đốt thúc đẩy nhau) nếu ngón trong và ngón ngoài đều như vậy, gọi là: "Cách dựa cái" (dựa vào ngón cái).
6- Nội náu cách
Kiểu này: Cung tốn ghé cúi vào cung ly, ly che dấu cho cung tốn, ấy là cách ẩn nấp, như vậy là mọi sự phải dè chừng nếu ngón ngoài ẩn nấp cũng vậy, gọi là "Cách ẩn nấp".
7- Nội ngăn cách
Là kiểu: ở giữa cung Tốn và cung cấn có ghé dính vào ngón giữa (ngón cái) nhưng cung trung không ghé dính gì với cung chấn, mà ở đầu cung tốn lại chọc vào cung ly, đó gọi là: "Kéo ngăn quá cái" ấy là biểu tượng mọi sự có trở ngại, không nên làm ẩy phải dè giặt.
8- Ngoại dương cách
(Còn gọi là ngoại ra tứ, nghĩa là ngoài uốn éo)
Kiểu này: ba dóng của ngón ngoài và ba dóng của ngón cái quay ngược nhau và chẳng quay vào ngón cái một chút nào.
Quẻ này nếu đem về: cầu quan, cầu tài, cầu hôn nhân là tối kỵ, nếu làm 3 việc trên đều chẳng đạt mà còn có hại.
9- Bổng cun cách
Kiểu này là: có ngón cun cúi xuống, chỏ vào cung khôn hay cung đoài như đóng cửa ngăn ngại, nếu ở ngón cái tươi, các điểm có kỷ sắc là có sự vui mừng, nếu ngón cái co rụt lại và cúi xuống là điểm độc dữ !
Nếu thấy bổng cun tươi cái mà xem về bệnh tật thì lại càng kỵ (độc), nếu bổng cun, cùng bổng cái thì đoán như vậy !
10- Liệp cun cách
Kiểu này: có ngón út dẵm séo lên và vượt qua, thấy ngón út đè lên các cung: càn, khảm, cấn, đó là biểu tượng phải trì hoãn sự việc lại.
11- Ngôi cái cách
Kiểu này giống như núi đá lởm chởm gập gềnh, nó là ngón cái cao cất bổng mặt, đó là biểu tượng không hy vọng, còn chơi vơi, không chắc được việc.
12- Nội nghịch cáu cách
Kiểu này có ngón trong xông ra ngoài, bỏ rời ngón cái, mà cúi xuống, thấy rõ ở bên phải đầu ngón  cái (chỗ cung ly), đó là mình đi tìm người khác, nếu ở chỗ đằng sau lưng có tươi là điềm mừng.
13- Ngoại quá cách
Là kiểu: ngón ngoài xông ra, rời ngón cái, cúi xuống dưới, thể hiện ở bên trái đầu ngón ấy là người ta tìm mình, như vậy phải nên đề phòng.
14- Máy động cách
Các đốt dưới của cả 3 ngón chằng dính liền nhau, mà ở đầu cung tốn lại tiếp giáp với cung ly, giống như gốc cây rưa tiếp nhận mũi tên (hoặc như mũi tên chọc vào cung ly), mà ngón cái lại gần tiểu chỉ (cun) ở cung ly ấy, vậy phải dựa vào bát quái mà xem, nếu ngón trong và ngón ngoài đều như thế, thì gọi là: "Cách cặp cổ" cách này tối độc.
15- Động đẵn cách
Là kiểu cung Ly ủ rũ co gục xuống, mà ngón có cung tốn lại vươn lên cao hơn, như lưỡi dao chặt lưng từ nửa cung ly trở xuống, coi đó là biểu tượng chủ nhà có sự canh cánh bên lòng và phải xem ngón cun chỉ vào cung nào, rồi dựa vào bát quái mà đoán. (Dù ngón trong hay ngón ngoài mà đều như vậy thì cũng cùng một phép đoán).
16- Ngoại hơn tứ cách
Kiểu này, còn gọi là thắng phụ chi hình, tức là thấy các cung: tốn, ly, khôn tranh nhau, cung ly lại cúi xuống, coi đó là: sẽ có sự đánh nhau, kiện nhau. Nếu tốn cao hơn khôn ấy là: "Nội hơn tứ cách". Khôn cao hơn tốn ấy là: "Ngoại hơn tứ cách".
17- Đề cái cách
Đầu cung ly co cúi, đầu khôn che dấu ở trên đầu cung ly, đó gọi là "Ngoại đè cái" (ngón ngoài đè trên cái), nếu ngón trong đè cái tất có loạn từ trong loạn ra ngoài đè cái hằn có biến bên ngoài vào (loạn từ ngoài tới).
18- Thức hầu cách
Đầu cung tốn sung chọc lại cung ly, ly cúi xuống dưới, ngón trong đè ngón cái, ngón ngoài vượt qua chèn ngón khác, đó là biểu hiện: "Bức gia" là nhà bị chèn ép.
19- Vãn nội cách
Ngón út chỉ bên tả, ấy là kéo ngón trong chỉ vào cung cấn dần, ấy là biểu hiện kho vựa bị tuôn ra (mọi sự độc). Nếu ngón út chỉ ngoài là "Vãn ngoại cách" cách này là tốt lành.
20- Tươi cái cách
Thấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái".

Cách chuẩn bị & Lễ xin xem chân Gà

Cập 
Con gà phải rửa sạch chân. Tay trái cầm chân trái của gà. Tay phải cầm chân phải của gà, mà cầu khấn rằng:.......
PHÉP XEM CHÂN GÀ
Trước ngày đó người định xem chân gà phải chay tịnh.
Đặt bàn thờ ở sân giữa trời, có bày: hương, đèn, trầu cau và chén nước trong tinh khiết !
Con gà phải rửa sạch chân. Tay trái cầm chân trái của gà. Tay phải cầm chân phải của gà, mà cầu khấn rằng:
Kính tấu:
          Thiên địa thần kỳ !
                                                Kính xin:
          Cửu Thiên huyền nữ Phạm Thị Chân tiên sư và chư thần linh bản thổ bản gia giáng lâm chứng tri minh bạch.
Khấn xong, con gà ấy hoặc đem giết ngay, hay để ngày sau giết ngay, hay để ngày sau giết, trước khi giết phải nhổ lông cánh, lông đuôi, lông ở đầu gối và lấy vẩy chân ở dưới đầu gối gà, mỗi thứ lấy 3 cái, nếu về mùa Thu và Đông thì lấy mỗi thứ 5 cái.
Khi luộc gà:
Mình còn gà bỏ luộc riêng 1 nồi, còn 3 thứ lông, vẩy, lông đuôi nói trên bỏ vào 1 nồi, bỏ trước khi đun nước còn đương lạnh. Khi thấy nồi lông vẩy gà đó đã sui sủi thì bỏ đôi chân gà đó vào đợt thứ hai. Khi nhắc lên thấy các đường máu ở chân gà đã nổi rõ ra rồi là vừa độ thì thôi, bỏ ra, đừng để chín quá và đừng để dối quá.
Còn cái Thân con gà luộc ở nồi kia, thì cứ luộc chín kỹ, vớt ra đặt lên bàn để cùng với đôi chân gà làm lễ rồi lấy xuống xem.
Nếu cần xem một việc thì: lấy chân phải xem về cài tài, lấy chân trái xem về bản mệnh. Nếu cần xem 2 việc một chân gà thì dùng ba gióng: (hay gọi là đốt): gióng trên, gióng giữa, gióng dưới.

Xem chân gà đoán được tốt xấu của gia đình



 

Thông lệ hằng năm ăn hết nhà nào cũng cúng gà để xem tốt xấu nhưng lại không biết coi như thế nào.Sau đây là bài phú hướng dẩn xem chân gà như sau

Đầu năm ra mắt mùng ba,

Cúng hông hành khiển cũng là hành binh.

Bói giò phãi bói cho tinh,

Xem tường màu sắc chân hình rủi mai.

Đôi giò cần để thẳng ngay,

Nhuận hồng vàng ánh năm nay chắc giàu.

XEM CHÂN GÀ

No nồi chụm móng khít khao,

Đỏ cái chặt chẻ cũng giàu cũng sang.

Đỏ mà gân máu nỗi loang,

Là điềm hao cũa tan hoang cửa nhà.

Trắng xanh bền bệt thây ma,

Ấy điềm tang chế ông bà cháu con.

Da gà tươi tắn vàng son,

Đi thi chắc đậu đi buôn chắc lời.

Khe chân gà hở tơi bời,

Tiền vô nhiều cũng phủi rồi tay không.

Ba ngón đội lên một chồng,

Tốt thì có tốt,phãi phòng người trên.

Nhờ người giúp đở mới lên,

Tự mình tự chủ không bền được đâu.

Cũng ba ngón chân chụm đầu,

Một hang ngang mặt,thúng đâu đựng tiền.

Ngón cái mà cong nghieng nghiêng,

Đâm vô khe hở,lụy phiền đến nơi.

Quan phi khẩu thiệt tơi bời,

Tai bay vạ gió kêu trời sao đang.


 

Bốn chân cong quẹo loạn hang,

Cà năm bương chải biết đường nào yên.

No nồi như nở cười duyên,

Da hồng tươm nở cũa tiền đầy kho.

Da chân xam xám màu tro,

Gân xương khô héo có lo cũng nghèo.

Đôi giò cái trể cái treo,

Bên ngang bên quẹo nằm queo một mình.

Da vàng mỡ đọng lung linh,

Làm chơi được thiệt,mặc tình vui chơi

Bốn ngón đều ngay lên trời,

Nổi gọ xẹp lép thì thôi còn gì.

Gặp năm tuổi xấu thêm nguy,

Ốm đau tang chế quan phi tụng đình.

Ngón chân rời rạc thân hình,

Thiếu người giúp đở,thiếu tình hữu giao.

Gặp cơn song gió ba đào,

Một tay lèo lái,ai nào cùng ta.

Chân gà cấm hở quẹo ra,

Da gà tươi nhuận mới là bình an.

Cúng gà ra mắt nghiêm trang,

Làm gà kỹ lưỡng,luộc càng thêm tinh.

Có thành có chắc thần linh,

Cầu ông hành khiển,hành binh hộ trì.

Cho mình gặp hội khả vi,

Mỗi chu niên trọn,chu kỳ bình an.


XEM CHÂN GÀ 

Sách nầy do Bảo Trai Đường chép để lại từ ngày 7 tháng 7 năm Thiệu Trị thú bảy.
Theo lời Ông nầy nói :
Ta thuật lại lời của Thánh để di truyền cho đời sau nếu người nào quan tâm với đạo Thánh hiền mà bỏ tà quy chính , hãy dạy cho đấy! Sách nầy nói rõ nghĩa lý thông tường, rõ ràng huyết mạch, muôn phần không mất một.

Quyển "Khoa xem Chân gà" nầy .

Bảo Trai Đường
kính chép


Làm phương châm đoán về địa mạch.

(Dịch từ bản chữ Hán ra quốc ngữ)

Khi có trái đất, ban đầu còn mênh mang, hổn độn chưa có ai xét đoán được.
Đến thời kỳ có loài người mới phôi thai, có Cụ Bàn Cổ mới lập ra thái cực mà chia ra lưỡng nghi.

Đến thời kỳ qua Phục Hy mới định ra âm dương mà vạch ra bát quái.

Đến đời Văn Vương nhà Chu mới diễn ra Kinh Dịch.

Đến đời Xuân Thu có Ông Lỗ Ban va Đức Khổng tử mới lập ra hệ thống từ và chữ.

Đến đời Ông Lý Thuần mới làm ra Khoa bói tẩu mã.

Tiếp đến Bà Cữu Thiên Huyền Nữ Phạm thị Chân tiên sư lập ra Khoa bói Chân Gà nầy, đã thâu tóm các sự bí ẩn của Trời Đất , quán triệt được những niểm vui hoặc gở đưa lại cho nhân gian, lại biết được sự vận chuyễn của mạch cục , khí đất động lắng rắn mềm ...

Dùng ngón to (ngón giữa của chân Gà) làm vị trí của Huyền Vũ.
Định ngón cun (ngón út nhỏ ngắn) làm hệ Chu tước.
Lấy ngón trong của chân Gà làm hệ Thanh Long.
Dùng ngón ngoài của chân Gà làm hệ Bạch hổ.

Lấy cung Ngọ là Hỏa là vị trí của Đằng xà nên lấy cái đó làm Huyệt pháp .
Lấy cung giữa (còn gọi là đốt hay là dóng) ở ngòn giữa của chân gà làm cung Thổ là vị trí của Câu Trần.
Lấy đó mà định làm nơi tôn quý (là mồ mã tổ tiên giòng họ và về sau thuộc về giòng san nào).
Nếu vị trí Thổ lệch sang ngón trái thì lấy đó là vị trí Câu trần.
Nếu cung Thổ lệnh thiên sang ngón phải thì định là vị trí của Đằng xà đó cũng là vị trí chỉ cho về Lục Thân, nếu ở chổ đó có huyết hồng tươi là Chân long (tức là đất tốt có mạch).
Cung giữa của ngón giữa (ngón dài) còn gọi là cung Ngũ hào, nếu thấy hết sắc tươi và như tơ nhỏ ấy là huyệt đãi người hiền (cái huyệt đó) .
Thứ nữa là tìm Long mạch, định tên của các ngôi Bát quái mà biết được thịnh suy.
Lại nói rộng ra, xét các quẻ hào, nắm được mười đơn vị bảng thiên can như ở trên bàn tay: (10 đơn vị thiên can là : Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh,Tân,Nhâm,Quý) và khởi tính được ngũ hành : (ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hõa, Thổ).

Phải biết được âm dương có thuận? Phải xét trong ngoài, xếp đặt được các cung Bát quái:
Càn, Khãm, Cấn, Chấn, mà thấy ở đó huyền sắc trôi chảy, nguyên vẹn, không pha trộn, Dương trôi chảy là thuận.
Thấy âm chảy rẽ khác ra là nghịch. Xét ở cung : Tốn, Ly, Khôn, Đoài, cần gấp rút them vào : Thấy Sinh là lợi cho mình, thấy ngang ra là khắc , khac là ngược lại không hợp lý .
Không động ây là đất chỉ để mà tạm chôn mà thôi vì đó là đất không có mạch.
Thấy loạn động ấy là hồn phách không yên.
Có điểm đen ấy là phúc ít , họa nhiều . Thấy hưu tù tức là thấy huyết ở các cung nói trên có ngắt ngừng lại thì người nhà gặp tai ương , súc vật trong nhà sẽ ói chết bớt .
Riêng vị trí cung Ngọ thấy huyết hồng tươi loang lỗ là mộ đó ở về phương Nam có ám .
Thấy ở cung Tốn có hỷ sắc tươi tốt đó là điềm có bang bút chỉ khoa (ý nói là con cháu đổ đạt) . Ở nơi đầu mố thấy có huyết đọng là vượng lâu dài.
Các hào vị thấy có huyết đen, đỏ ngắt ngừng lại là phúc ít vì bị hãm .
Thấy ngón trong và ngón ngoài quay hướng vào nhau nghĩa là điềm mau chóng . Nếu ngón trong và ngón ngoài vẫy qua vắc lại (vênh váo không quay vào nhau) là hiện tượng chậm chạp.
Thấy trùng động là ba đầu móng ở ba đầu ngón, cả ba đều cúi cám gục lồng bên nhau hoặc trùng khắc (là xung khắc lồng lớp lên nhau) ; đó là cái thế sơn thuỷ bức bách xâm phạm mạnh (là sơn thủy cưỡng bách).
Thấy hỷ động , hỷ giao (là đầu ngón giữa ngẫng lên lại có ngón khác ở đầu móng cúi xuống và giao vào nhau) ấy là long hổ trùng điệp ứng gấp


Hoặc vị trí cung Càn thấy có huyết đọng lên đến cung Đoài ấy là mạch Kim uyển chuyễn vào Chùa hoặc Miếu nào đó.
Hoặc ở vi trí cung Chấn thấy có ám phá (là tối phá) lên đến cung Tốn phải đoán đó là ảnh hưởng gốc cây nhờ đó gió thổi vào, vậy là phương Đông có Chùa Phật đối lại (quay vào mộ đó), ở phương Nam có đền đài xung khắc với mộ đó .
Nếu thấy huyết đọng ở cung Khãm, ở cung Hợi và Tý , ắt là về phía bắc của mộ đó có thủy khuyết xấu , đó gọi là Huyền Vũ đoãn hiệp (là bị gò ép).
Hoặc là có huyết đọng ở cung Cấn, vị trí Sửu và Dần là ở phía đông bắc của ngôi mộ đó có Thổ bách ám, cái thế đó lộc thuốc bất minh (là trong nhà trong họ không yên)..
Nếu thấy ở vị trí Tý và Sửu đọng huyết thì lại xem Kim Mộc giao sung, ấy là nước mưa của Trời dội xuống động lại , hoặc là nước bùn lầy tràn vào phạm mà lay động hoặc nước hoàng tuyền ở cạnh đó cuốn thẳng đi . Hoặc sông ngòi nơi đồng trạch nước lớn mênh mông, bị nước phá sau đầu , hoặc nước trong thung lũng trên núi chảy thẳng vào hoặc ở nóc nhà nhà nào chẳng thẳng vào .
Xem kỷ vị trí cung cấn có loang lổ ẩn dấu là có thổ sơn .
Bằng thấy ở cung Khôn có sắc khí tươi tía thì luận : Táng ở nơi gò đất lớn lại có thần linh ở phương bắc chiếu và ở phương nam có đền trên đĩnh núi hoặc ở gò cao.


Nếu thấy ở cung Chấn động thì đoán là có 3 nhánh rễ cây xâm vào mộ .
Cung ở đốt Mão phương thì đoán là ở đó có bờ ruộng hoặc đường đi thằng phạm vào mộ .
Nếu chẳng là vậy thì có mộc khí cựu thần xung tới chân long cha93ng ứng (không hợp không cho kết phát).
Nếu thấy ngón đơn động kim thì hẳn bờ góc ruộng bắn thẳng vào mộ . Nếu không như vậy là mộc phú phong suy (gió thổi cái hơi gổ cây thối nát đưa vào) .
Nếu thấy vị trí cung Thân mờ tối hẳn là ngôi mộ đó bị núi che lấp bướng trước mặt như vậy thì con trai trong họ, trong nhà bị cuồng điên hoặc búi rụng tóc .
Nếu thấy hõa huyết động ở vị trí Tỵ và Ngọ và nếu thấy kim huyết loạn ở Mùi Thân là chôn mộ đó trước đây có gió tro than bếp lửa đã làm tắt hết khí hoặc trước đó đã có đá nhọn của núi sông đã phạm vào đến mạch đương hành .
Xem ở cung giữa có huyết thổ lẫn với huyết thủy ấy là có sâu kiến đang phá hoại xương cốt ; nếu thấy thủy thanh ấy là có loải lươn chạch vào quan tài hoặc vào tiểu .
Nếu thấy ở Khôn Cấn có loạn động thì đoán có nam giới chết trận .
Hoặc thấy cung Dần cung Thân có vết huyết như (cây) kim chỉ ngang hoặc ở Cấn Dần thấy sắc trong là thủy tận sơn cung . Nếu Dần và Dậu có hồng sắc loang lổ đát thiêng sinh nhân hào kiết .


Nếu thấy ngón cái co rút vào đảo ngược lại là đất chẳng được, người chết là do thiếu máu sợ hải, co dật chân tay mà chết .
Nếu nội ẩn (là ngón trong dấu đi) thì đoán là phi long. Nếu ngoại ẩn (ngón ngoài dấu đi) thì đoán là phi hổ.
Nếu ngón trong đè ngón cái ở chổ : hổ tý lại có huyết động , ấy là chu tước , phải đoán là mộ khô không có nước .
Nếu ở cung Ngọ thấy khô như lữa đốt vào nơi ấy là Huyền vũ thì không có người nối dõi vi phản huyệt (huyệt ngược, bất chính nên vong linh bất bình).
Đầu ngón cái ủ rũ , co rút lại, còn là “Long đoản sơn, khắc vong mệnh” . Còn có huyết đọng mà tươi là “Sơn chi long trường, mạch phu quan hài (là núi chắn rổng dài có mạch bổ sung cho quan tài hài cốt).
Nếu huyết loạn ở ngoài ngón là hổ không đủ chân .
Nếu huyết đọng ở trong ngón là thân rồng chẳng tốt .
Nếu 2 ngón nội và ngoại như đôi mi mắt chầu vào nhau, chầu ngang nhau, đó là Long Hổ đầu sát . Nếu huyết điểm ở ngón con (ngón nhỏ), ngón con lại chỉ vào ngón nội, phải đoán là : nội loan động , ắt phải đề phòng trộm cướp, dịch lệ (1), hõa tai .

(1) chũ dịch lệ nầy là bệnh dịch như dịch tả hay dịch hạch, dịch đậu

Nếu thấy huyết đen ở cung Khôn , cung Khôn ở ngón ngoài và ngón ngoài lại là Thổ thì ấy là (rất tiếc một hang chữ không đọc được) trộm đến cướp ngày lấy của cải của người và súc vật .
Nếu thấy máu sắc hồng tươi ở 2 cung Thân và Dậu đó là sẽ người “quân cơ anh hùng” .
Xét về 2 ngôi Chấn và Đoài có điểm thẩm đen , đó là con cháu dâm dục .
Thường xem ngón trong và ngón ngoài phù trợ tiếp nhau và ngón con (ngón út) chỉ lên không chỉ cao gần đến cung Ly cung Khãm ấy là mộ ở vi trí Bính, hướng Nhâm và xem hai cung : Càn Tốn thì lấy Tân Hợi và ngón con chỉ gần ngôi Tốn là mộ hoặc ở Tốn sang , nếu phân kim thì rõ chốn đó tức là mạch đất tốt vậy .
Nếu ngón con chỉ gần trên cung Khôn đó là ngôi hướng quý, nhìn về hướng Đinh .
Bằng ngón con chỉ vào giữa cung Khôn nên lấy tâm ở cung Cấn .
Cung Khôn có nhiều hồng huyết, nếu cung Cấn có nhiều sắc loang lổ va tươi hồng ở cung Khôn ít sự bên bệ (rời rạc) thì hoặc là Bính Thân hoặc Bính Dần .
Nếu chỉ vào cung Khôn là biểu thị con cháu có voi ngựa (ý nói con cháu sang giàu).
Nếu vào cung Chấn và Mão là thuộc vị tri Tân, lại thấu tươi tía là biểu thị có văn tinh bảng bút chi khoa (ý nói con cháu thi đổ ).

Nếu ở trên cung Chấn là vị trí chính Ất có sắc hồng và loạn, đó là cho biết sắp có sự kiện cáo, khẩu thiệt, quan phi (bị phạt lẽ trái phần mình).
Lấy cung Khôn là quẻ dâu rể.
Định vị trí Cấn Dần là kho tang . Quẻ hào Khôn ẩn vết là dâu rể không tốt lành .
Ở vị trí Cấn có nhiều loang lổ sắc, là mấu chốt kỳ lạ, quẻ ấy mà xung trong, lại hóa ra quẻ lành , nếu gấp lại là tốt lành, nếu ám đen là độc . Nếu ứng về Tây bắc là Kim tức Thủy vương, cửa thủy có chưa loại cá giải tụ hội.
Ở vị trí Đông Nam có hõa sinh minh đường, có chim phượng chầu, là cái thế Long Hổ trùng điêp; có sơn thủy lớp lớp, mạch hưng thịnh được lâu, hang năm lại càng hưng thịnh .

=o=

Phép xem chân gà

Muốn xem chân gà trước ngày đó phãi chay tịnh.
Đặt bàn thờ ở giữa sân, có bày hương đèn, trầu cau và chén nước trong tinh khiết.
Con gà sống phải rữa sạch chân. Tay trái cầm chân gà trái của ga . Tay mặt cầm chân gà mặt của gà, mà cầu khẩn rằng :
Kính tấu .
Thiên địa thần kỳ,
Kính xin :
Cửu thiên Huyền nữ Phạm thị Chân tiên nữ và chư thần linh bản thổ, bản gia, giáng lâm chứng tri minh bạch (xin hỏi việc gì thì khấn thêm). 

Khấn xong thì đem con gà ấy giết ngay, hoặc để đến ngày hôm sau .

Trước khi giết phải nhổ lông cánh, lông đuôi, lông ở đầu gối và lấy vãy chân ở dưới đầu gối gà, mỗi thứ lấy 3 cái.

Khi luộc gà : 
Luộc bằng 2 nồi riêng :
- mình con gà luộc riêng 1 nồi .
-3 thứ lông, vẫy và lông đuôi luộc riêng 1 nồi .

Nước đun từ khi đương lạnh .
Khi thấy nồi đun lông và vãy đã sùi sùi sôi thì bỏ đôi chân gà xuống đến đốt thứ hai.
Khi nhắc đôi chân gà đã lên thấy các đường huyết đã lộ rõ ra rồi thì thôi, lấy ra . Đừng để chân gà quá chín hoặc dối quá (chữ xưa : dối nghĩa là chưa chín).
Còn thân con gà cứ luộc cho chín kỷ, vớt ra đặt lên bàn để cúng với đôi chân gà.
Lễ xong thì đem xuống

Muốn xem việc gì thì : 
-Lấy chân gà phải xem về việc cầu tài .
-Lấy chân gà trái xem vể bản mệnh .
Nếu xem 2 việc một chân gà thì dùng 3 gióng (hay gọi là đốt) : gióng trên, gióng giữa và gióng dưới .
Xem chân gà đoán thổ trạch. 

Cứ tuần tự sau đây mà suy cho tường.
- Kim là Bia – Thổ là Gò đất
- Mộc là rường như sà nhà hoặc cầu qua sông.
- Hỏa là Thần miếu – Thủy là hồ ao.

Thổ mà có đới Hõa thì luận rằng nhà đấy nầy mua của nhà có người mới chết sao đây ?
Thể Kim mà gặp Mộc sinh Hõa, hẳn là mua đồ vật gì của người ăn trôm, có ngày nhầm sao (ý nói là mua nhằm của ăn trộm ăn cắp).
Mộc hoành mà đới Kim bảo là để bàn thờ uế tạp làm sao chẳng lành , lấy về dựng nhà làm chi .
Hỏa Kim bao đới ấy thì : mua đồng khí vật làm chi đấy mà . Cận tuần thế Hỏa trùng sinh Thủy bao đầu hóa gia đình gian truân , đoán rằng lữa uế uế như tẩm vào vào cốt Táo quân lạ thường.
Kim bao ngưu uế bên tường (phân trâu làm uế bên vách).
Thủy bao là lợn làm uế ở bên rõ rang.
Hõa bao Thổ bên ngoài là do người phóng uế nào ai biết gì .
Lại xem chính vị trí ở thể chính mà suy ra.
Mộc sinh Hõa, Hõa sinh Thổ đoán là nhà tốt.
Mộc sinh mà thây Kim ra thì đoán là nhà có gổ mục nát, luận vào chẳng sai .
Huyết theo bên ngoài ngón cái, đoán là nhà hai bếp hay hai bếp một nhà , rõ rành .
Thổ nguyên tổ địa (là nhà của tổ ) để dành lại cho.
Thế Hõa vận Thổ là mình tự lo, ngủ hành ứng bên ngoài lạ thay, đoán là đất mới mua của cùng chi tổ ngoại . Nếu mà thấy ngắt một hai đoạn, phải đoán là Thiên di thổ trạch, đoán mà chẳng sai đâu.
Thế bên hành hiện sinh ra, đoán là bếp núc mới làm lại gia cho tường .Hai bên thấy phiến xuyên ngang, luận rằng cái ngõ là đường vào ra . Thế cung ở trên hai đốt, lại giải rằng : Kim trầm (chìm sâu không lộ ra) là thờ Phật, luận vào như y . Thổ trầm trách chủ là ky . Mộc trầm thờ Thánh chi đây. Hõa trầm ấy là thờ Thần . Tả có Kim, Hữu có Hõa huyết bày ra, giao nha thế tiết là phải ân cần đèn nhang .

còn tiếp..
=o=
Xem chân gà là một môn khoa học cũng có nguồn gốc từ Kinh dịch mà ra đấy .
Ứng nghiệm nhất là xem về âm trach, mồ mả tổ tiên. Mà muốn linh thì trước hết tâm người muốn xem phải chính, phải thành tâm, con gà là vật cúng tế phải được nuôi tại gia chủ ít nhất là 3 ngày mới ngấm đủ âm dương địa khí của gia chủ. Sau đó trước khi cắt tiết gà đẻ cúng phải lập bàn thờ ở giữa sân ,mặt người gia chủ phải quay về hướng của " Quan "quản từng năm ( cái nầy thì phải học mới biết ) . Thành tâm thắp hương ,tay trái cầm cổ gà, tay phải để trước ngực theo tư thế bái phật, miệng khấn thần linh ( cái này cũng phải học ) và nói lên những ước nguyện của mình về những điều cần xem...sau khi khấn xong, đem gà đi cắt tiết, làm lông. Nhưng nhớ trước khi nhúng nước sôi, cần nhổ 3 cái lông ở sau gáy, 3 cái lông ở đuôi, 3 cái ở đầu gối phải, 3 cái ở đầu gối trái, tổng cộng là 12 cái lông để riêng ra 1 chỗ cẩn thận. Sau khi mổ và làm vệ sinh con gà sạch sẽ, cắt riêng 2 cẳng chân gà luộc riêng cùng với 12 cái lông lúc nẫy.Lưu ý luộc vừa chín tới , còn thân con gà thì luộc bình thường như mọi ngày .

Sau khi xong đặt cả gà và 2 chân lên bàn thờ gia tiên để cúng vái hết một tuần nhang, lúc đó thì có thể hạ lễ đem chân gà đi xem được.


Kết quả hình ảnh cho xem chan ga
                                             XEM CHÂN GÀ 

Sách nầy do Bảo Trai Đường chép để lại từ ngày 7 tháng 7 năm Thiệu Trị thú bảy.
Theo lời Ông nầy nói :
Ta thuật lại lời của Thánh để di truyền cho đời sau nếu người nào quan tâm với đạo Thánh hiền mà bỏ tà quy chính , hãy dạy cho đấy! Sách nầy nói rõ nghĩa lý thông tường, rõ ràng huyết mạch, muôn phần không mất một.

Quyển "Khoa xem Chân gà" nầy .

Bảo Trai Đường
kính chép


Làm phương châm đoán về địa mạch.

(Dịch từ bản chữ Hán ra quốc ngữ)

Khi có trái đất, ban đầu còn mênh mang, hổn độn chưa có ai xét đoán được.
Đến thời kỳ có loài người mới phôi thai, có Cụ Bàn Cổ mới lập ra thái cực mà chia ra lưỡng nghi.

Đến thời kỳ qua Phục Hy mới định ra âm dương mà vạch ra bát quái.

Đến đời Văn Vương nhà Chu mới diễn ra Kinh Dịch.

Đến đời Xuân Thu có Ông Lỗ Ban va Đức Khổng tử mới lập ra hệ thống từ và chữ.

Đến đời Ông Lý Thuần mới làm ra Khoa bói tẩu mã.

Tiếp đến Bà Cữu Thiên Huyền Nữ Phạm thị Chân tiên sư lập ra Khoa bói Chân Gà nầy, đã thâu tóm các sự bí ẩn của Trời Đất , quán triệt được những niểm vui hoặc gở đưa lại cho nhân gian, lại biết được sự vận chuyễn của mạch cục , khí đất động lắng rắn mềm ...

Dùng ngón to (ngón giữa của chân Gà) làm vị trí của Huyền Vũ.
Định ngón cun (ngón út nhỏ ngắn) làm hệ Chu tước.
Lấy ngón trong của chân Gà làm hệ Thanh Long.
Dùng ngón ngoài của chân Gà làm hệ Bạch hổ.

Lấy cung Ngọ là Hỏa là vị trí của Đằng xà nên lấy cái đó làm Huyệt pháp .
Lấy cung giữa (còn gọi là đốt hay là dóng) ở ngòn giữa của chân gà làm cung Thổ là vị trí của Câu Trần.
Lấy đó mà định làm nơi tôn quý (là mồ mã tổ tiên giòng họ và về sau thuộc về giòng san nào).
Nếu vị trí Thổ lệch sang ngón trái thì lấy đó là vị trí Câu trần.
Nếu cung Thổ lệnh thiên sang ngón phải thì định là vị trí của Đằng xà đó cũng là vị trí chỉ cho về Lục Thân, nếu ở chổ đó có huyết hồng tươi là Chân long (tức là đất tốt có mạch).
Cung giữa của ngón giữa (ngón dài) còn gọi là cung Ngũ hào, nếu thấy hết sắc tươi và như tơ nhỏ ấy là huyệt đãi người hiền (cái huyệt đó) .
Thứ nữa là tìm Long mạch, định tên của các ngôi Bát quái mà biết được thịnh suy.
Lại nói rộng ra, xét các quẻ hào, nắm được mười đơn vị bảng thiên can như ở trên bàn tay: (10 đơn vị thiên can là : Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh,Tân,Nhâm,Quý) và khởi tính được ngũ hành : (ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hõa, Thổ).

Phải biết được âm dương có thuận? Phải xét trong ngoài, xếp đặt được các cung Bát quái:
Càn, Khãm, Cấn, Chấn, mà thấy ở đó huyền sắc trôi chảy, nguyên vẹn, không pha trộn, Dương trôi chảy là thuận.
Thấy âm chảy rẽ khác ra là nghịch. Xét ở cung : Tốn, Ly, Khôn, Đoài, cần gấp rút them vào : Thấy Sinh là lợi cho mình, thấy ngang ra là khắc , khac là ngược lại không hợp lý .
Không động ây là đất chỉ để mà tạm chôn mà thôi vì đó là đất không có mạch.
Thấy loạn động ấy là hồn phách không yên.
Có điểm đen ấy là phúc ít , họa nhiều . Thấy hưu tù tức là thấy huyết ở các cung nói trên có ngắt ngừng lại thì người nhà gặp tai ương , súc vật trong nhà sẽ ói chết bớt .
Riêng vị trí cung Ngọ thấy huyết hồng tươi loang lỗ là mộ đó ở về phương Nam có ám .
Thấy ở cung Tốn có hỷ sắc tươi tốt đó là điềm có bang bút chỉ khoa (ý nói là con cháu đổ đạt) . Ở nơi đầu mố thấy có huyết đọng là vượng lâu dài.
Các hào vị thấy có huyết đen, đỏ ngắt ngừng lại là phúc ít vì bị hãm .
Thấy ngón trong và ngón ngoài quay hướng vào nhau nghĩa là điềm mau chóng . Nếu ngón trong và ngón ngoài vẫy qua vắc lại (vênh váo không quay vào nhau) là hiện tượng chậm chạp.
Thấy trùng động là ba đầu móng ở ba đầu ngón, cả ba đều cúi cám gục lồng bên nhau hoặc trùng khắc (là xung khắc lồng lớp lên nhau) ; đó là cái thế sơn thuỷ bức bách xâm phạm mạnh (là sơn thủy cưỡng bách).
Thấy hỷ động , hỷ giao (là đầu ngón giữa ngẫng lên lại có ngón khác ở đầu móng cúi xuống và giao vào nhau) ấy là long hổ trùng điệp ứng gấp


Hoặc vị trí cung Càn thấy có huyết đọng lên đến cung Đoài ấy là mạch Kim uyển chuyễn vào Chùa hoặc Miếu nào đó.
Hoặc ở vi trí cung Chấn thấy có ám phá (là tối phá) lên đến cung Tốn phải đoán đó là ảnh hưởng gốc cây nhờ đó gió thổi vào, vậy là phương Đông có Chùa Phật đối lại (quay vào mộ đó), ở phương Nam có đền đài xung khắc với mộ đó .
Nếu thấy huyết đọng ở cung Khãm, ở cung Hợi và Tý , ắt là về phía bắc của mộ đó có thủy khuyết xấu , đó gọi là Huyền Vũ đoãn hiệp (là bị gò ép).
Hoặc là có huyết đọng ở cung Cấn, vị trí Sửu và Dần là ở phía đông bắc của ngôi mộ đó có Thổ bách ám, cái thế đó lộc thuốc bất minh (là trong nhà trong họ không yên)..
Nếu thấy ở vị trí Tý và Sửu đọng huyết thì lại xem Kim Mộc giao sung, ấy là nước mưa của Trời dội xuống động lại , hoặc là nước bùn lầy tràn vào phạm mà lay động hoặc nước hoàng tuyền ở cạnh đó cuốn thẳng đi . Hoặc sông ngòi nơi đồng trạch nước lớn mênh mông, bị nước phá sau đầu , hoặc nước trong thung lũng trên núi chảy thẳng vào hoặc ở nóc nhà nhà nào chẳng thẳng vào .
Xem kỷ vị trí cung cấn có loang lổ ẩn dấu là có thổ sơn .
Bằng thấy ở cung Khôn có sắc khí tươi tía thì luận : Táng ở nơi gò đất lớn lại có thần linh ở phương bắc chiếu và ở phương nam có đền trên đĩnh núi hoặc ở gò cao.


Nếu thấy ở cung Chấn động thì đoán là có 3 nhánh rễ cây xâm vào mộ .
Cung ở đốt Mão phương thì đoán là ở đó có bờ ruộng hoặc đường đi thằng phạm vào mộ .
Nếu chẳng là vậy thì có mộc khí cựu thần xung tới chân long cha93ng ứng (không hợp không cho kết phát).
Nếu thấy ngón đơn động kim thì hẳn bờ góc ruộng bắn thẳng vào mộ . Nếu không như vậy là mộc phú phong suy (gió thổi cái hơi gổ cây thối nát đưa vào) .
Nếu thấy vị trí cung Thân mờ tối hẳn là ngôi mộ đó bị núi che lấp bướng trước mặt như vậy thì con trai trong họ, trong nhà bị cuồng điên hoặc búi rụng tóc .
Nếu thấy hõa huyết động ở vị trí Tỵ và Ngọ và nếu thấy kim huyết loạn ở Mùi Thân là chôn mộ đó trước đây có gió tro than bếp lửa đã làm tắt hết khí hoặc trước đó đã có đá nhọn của núi sông đã phạm vào đến mạch đương hành .
Xem ở cung giữa có huyết thổ lẫn với huyết thủy ấy là có sâu kiến đang phá hoại xương cốt ; nếu thấy thủy thanh ấy là có loải lươn chạch vào quan tài hoặc vào tiểu .
Nếu thấy ở Khôn Cấn có loạn động thì đoán có nam giới chết trận .
Hoặc thấy cung Dần cung Thân có vết huyết như (cây) kim chỉ ngang hoặc ở Cấn Dần thấy sắc trong là thủy tận sơn cung . Nếu Dần và Dậu có hồng sắc loang lổ đát thiêng sinh nhân hào kiết .


Nếu thấy ngón cái co rút vào đảo ngược lại là đất chẳng được, người chết là do thiếu máu sợ hải, co dật chân tay mà chết .
Nếu nội ẩn (là ngón trong dấu đi) thì đoán là phi long. Nếu ngoại ẩn (ngón ngoài dấu đi) thì đoán là phi hổ.
Nếu ngón trong đè ngón cái ở chổ : hổ tý lại có huyết động , ấy là chu tước , phải đoán là mộ khô không có nước .
Nếu ở cung Ngọ thấy khô như lữa đốt vào nơi ấy là Huyền vũ thì không có người nối dõi vi phản huyệt (huyệt ngược, bất chính nên vong linh bất bình).
Đầu ngón cái ủ rũ , co rút lại, còn là “Long đoản sơn, khắc vong mệnh” . Còn có huyết đọng mà tươi là “Sơn chi long trường, mạch phu quan hài (là núi chắn rổng dài có mạch bổ sung cho quan tài hài cốt).
Nếu huyết loạn ở ngoài ngón là hổ không đủ chân .
Nếu huyết đọng ở trong ngón là thân rồng chẳng tốt .
Nếu 2 ngón nội và ngoại như đôi mi mắt chầu vào nhau, chầu ngang nhau, đó là Long Hổ đầu sát . Nếu huyết điểm ở ngón con (ngón nhỏ), ngón con lại chỉ vào ngón nội, phải đoán là : nội loan động , ắt phải đề phòng trộm cướp, dịch lệ (1), hõa tai .

(1) chũ dịch lệ nầy là bệnh dịch như dịch tả hay dịch hạch, dịch đậu

Nếu thấy huyết đen ở cung Khôn , cung Khôn ở ngón ngoài và ngón ngoài lại là Thổ thì ấy là (rất tiếc một hang chữ không đọc được) trộm đến cướp ngày lấy của cải của người và súc vật .
Nếu thấy máu sắc hồng tươi ở 2 cung Thân và Dậu đó là sẽ người “quân cơ anh hùng” .
Xét về 2 ngôi Chấn và Đoài có điểm thẩm đen , đó là con cháu dâm dục .
Thường xem ngón trong và ngón ngoài phù trợ tiếp nhau và ngón con (ngón út) chỉ lên không chỉ cao gần đến cung Ly cung Khãm ấy là mộ ở vi trí Bính, hướng Nhâm và xem hai cung : Càn Tốn thì lấy Tân Hợi và ngón con chỉ gần ngôi Tốn là mộ hoặc ở Tốn sang , nếu phân kim thì rõ chốn đó tức là mạch đất tốt vậy .
Nếu ngón con chỉ gần trên cung Khôn đó là ngôi hướng quý, nhìn về hướng Đinh .
Bằng ngón con chỉ vào giữa cung Khôn nên lấy tâm ở cung Cấn .
Cung Khôn có nhiều hồng huyết, nếu cung Cấn có nhiều sắc loang lổ va tươi hồng ở cung Khôn ít sự bên bệ (rời rạc) thì hoặc là Bính Thân hoặc Bính Dần .
Nếu chỉ vào cung Khôn là biểu thị con cháu có voi ngựa (ý nói con cháu sang giàu).
Nếu vào cung Chấn và Mão là thuộc vị tri Tân, lại thấu tươi tía là biểu thị có văn tinh bảng bút chi khoa (ý nói con cháu thi đổ ).

Nếu ở trên cung Chấn là vị trí chính Ất có sắc hồng và loạn, đó là cho biết sắp có sự kiện cáo, khẩu thiệt, quan phi (bị phạt lẽ trái phần mình).
Lấy cung Khôn là quẻ dâu rể.
Định vị trí Cấn Dần là kho tang . Quẻ hào Khôn ẩn vết là dâu rể không tốt lành .
Ở vị trí Cấn có nhiều loang lổ sắc, là mấu chốt kỳ lạ, quẻ ấy mà xung trong, lại hóa ra quẻ lành , nếu gấp lại là tốt lành, nếu ám đen là độc . Nếu ứng về Tây bắc là Kim tức Thủy vương, cửa thủy có chưa loại cá giải tụ hội.
Ở vị trí Đông Nam có hõa sinh minh đường, có chim phượng chầu, là cái thế Long Hổ trùng điêp; có sơn thủy lớp lớp, mạch hưng thịnh được lâu, hang năm lại càng hưng thịnh .

=o=

Phép xem chân gà

Muốn xem chân gà trước ngày đó phãi chay tịnh.
Đặt bàn thờ ở giữa sân, có bày hương đèn, trầu cau và chén nước trong tinh khiết.
Con gà sống phải rữa sạch chân. Tay trái cầm chân gà trái của ga . Tay mặt cầm chân gà mặt của gà, mà cầu khẩn rằng :
Kính tấu .
Thiên địa thần kỳ,
Kính xin :
Cửu thiên Huyền nữ Phạm thị Chân tiên nữ và chư thần linh bản thổ, bản gia, giáng lâm chứng tri minh bạch (xin hỏi việc gì thì khấn thêm). 

Khấn xong thì đem con gà ấy giết ngay, hoặc để đến ngày hôm sau .

Trước khi giết phải nhổ lông cánh, lông đuôi, lông ở đầu gối và lấy vãy chân ở dưới đầu gối gà, mỗi thứ lấy 3 cái.

Khi luộc gà : 
Luộc bằng 2 nồi riêng :
- mình con gà luộc riêng 1 nồi .
-3 thứ lông, vẫy và lông đuôi luộc riêng 1 nồi .

Nước đun từ khi đương lạnh .
Khi thấy nồi đun lông và vãy đã sùi sùi sôi thì bỏ đôi chân gà xuống đến đốt thứ hai.
Khi nhắc đôi chân gà đã lên thấy các đường huyết đã lộ rõ ra rồi thì thôi, lấy ra . Đừng để chân gà quá chín hoặc dối quá (chữ xưa : dối nghĩa là chưa chín).
Còn thân con gà cứ luộc cho chín kỷ, vớt ra đặt lên bàn để cúng với đôi chân gà.
Lễ xong thì đem xuống

Muốn xem việc gì thì : 
-Lấy chân gà phải xem về việc cầu tài .
-Lấy chân gà trái xem vể bản mệnh .
Nếu xem 2 việc một chân gà thì dùng 3 gióng (hay gọi là đốt) : gióng trên, gióng giữa và gióng dưới .
Xem chân gà đoán thổ trạch. 

Cứ tuần tự sau đây mà suy cho tường.
- Kim là Bia – Thổ là Gò đất
- Mộc là rường như sà nhà hoặc cầu qua sông.
- Hỏa là Thần miếu – Thủy là hồ ao.

Thổ mà có đới Hõa thì luận rằng nhà đấy nầy mua của nhà có người mới chết sao đây ?
Thể Kim mà gặp Mộc sinh Hõa, hẳn là mua đồ vật gì của người ăn trôm, có ngày nhầm sao (ý nói là mua nhằm của ăn trộm ăn cắp).
Mộc hoành mà đới Kim bảo là để bàn thờ uế tạp làm sao chẳng lành , lấy về dựng nhà làm chi .
Hỏa Kim bao đới ấy thì : mua đồng khí vật làm chi đấy mà . Cận tuần thế Hỏa trùng sinh Thủy bao đầu hóa gia đình gian truân , đoán rằng lữa uế uế như tẩm vào vào cốt Táo quân lạ thường.
Kim bao ngưu uế bên tường (phân trâu làm uế bên vách).
Thủy bao là lợn làm uế ở bên rõ rang.
Hõa bao Thổ bên ngoài là do người phóng uế nào ai biết gì .
Lại xem chính vị trí ở thể chính mà suy ra.
Mộc sinh Hõa, Hõa sinh Thổ đoán là nhà tốt.
Mộc sinh mà thây Kim ra thì đoán là nhà có gổ mục nát, luận vào chẳng sai .
Huyết theo bên ngoài ngón cái, đoán là nhà hai bếp hay hai bếp một nhà , rõ rành .
Thổ nguyên tổ địa (là nhà của tổ ) để dành lại cho.
Thế Hõa vận Thổ là mình tự lo, ngủ hành ứng bên ngoài lạ thay, đoán là đất mới mua của cùng chi tổ ngoại . Nếu mà thấy ngắt một hai đoạn, phải đoán là Thiên di thổ trạch, đoán mà chẳng sai đâu.
Thế bên hành hiện sinh ra, đoán là bếp núc mới làm lại gia cho tường .Hai bên thấy phiến xuyên ngang, luận rằng cái ngõ là đường vào ra . Thế cung ở trên hai đốt, lại giải rằng : Kim trầm (chìm sâu không lộ ra) là thờ Phật, luận vào như y . Thổ trầm trách chủ là ky . Mộc trầm thờ Thánh chi đây. Hõa trầm ấy là thờ Thần . Tả có Kim, Hữu có Hõa huyết bày ra, giao nha thế tiết là phải ân cần đèn nhang .

còn tiếp..
=o=
Xem chân gà là một môn khoa học cũng có nguồn gốc từ Kinh dịch mà ra đấy .
Ứng nghiệm nhất là xem về âm trach, mồ mả tổ tiên. Mà muốn linh thì trước hết tâm người muốn xem phải chính, phải thành tâm, con gà là vật cúng tế phải được nuôi tại gia chủ ít nhất là 3 ngày mới ngấm đủ âm dương địa khí của gia chủ. Sau đó trước khi cắt tiết gà đẻ cúng phải lập bàn thờ ở giữa sân ,mặt người gia chủ phải quay về hướng của " Quan "quản từng năm ( cái nầy thì phải học mới biết ) . Thành tâm thắp hương ,tay trái cầm cổ gà, tay phải để trước ngực theo tư thế bái phật, miệng khấn thần linh ( cái này cũng phải học ) và nói lên những ước nguyện của mình về những điều cần xem...sau khi khấn xong, đem gà đi cắt tiết, làm lông. Nhưng nhớ trước khi nhúng nước sôi, cần nhổ 3 cái lông ở sau gáy, 3 cái lông ở đuôi, 3 cái ở đầu gối phải, 3 cái ở đầu gối trái, tổng cộng là 12 cái lông để riêng ra 1 chỗ cẩn thận. Sau khi mổ và làm vệ sinh con gà sạch sẽ, cắt riêng 2 cẳng chân gà luộc riêng cùng với 12 cái lông lúc nẫy.Lưu ý luộc vừa chín tới , còn thân con gà thì luộc bình thường như mọi ngày .

Sau khi xong đặt cả gà và 2 chân lên bàn thờ gia tiên để cúng vái hết một tuần nhang, lúc đó thì có thể hạ lễ đem chân gà đi xem được.



Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Follow by Email

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.