bài viết trong chuyên mục "phong thủy cơ bản"

Hiển thị các bài đăng có nhãn phong thủy cơ bản. Hiển thị tất cả bài đăng

NHỮNG LOÀI HOA

MANG ĐẾN TÀI LỘC HƯNG PHÁT

Ngoài hoa đào, hoa mai, bạn có thể lựa chọn những loại hoa sau để trưng bày trong nhà những ngày đầu năm và cả trong năm. Chúng không chỉ giúp cho ngôi nhà rực rỡ hơn mà còn thể hiện ước nguyện may mắn, tài lộc cho gia đình.
1/- Hoa trạng nguyên : Màu đỏ thắm của những cánh hoa này mang đến không khí rộn ràng, và niềm may mắn cho cả năm. Hơn nữa, hoa trạng nguyên còn tượng trưng cho niềm vui về sự học hành đỗ đạt, chính vì vậy những gia đình có các “cậu tú, cô cử” thường bày loài hoa này vào dịp Tết.
2/- Hoa cúc : Mặc dù không ngào ngạt, ngát hương nhưng hoa cúc lại là lựa chọn của rất nhiều người trong dịp Tết, đặc biệt là các gia đình ở thôn quê.
Hoa cúc vừa rẻ, vừa tươi lâu, lại mang đến nhiều may mắn, niềm vui cho gia đình trong năm mới.
Những bông cúc đại đóa vàng mang ý nghĩa về niềm vui, niềm hân hoan và những nụ cười thích hợp cho những ngày đoàn viên sắp đến. Hoa cúc trắng là loài hoa biểu tượng cho sự duyên dáng và lòng hào hiệp.
3/- Hoa lay ơn : Hoa lay ơn là một loài hoa đẹp với hình dáng thân dài, mang nhiều hoa trên một cành (từ 15-20 bông). Loại hoa này được nhiều người ưa chuộng đặc biệt trong những ngày Tết này, bởi chơi được lâu lại mang vẻ đẹp tinh tế, dịu dàng.
Hoa lay ơn được cắm với rất nhiều những cành hoa khác, nhằm tôn lên vẻ đẹp của các loài hoa khác cũng như khoe được vẻ đẹp của chính nó.
Tuy nhiên, khi chọn hoa lay ơn, để chơi hoa được lâu, bạn nên chọn những càng hoa với số lượng bông hoa nở ít, có nhiều nụ. Chọn những cành hoa có thân to, cứng cáp, lá hoa tươi xanh và không bị sâu hay dập nát.
Khi cắm hoa, nên cắt chéo gốc cành hoa để tăng cường bề mặt hút nước của cành hoa. Bạn nên dùng kéo sắc và cắt dứt khoát một lần cho mỗi cành, không nên cắt đi cắt lại nhiều lần một cành, như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến cành hoa.
4/- Hoa đồng tiền : Hoa đồng tiền là loại hoa tượng trưng cho tiền tài, những bông hoa đồng tiền mang lại ước vọng về một năm mới thịnh vượng và tài lộc, “tiền vào như nước”. Đặc biệt với hai loại đồng tiền đơn và đồng tiền kép, loại hoa này còn có nhiều màu sắc rực rỡ như đỏ, cam, vàng… để giúp cho bình hoa ngày Tết của gia đình bạn thêm bắt mắt, ấn tượng.
Nếu như không có nhiều thời gian để trang trí bình hoa đồng tiền, bạn chỉ cần một bông đồng tiền đỏ duy nhất cắm vào một lọ nhỏ xinh, cũng đủ mang lại lời ước nguyện may mắn cho năm mới thành hiện thực.
5/- Hoa lan : Luôn được xem là biểu tượng của người sang trọng và quân tử nên việc chọn những cành hoa lan để trang trí nhà trong ngày tết là một điều dễ hiểu. Đa dạng về chủng loại và màu sắc, lại có sức sống, độ bền cao nên việc lựa chọn hoa Lan sẽ giúp bạn thêm một món đồ trang trí đẹp mắt cho ngôi nhà trong những ngày đầu năm mới.
6/- Hoa hải đường : Theo quan niệm của người xưa thì đây là loài hoa tượng trưng cho mùa xuân. Chữ “Đường” mang hàm ý là một ngôi nhà lớn. Chính vì thế, đây là loài hoa thể hiện cho sự giàu sang và phú quý – điều mà bất cứ gia đình nào cũng mong muốn đạt được trong năm mới.
7/- Hoa sống đời : Loài hoa nhỏ nhắn nhưng lại mang màu sắc rực rỡ và sức sống bền bỉ này mang theo ý nghĩa cầu chúc một năm mới dồi dào sức khỏe. Bên cạnh đó nó còn thể hiện sự sinh sôi, nảy nở và tình đoàn kết của các thành viên trong gia đình. 


Phong thuy 1PHONG THỦY KÍCH HOẠT

VẬN MAY TÀI LỘC

Bạn có biết và hiểu rõ về khu vực phong thủy tài lộc của mình ?
Theo phong thủy phương Đông, khu vực kết nối với tiền bạc, sự thịnh vượng và dồi dào về tài lộc chính là hướng Đông Nam của ngôi nhà hoặc phòng làm việc. Đây là cách cổ điển, truyền thống để bạn xác định được khu vực tài lộc của mình.
Còn theo phong thủy phương Tây, khu vực tài lộc được xác định là vị trí phía trên bên trái của không gian bạn ở hoặc làm việc. Điều này nghe có vẻ khó hiểu. Tại sao khu vực tài lộc lại nằm ở hai vị trí khác trong nhà hoặc nơi làm việc?
Thực tế thì không phải vậy. Khu vực tài lộc phong thủy chỉ là một. Những gì bạn phải làm là quyết định trường phải bát quái9-kich-hoat-1phong thủy mà bạn muốn áp dụng.
Một khi bạn xác định rõ ràng về trường phái phong thủy muốn theo thì điều quan trọng là phải gắn bó với trường phái đó nếu bạn muốn có được sự “thuận buồn xuôi gió”. Hãy tập trung vào cách xác định khu vực tài lộc của bạn. Để tìm ra nó, bạn cần xác định bát quái của ngôi nhà hoặc văn phòng làm việc.
Tiếp theo, bạn sẽ cho bạn thấy làm cách nào để tăng cường sự giàu có của chính mình và khu vực tài lộc thu hút (và giữ lại) nhiều của cải hơn nữa.
Việc xác định bát quái không gian của bạn cần một chút công sức, nhưng nó hoàn toàn xứng đáng. Ứng dụng thành công nhất của phong thủy được dựa trên việc lý giải chính xác bát quái không gian. Vì thế, hãy dành thời gian để xác định nó.
Sau khi xác định xong, bạn sẽ nhìn rõ được khu vực tài lộc của mình. Nó có thể là toàn bộ khu vực Đông Nam của ngôi nhà hoặc văn phòng (theo phong thủy cổ điển) hoặc phía trên bên trái của không gian (theo phong thủy phương Tây).
 Có 3 vấn đề chính bạn cần phải nắm rõ để tạo nên phong thủy tốt cho khu vực tài lộc của bản thân, đó là:
– Cách trang trí nội thất tốt nhất cho khu vực tài lộc – Những sai lầm và những điều cần tránh về khu vực tài lộc – Những thách thức thường gặp nhất với khu vực tài lộc.
9-kich-hoat-2Trước khi chúng ta bắt đầu khám phá, bạn cần hiểu rõ tầm quan trọng của những đồ dùng và hình ảnh thể hiện năng lượng tiền bạc và cảm giác về nguồn tài chính dồi dào xung quanh mình. Những hình ảnh đó phải do chính bạn chọn lựa vì riêng vì mỗi chúng ta có sự liên kết hoặc ý tưởng khác nhau về sự cảm nhận năng lượng của sự giàu có.
 Nếu bạn quyết định đi theo các giải pháp phong thủy truyền thống, hãy chắc chắn rằng bạn thực sự thích chúng. Cũng như, chắc chắn rằng các giải pháp đó phù hợp với phong cách trang trí của ngôi nhà. Bạn phải có sự trao đổi năng lượng tốt với món đồ phong thủy để nó phát huy hiệu quả. Luôn luôn lựa chọn các giải pháp phong thủy một cách khôn ngoan và thông minh.

KÍCH HOẠT VẬN MAY TÀI LỘC

Logo phong thuy

9-trang-trinh-6-dao-siBÀI TRÍ PHONG THỦY

TĂNG CƯỜNG VẬN MAY

Trong năm nay, bạn nên bày hình tượng rồng phượng, đôi uyên ương ở khu vực giữa nhà để kích hoạt và thu hút vận may tình yêu.
Bát Bạch (#8) ở cung Nam, Lục Bạch (# 6) ở cung Tây, Nhất Bạch (#1) ở Tây Nam, Tứ Lục (#4) ở Trung cung và Cửu Tử (#9) ở cung Bắc là những ngôi sao may mắn cần kích hoạt trong năm. Sơ đồ bố trí vật phẩm kích hoạt các sao cát trong năm 2014:
1/- Bát Bạch #8 (sao may mắn) – cung Nam
Đây là ngôi sao may mắn nhất trong tất cả các sao, giúp mang lại tiền của, thành công và hạnh phúc, giảm sự chống đối và thù địch. Trong năm 2014, khi bay vào cung Nam thuộc hành Hỏa, ảnh hưởng của Bát Bạch (thuộc hành Thổ) sẽ gia tăng đáng kể, mang lại nhiều điều tốt lành cho người sinh tuổi Ngọ và những ngôi nhà hướng Nam. Trung Nữ 9-van-may-1(con gái giữa) trong gia đình và những người có phòng ngủ hay cửa chính rơi vào cung Nam sẽ được lợi nhiều nhất từ ngôi sao này.
Hơn nữa, sự kết hợp giữa sao số 8 của năm và sao số 3 của vận (khoảng thời gian 20 năm tính từ 2004 đến 2024) còn tạo nên tổ hợp Hà Đồ may mắn, giúp gia tăng năng lượng tốt lành.
Tăng cường vận may : – Dọn dẹp cung Nam cho sạch đẹp, giúp khí lưu thông tốt.
– Treo chuông gió kim loại 8 ống ở cung Nam của ngôi nhà, chuông gió sẽ tạo nên âm thanh thích hợp để thu hút vận may. – Bài trí các vật thuộc hành Thổ (pha lê, gốm sứ…) để kích hoạt năng lương Thổ của Bát Bạch. Tốt nhất là bày biểu tượng núi ở cung Nam. Hình ảnh 8 vị tiên bất tử trên núi đặc biệt thích hợp trong trường hợp này. – Đặt các vật phẩm làm tăng vận may tài lộc như các đồng tiền xu cổ, cóc tài lộc, cá rồng, cây tiền, thuyền buồm….
9-van-may-2Chú ý: Loại bỏ cây cối và không đặt quá nhiều đồ thuộc hành kim ở cung Nam để tránh làm suy yếu năng lượng Thổ của Bát Bạch. Đặt các giấy tờ liên quan tới tài chính ở cung này.
2/. Lục Bạch #6 (sao Thiên vận) – cung Tây
Lục Bạch bay vào cung Tây trong năm 2014. Đây là ngôi sao may mắn, giúp mang lại vận may hay thu nhập bất ngờ. Nó cũng mang lại vận may Quý nhân phù trợ và giúp tăng cường quyền lực. Ngôi sao này ảnh hưởng nhiều nhất tới người sinh năm Dậu và con gái út trong gia đình, cũng như những người có phòng ngủ, cửa chính rơi vào cung Tây và những ngôi nhà hướng Tây.
Lục Bạch thuộc hành Kim, vì vậy khi bay vào cũng Tây cũng thuộc hành Kim, nó sẽ trở nên đặc biệt mạnh mẽ trong năm nay. May mắn sẽ tới với các thiếu nữ trong gia đình, đặc biệt là những người đang tìm kiếm tình yêu. Ngôi sao số 6 ở cung Tây mang lại cho họ vận may lãng mạn, thể hiện bằng đám cưới, đám hỏi.
Tăng cường vận may : Cách tốt nhất là giúp khí lưu thông. Sự chuyển động không ngừng sẽ biến năng lượng thành khí dương mạnh mẽ, mang tới vận may. Thường xuyên mở cửa sổ phòng ngủ nếu phòng được đặt ở cung Tây của ngôi nhà để đón vận may.
Bài trí các đồ vật thuộc hành Thổ (vi dụ những quả cầu pha lê) và hành Kim (Chuông gió sáu ống kim loại, Lục đế tiền) ở cung Tây để tăng cường năng lượng Kim của Lục Bạch.
9-van-may-3Để tăng cường vận may lãng mạn, có thể dùng chuông gió sáu ống kim loại với các biểu tượng tình yêu, hay hộp nhạc có hình ảnh cô dâu chú rể, em bé. Chú ý tránh bố trí cây, nước ở cung Tây vì chúng sẽ làm suy yếu ngôi sao may mắn này.
3/. Nhất Bạch (#1) (sao chiến thắng) – cung Tây Nam
Nhất Bạch bay vào cung Tây Nam trong năm 2014, mang theo cơ hội tuyệt vời trong kinh doanh và sự nghiệp. Những người dành nhiều thời gian tại khu vực này sẽ có hơ hội chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh. Khả năng thăng tiến trong sự nghiệp sẽ rõ rệt hơn nếu bàn làm việc của bạn cũng được Nhất Bạch viếng thăm.
Vận may sẽ tới với những ai có phòng ngủ hoặc cửa chính rơi vào cung Tây Nam, cũng như những ngôi nhà hướng về Tây Nam. Nhất Bạch mang lại may mắn cho người Mẹ trong gia đình và người sinh năm Mùi, năm Thân.
Tăng cường vận may : Trong vận 8 hiện tại (giai đoạn 2004-2024), sự hiện diện của Thủy ở cung Tây Nam giúp tăng cường tài vận, vì vậy đây là thời điểm hết sức thích hợp để kích hoạt hành Thủy ở khu vực này. Cần kích hoạt năng lượng Thủy dương (nước chuyển động) bằng cách bố trí bể cá, bể bơi, đài phun nước, phong thủy luân… ở khu vực Tây Nam của ngôi nhà. Bài trí các đồ vật có màu đen, tím than.
9-van-may-4Bày biểu tượng Cờ chiến thắng, Rùa đầu Rồng và và hình ảnh ngựa, tốt nhất là bằng kim loại tại cung Tây Nam.
Chú ý tránh sự hiện diện quá mạnh của hành Mộc vì nó sẽ làm suy yếu hành Thủy của sao Nhất Bạch. Không bố trí những cây lớn hoặc treo các bức tranh có hình ảnh rừng cây, thảm cỏ ở khu vực Tây Nam của ngôi nhà.
4/. Tứ Lục # 4 (sao lãng mạn, học vấn) – Trung cung
Đây là sao may mắn cho tình yêu và việc học tập. Trong năm, Tứ Lục bay vào cung Trung cung (giữa nhà). Điều này có nghĩa là tình yêu và học vấn sẽ đơm hoa kết trái tại Trung cung của mỗi ngôi nhà, mỗi căn phòng trong năm nay. Người độc thân có cơ hội gặp gỡ tình yêu của cuộc đời mình, người có gia đình sẽ cảm nhận rõ hơn hương vị tình yêu trong hôn nhân. Ngôi sao Lãng mạn này sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ ngôi nhà, mang lại may mắn cho tất cả các thành viên của gia đình cũng như tất cả 12 con giáp.
Kích hoạt vận may tình yêu : – Bày hình tượng Rồng Phượng, đôi Uyên ương và Song hỷ ở khu vực giữa nhà để kích hoạt và thu hút vận may tình yêu.
– Đặt biểu tượng con giáp Đào hoa của bạn ở khu vực giữa nhà hay cung của con giáp này. Chẳng hạn người tuổi Thìn có con giáp đào hoa là Dậu, hãy cố tìm cho mình biểu tượng gà với những nét đẹp bạn mong chờ ở bạn đời, tốt nhất là chọn gà được9-van-may-5làm bằng gốm sứ hoặc là đồ trang sức đẹp. Bạn có thể bày con gà này ở khu vực giữa nhà hay ở cung Tây của ngôi nhà (cung của Dậu). Chỉ nên thực hiện điều này nếu bạn thực sự muốn tiến tới hôn nhân.
Kích hoạt vận may học tập : – Học sinh sinh viên và những người làm nghề viết lách sẽ có lợi nếu dành nhiều thời gian ở Trung cung. Nếu có thể hãy kê bàn học của con bạn vào khu vực này.
– Củng cố khu vực giữa nhà bằng các biểu tượng Tháp Văn Xương, Cá chép vượt Ngọ môn, quả cầu pha lê… để tăng cường vận may học tập.
5/. Cửu Tử #9 (sao thịnh vượng tương lai) – cung Bắc
Trong năm, Cửu tử bay vào cung Bắc. Ngôi sao này được coi là tốt lành thứ hai sau Bát Bạch về mặt kích hoạt tài lộc và thịnh vượng, mang lại của cải và sự thăng tiến trong sự nghiệp, giúp các công việc thực hiện tại thời điểm hiện tại mang lại thành công trong tương lai. Cửu Tử cũng là ngôi sao có tác dụng phóng đại, làm tăng mọi ảnh hưởng, cả xấu lẫn tốt. Nó còn được xem như ngôi sao ‘hỷ sự’, mang tới những sự kiện vui trong gia đình như hôn nhân, sinh con và những dịp vui khác.
9-van-may-6
Sự kết hợp giữa sao số 9 của năm và sao số 4 của vận (2004-2024) ở cung Bắc còn tạo nên tổ hợp Hà Đồ may mắn, sinh ra năng lượng Hỏa. Điều này cho thấy, những ngôi nhà quay về hướng Bắc hay có cửa chính rơi vào cung Bắc nhiều khả năng sẽ có ‘hỷ sự’ trong năm nay. Việc tổ chức những sự kiện gia đình vui vẻ sẽ mang lại nhiều may mắn cho những gia đình này.
Vận may thịnh vượng tương lai sẽ tới với những ai có phòng làm việc, phòng ngủ ở cung Bắc, hoặc ngôi nhà có cửa chính rơi vào cung Bắc. Nam thanh niên, nhất là con trai giữa của gia đình, và những người Tr thay chua 3sinh năm Tý cũng được hưởng vận may của ngôi sao tốt lành này.
Tăng cường vận may : – Giữ cho khu vực Bắc của ngôi nhà luôn được chiếu sáng, tổ chức các sự kiện vui ở khu vực này vì sức mạnh của Cửu Tử sẽ được nhân lên khi có ánh sáng và chuyển động.
– Kích hoạt cung Bắc với các đồ vật có màu đỏ, những quả cầu pha lê màu đỏ, Quan Công với 9 rồng, xâu tiền Cửu Kỳ (xâu tiền 9 xu), các biểu tượng tài lộc (cóc tài lộc, cây tài lộc…). – Trang trí khu vực này với những đồ vật đi kèm số 9, chẳng hạn 9 ngọn nến. – Cây xanh hoặc những lọ hoa tươi có thể tạo năng lượng tốt cho Cửu Tử trong năm nay.

Thuật ngữ cơ bản của Phong Thủy

Thuật phong thủy có một số thuật ngữ thường dùng, lý giải mất nhiều thời gian. Nay liệt kê một số và giải thích sơ lược:

Bát sơn (8 núi): 
Càn sơn, Khôn sơn, Ly sơn, Tốn sơn, Chấn sơn, Đoài sơn, Khảm sơn, Cấn sơn; Dùng bát quái phối hợp với Sơn để đoán cát hung (lành dữ).

Bát phong (8 gió): 
Gió của các phương hướng trước, sau, trái, phải, hai vai, hai chân (cộng là 8 hướng); Bát phong chủ lành dữ của người.

Tam nguyên (3 nguyên): 
Chu kỳ một ngày của phong thủy là 180 năm, Giáp Tý thứ nhất 60 năm là thượng nguyên, Giáp Tý thứ hai 60 năm là trung nguyên, Giáp Tý thứ ba 60 năm gọi là hạ nguyên, Gọi gộp là tam nguyên.

Hạ thủ sa: 
Còn gọi là Hạ quan, Hạ tý, Bất kể là Đông Tây Nam Bắc, hễ xuất thủy về một phương thì đều gọi là hạ thủ. Hễ hạ thủ mà có Sa, thì kết phát. Chỉ cần ở hạ thủ một núi đón được núi thượng thủ (thượng thủ sơn) đi qua, là đất kết (cát địa). Dòng chảy trước huyệt rẽ trái là hạ thủ. Dòng chảy trước huyệt rẽ phải, thì bên phải là hạ thủ. Dòng chảy trước huyệt qui bên phải, thì bên phải là hạ thủ. Nếu tả tý nhất sơn nghịch thủy dài hơn hữu sơn, ôm lấy sơn thủy bên phải; nếu hữu tý nhất sơn, nghịch thủy dài hơn tả thủ, ôm lấy sơn thủy bên trái, thì gọi đó là nghịch quan, chủ tài lộc. Nếu như hạ thủ núi ngắn, ôm không kín thượng thủ sơn, thì trở thành huyệt giả. Hạ thủ trùng điệp, chen chúc, thì kết càng to. Hạ thủ mà không thoáng, thì không tìm huyệt làm gì nữa.

Thổ tinh sơn: 
Lời quyết: “Thổ tinh cao, to, dầy và đoan trang, nhìn dáng sống trâu tựa bình phong”.

Thiên bàn: 
Tức la bàn, hoặc la kinh. Hồ Trọng Cung (Tống) trong “Vi hàng mạn du cảo – Đàm tinh lâm hán lưu thuật thi”, viết: “Quân bần mãi thuật ngã mãi văn (bác nghèo phải hành nghề phong thủy, tôi bán văn chương), Quân bần tự ngã bần nhất phân (bác cũng như tôi, nghèo rớt mùng tơi). Quân hiệp thiên bàn tẩu hồ hải (bác cặp nách chiếc la bàn đi khắp nơi), ngã huề phá nghiên đăng thanh vân” (tôi xách nghiên vỡ bay lên trời xanh). Đối lại thiên bàn là địa bàn. Thiên bàn dùng để đo ánh nắng mặt trời.

Khai sinh phần (sinh phần): 
Người chưa chết đã tìm đất để xây phần mộ.

Mộc tinh sơn: 
Câu quyết: “Mộc tinh lừng lững thấy mà kinh, đổ xuống đất người ta thấy như một cây gỗ nằm ngang”.

Nguyệt kị: 
Nông lịch (âm lịch), ngày mồng 5, 14, 23, là những ngày nguyệt kỵ. Chiếu theo hào tượng và cửu cung, thì mồng 1 đến mồng 9, tuần tự vào cung 1 đến cung chín, mồng 5 là trung cung, vị trí của sao cao nhất, chí tôn, làm việc gì cũng không nên. Từ mồng 10 đến 19, tuần tự nhập cung 1 đến cung 9, ngày 14 là trung cung. Từ đó suy ra, ngày 23 cũng là trung cung, đều phải hồi tự (tránh).

Phụ Mẫu sơn: 
Núi nguy nga sau huyệt.

Thiếu Tổ sơn: 
Núi gần huyệt. Hỏa địa chổ đất nhà dễ bị cháy.

Hỏa tinh sơn: 
Lời quyết: “Hỏa tinh tác tổ tự liên hoa (hỏa tinh là tổ thì như hoa sen), tham cự tương thừa tể tướng gia (tham lớn nên đảm nhiệm công việc của tể tướng)”.

Thủy khẩu sa: 
Núi hai bên thủy khẩu. Thủy khẩu không có sa, thì dòng nước chảy tuột đi, không tốt (cát). Chỗ thủy khẩu, núi ken nhau dày đặc như hàm răng chó, như đàn hạc đứng thành bầy, quẩn quanh, trùng điệp, dài hàng mấy chục dặm, thì đại cát. Nếu có Hoa biểu, Hãn môn, La tinh, Bắc thần thì càng tốt. Loại địa hình này biểu thị dòng chảy tình ý hướng nội, đi một bước ngoảnh lại nhìn, không nỡ rời xa.

Thủy mạch: 
Dòng chảy, như mạch lạc trong cơ thể người, vì vậy mà có tên.

Thủy Dương: 
Bờ Bắc của nước (sông). Xưa gọi mặt Nam của sơn, bờ Bắc của thủy là dương, mặt Bắc của sơn, bờ Nam của thủy là âm.

Thủy đáo cục: 
Nước chảy vào minh đường, gần trước huyệt.

Thủy tinh sơn: 
Lời quyết: “Thủy tinh sóng vỗ ngang trời, hoặc trên đất bằng thì uốn khúc như rắn”.

Lục thập Giáp Tý: 
Ghép lần lượt theo thứ tự thập can, thập nhị địa chi – Người xưa dùng để ghi thời gian là chủ yếu. Lục thập Giáp Tý hết một chu kì thì trở lại từ đầu. Đó là: Giáp tý, Ất sửu, Bính dần, Đinh mão, Mậu thìn, Kỷ tỵ, Canh ngọ, Tân mùi, Nhâm thân, Quý dậu, Giáp tuất, Ất hợi, Bính tý, Đinh sửu, Mậu dần, Kỷ mão, Canh thìn, Tân tị, Nhâm ngọ, Quý mùi, Giáp thân, Ất dậu, Bính tuất, Đinh hợi, Mậu tý, Kỷ sửu, Canh dần, Tân mão, Nhâm thìn, Quý tỵ, Giáp ngọ, Ất mùi, Bính thân, Đinh dậu, Mậu tuất, Kỷ hợi, Canh tý, Tân sửu, Nhâm dần, Quý mão, Giáp thìn, Ất tỵ, Bính ngọ, Đinh mùi, Mậu thân , Kỷ dậu, Canh tuất, Tân hợi, Nhâm tý, Quý sửu, Giáp dần, Ất mão, Bính thìn, Đinh tỵ, Mậu ngọ, Kỷ mùi, Canh thân, Tân dậu, Nhâm tuất, Quý hợi.

Bình tiêm: 
Lỗ huyệt (táng khẩu).

Bình dương: 
Nơi bằng phẳng mà có nước. Đất núi thì phải đứng mà xem, đất bằng thì phải nằm mà xem. Trước địa huyệt ở đất bằng thì phải miên cung thủy (cánh cung đặt nằm), phía sau huyệt thì phải là phản cung thủy (dòng nước như cây cung đặt ngược). Bình dương hay nhất là nghịch thủy sa, vì răng bình dương nước nhiều, chảy thẳng, chảy thẳng mà có nghịch thủy sa thì sẽ có nước xoáy, chảy trở lại. Xem lành dữ ở bình dương như thế nào? “Ngũ ngôn kim cú” viết: Muốn hiểu đất bình dương, thì phải xem dòng chảy bị đẩy như thế nào. Dòng nước bị chảy về kho chứa thì phải phát phú, quý, thọ, đinh. Phân biệt giả long (rồng giả), chân long (rồng thật) như thế nào? Thì nhìn rõ lỗ huyệt. Các dòng nước đều tụ về một chỗ, tung cao là hình thật. Muốn xem long có chân huyệt, thì phải xem đỉnh quý nhân. Lâm quan là chủ yếu, chức vị đến tam công. Cách tìm rồng ở bình dương là ở dòng nước chảy quanh, chổ các dòng gặp nhau thì chính là tụ long. Bên trái thuộc trưởng phòng quan, phía sau cao, phía trước nghiêng, biệt phòng trung bị tổn thương, thì con cả bị tai họa trước tiên. Bên phải thuộc tiểu phòng quan, trước thấp sau cao vỗng thì chết yểu và bại tuyệt khó cưỡng. Phía trước thấp thì nghèo túng, phía sau cao thì chết cả nhà (tuyệt nhân đinh) . Trước, sau, trung phòng đứng, bại tuyệt họa nẩy sinh. Trước, giữa, trái, phải thấp, các phòng nghèo đến cùng; Sau, giữa, trái, phải cao, thì nhà nào cũng hiếm người (ít con cháu).

Bình cơ: 
San nền; chăng giây, đóng cọc phân lô.

Chính trâm: 
Kim Tý Ngọ (kim chỉ Nam) của La bàn.

Khứ thủy: 
Trước huyệt nước chảy đi.

Long: 
Có sơn long, thủy long, ý nói có thể biến hóa.

Long huyệt: 
Nơi kết tụ khí mạch của núi, hợp với xây cất nhà cửa, mồ mả. Tưởng Bình Giai trong “Bí truyền thủy long kinh” viết: “Hoành cung long huyệt sinh vinh hiển (long huyệt nằm ngang cung pháy phú quý). Tả hợp xuyên long chủ phát tài (kết hợp được xuyên long thì phát tài).

Long hổ: 
Hai sa phải và trái bên cạnh huyệt. Cao thấp to nhỏ gần xa phải tương ứng mới hợp cách. Hễ tròn trịa mà cao vút như thái dương, thái âm thì gọi là nhật nguyệt hiệp chiếu: Như đứng xếp hàng, như bút cắm trên giá, như cờ cắm từng dãy thì gọi là Văn vũ thị tùng; ở trái phải hữu long thì gọi là Thiên ất đại ất; ở trái phải chỗ dưới ghềnh thì gọi là thiên hồ, thiên giác; ở trái phải tiền triều, thì gọi là kim ngô chấp pháp; ở trái phải minh đường, thì gọi là Thiền quan địa trừu; ở trái phải thủy khẩu thì gọi là Hoa biểu hãn môn.

Bắc thần: 
Núi nham thạch ở giữa thủy khẩu, cao vài nhẫn, hình thù kì quái, to giống Bắc thần, nhỏ thì giống La tinh, Bắc thần chủ đại quý Tục ngữ có câu: “Một Bắc thần quản vạn binh, phò mã công hầu rạng uy danh”. Hình dáng Bắc thần như sư tử, kì lân, như phượng bay, như tiên hạc, như mãnh hổ, như rồng cuốn.

Tù tự hình (hình chữ Tù: ngoài chữ khẩu trong chữ nhân): 
Địa hình bốn bề vây kín; không có đường ra. Câu quyết: “Bốn mặt nước vây quanh, gọi là bị cầm tù. Vận may thì mới phát một tí, vận rủi thì không nên cơm cháo gì. Ở chỗ góc, sát mép nước thì còn khả dĩ, nếu ở chính giữa thì chỉ có buồn phiền. Thầy thiên văn chớ nói rằng đó là đất hình bàn cờ, vì hễ ra quân là tướng bị mất đầu”.

Thổ táng: 
Phía trước nhô ra.

Động thổ: 
Đào móng xây nhà mới.

Thiết tiêu: 
Lập đạo tràng cầu xin phù hộ. Thiết tiêu ba ngày, gọi là tam triều, thiết tiêu năm ngày gọi là ngũ triều.

Giao khâm: 
Giới han.

Trạch triệu: 
Giáp giới bốn bên của phần mộ.

Hợp thọ mộc: 
Người chưa chết đã đóng quan tài.

Hoa biểu: 
Núi hình thù kỳ lạ ở giữa thủy khẩu, như cột cờ bên ngoài đại sảnh, do vậy bên trong thủy khẩu là đất phú quý.

Nhạc sơn: 
Núi làm nền phía sau huyệt, dùng để chẩm huyệt (huyệt gối đầu lên). Nhạc sơn có ba “cách”: Một là đặc nhạc, từ xa trườn đến, sừng sững áp sát huyệt. Hai là tá nhạc, chắn ngang sát huyệt không cho khoáng (trống trải). Ba là hư nhạc, tuy có núi nhưng tán loạn, xa lắc, thì đó là đất dữ huyệt giả, không thể dùng. Còn có tả nhạc, trung nhạc, trường nhạc, đê nhạc  (núi thấp), cao nhạc, đa nhạc v.v... rất nhiều “cách”. Về hình tượng, chỉ cần cao ráo, có tính chất che chở, không rỗng, khuyết, thì là “cách” tốt nhất.

Dương can: 
Số lẻ của thiên can, tức  Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm.

Dương trạch: 
Nhà ở, Thành trấn, Miếu vũ v.v...

Âm thần: 
Số lẻ của địa chi, tức Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.

Dương sai: 
Trong lục thập Giáp Tý, Kỷ Mão, Kỷ Dậu là âm thần, tam thần trước Âm thần là Dương thần, lần lượt trước Kỷ Mão là Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần; trước Kỷ Dậu là Bính Ngo, Đinh Mùi, Mậu Thân.

Dương thác: 
Âm lịch tháng giêng ngày Giáp Dần; tháng hai ngày Ất Mão; tháng ba ngày Giáp Thìn; tháng tư ngày Đinh Tỵ; tháng năm ngày Kỷ Tỵ; tháng sáu ngày Đinh Mùi; tháng bảy ngày Kỷ Mùi; tháng tám ngày Canh Thân; tháng chín ngày Tân Dậu; tháng mười ngày Canh Tuất; tháng mười một ngày Quý Hợi; tháng mười hai ngày Quý Sửu, là các ngày Dương thác không nên làm gì.

Dương phá âm xung: 
Âm lịch tháng sáu ngày Quý Sửu; tháng mười hai ngày Đinh Mùi, là Dương phá âm xung, không nên làm gì.

Âm thác: 
Trong lục thập Giáp Tý, thì: Giáp Tý, Giáp Ngọ là Dương thần. Ba thần trước Dương thần đều là Âm thác, lần lượt trước Giáp Tý là Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, lần lượt trước Giáp Ngọ là Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ.

Âm can: 
Các số chẵn của thiên can, tức Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.

Âm trạch: 
Đất mộ, mồ mả.

Âm thần: 
Các số chẵn của thập nhị chi, tức Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi.

Âm vị: 
Âm lịch tháng ba ngày Canh Thìn, trăng đóng tại Thìn, tháng chín ngày Giáp Tuất, trăng đóng tại Tuất, đều là Âm vị mọi sự đều không hợp.

Âm yếm: 
Nghi thức cúng tế người chết “Lễ ký – Tăng Tử” chép: “Vị thành niên mà chết thì không được tế, nói gì đến âm yếm, dương yếm?” Chú thích: “Tế người chết đã thành niên, bắt đầu thiết điện tại nơi sâu trong nhà, rồi rước thi thể ra phía trước điện, gọi là âm yếm, sau khi dựng thi hài lên, chuyển đến xó (góc) tây bắc trong nhà, gọi là dương yếm”.

Âm long: 
Phương vị quái khí được số âm thì gọi là âm long. “Hiệp kỷ biện phương thư”, quyển 33 viết: “Thập nhị tịnh âm long, thích hợp với dung âm khóa; Thập nhị tịnh dương long, thích hợp với dương khóa.”

Âm đức: 
Ngầm ban đức cho người, còn gọi là Thần nguyệt nội âm đức.

Âm tiền: 
Có người cho rằng: Người ta sau khi chết cần tiền tiêu ở âm phủ, nên làm tiền giấy.

Lai long: 
Chủ sơn (chủ về núi). Gốc gác của long mạch Triệu Dữ Tự đời Tống tại “Tân thoái lục”, viết: “Chu Văn Công (Hy) thường đàm luận với khách về thuyết phong thủy, nhân đó nói: “Kỳ châu phong thủy rất đẹp, các núi lẩn trong mây, lai long (rồng đến) đấy !” Ngô Khưu Thụy đời Minh trong “Vân Bích ký” viết: “Gò trước mặt có một chỗ đất tốt, lai long (rồng đến chầu) khứ mạch (mạch vươn đi) kề núi thấp chầu núi cao, chỗ nào cũng hợp cách”.

Cáo huyệt: 
Thông báo cho thân hữu, ngày nào đưa đám, an táng tại đâu.

Tác táo: 
Quy tắc đắp bếp thời cổ. Năm dương (dương niên) thì bếp quay mặt hướng tây, năm âm (âm niên) thì bếp quay mặt hướng nam. Kiểu bếp thì có quy tắc như sau: Dài bảy thước chín tấc, dưới ứng với Cửu châu, trên ứng với Bắc đẩu, rộng bốn thước, ứng với bốn mùa. Cao ba thước, ứng với tam tài (thiên, địa, nhân). Cửa bếp rộng một thước hai tấc, ứng với 12 giờ, đắp (hoặc gắn) hai lưỡi búa, ứng với nhật nguyệt. Lỗ bếp to tám tấc, ứng với bát phong.

Khởi tán: 
Thường gọi là thập kim. Khởi, nghĩa là đào đắp Kim tinh (phần mộ), tán, nghĩa là chôn hài cốt.

Thôn táng: 
Co lại về phía sau.

La tinh: 
Phía trong hàng rào thủy khẩu, nổi lên một gò bằng đá hoặc đất, có ý nghĩa như ngôi nhà, bốn bên có nước bao bọc, loại địa hình như vậy gọi là La tinh. Gò đá là tốt nhất, thứ đến gò đất. Hình dáng nhọn, tròn, ngay ngắn, vuông, dẹt đều đẹp. La tinh có thật và giả; La tinh thật có đầu, có đuôi, đầu ngược thượng lưu, đuôi thả theo dòng chảy. Chọn được chổ đất này, tất đại phú quý.

La thành viên cục: 
Huyệt có chầu phía trước, đỡ phía sau, bốn bên nối tiếp nhau; La thành, nghĩa là núi giăng như bức thành. Viên cục, như tam viên tinh trong thiên văn, bảo vệ ngai vàng. La thành và Viên cục là chỉ các rặng núi hộ vệ xung quanh. Tục ngữ có câu: Ôm ấp vây quanh không chổ hở, nghiễm nhiên trở thành một trời đất riêng. Hình thể này là đại cát.

Cô phong độc tú: 
Một núi lẻ loi chầu trước huyệt. Nghe nói, long kỵ cô độc, nên không kết (bất cát).

Kim tinh sơn: 
Câu quyết: Kim tinh hình thể tròn trịa, cong cong như nữa vầng trăng, đẹp đẽ khôi ngô như chàng nghĩa sĩ, oai hùng uy vũ nắm binh quyền.

Quan quỷ cầm diệu: 
Tên bốn loại sa, phát ra dư khí ở phía trước, sau, trái, phải của chân huyệt, phía trước là quan, phía sau là quỷ. Quan tinh (sao quan) phía ngoài huyệt, sinh ra từ long hổ ôm ngang đằng sau án sơn, sau lưng có núi quay ngược hướng về phía trước. Quan tinh phải quay đầu lại, không được đứng sững. Quỷ tinh, sinh ra từ sau lưng núi chính và núi xòe ra từ phía sau huyệt. Có tác dụng gối cho huyệt Quỷ tinh không được cao quá, vì cao quá sẽ lấy mất vượng khí của huyệt. Cầm tinh là núi đá ở giữa thủy khẩu. Cầm tinh ở bên trái bên phải minh đường hoặc trong nước, chầu vô huyệt như có tình. Nếu như cầm tinh cao tới hai, ba trượng, hình dáng như cây măng, cây hốt, như cá bơi rồng lội, thì quan làm đến cực phẩm. Diện tích núi là đá sắc nhọn, to, nằm ngoài khuỷu chân long hổ, bên trái, bên phải huyệt. Không có sao quan thì không quý, không có sao thủy thì không phú (giầu), không có sao Cầm thì không vinh (vẻ vang), không có sao Diệu thì không bền.

Thần sơn tọa: 
Quả núi lớn trước huyệt, dòng nước chảy đi. Ca dao: “Thủy khẩu một núi như hổ nằm, quay đầu lại không cho mọi người qua lại. Cao vút chắn đường, nước khó chảy, tên gọi núi này: Thần sơn tọa”.

Thụ tạo: 
Xây dựng nhà cửa, thành quách, đền chùa, kho tàng.

Tu tạo: 
Sửa chữa, hoàn thiện. Chú trọng tọa hướng trung cung, phía lưng thì cửa sau nhỏ, phía mặt (hướng chính) thì cổng to, trung cung lấy sảnh đường làm chuẩn.

Tu sơn: 
Tu tạo sau nhà (phòng ốc).

Tu hướng: 
Tu tạo trước nhà.

Tu phương: 
Tu tạo hai bên sườn nhà.

Tu trung cung: 
Tu tạo các phòng vây quanh phòng giữa.

Loan đầu: 
Hình thế sơn mạch.

Hiệp: 
Nơi sơn mạch đứt rồi lại tiếp tục, hai núi kẹp hai bên. Gió thổi nước xối, hiệp là dữ.

Thai tức sơn: 
Núi kéo dài như một đường.

Cữu: 
Quan tài.

Hàn môn: 
Hai núi đối mặt nhau ở thủy khẩu, như bảo vệ cửa ngõ, phát của quý.

Án sơn: 
Núi gần và nhỏ trước huyệt, có nghĩa như quý nhân ngồi trước án xem xét chính lệnh. Án sơn như ngọc kỷ (bàn bằng ngọc) hoành cầm (cây đàn đặt ngang), các dáng: Ngay ngắn, tròn trịa, đẹp đẽ, mầu sắc rực rỡ, bằng phẳng, tề chỉnh, ôm vòng, có tình cảm đểu tốt.

Tân chủ: 
Hai núi đối diện nhau. Lời quyết: Tân (khách) phải có tình, chủ phải thật lòng, nếu chủ và khách không nhìn mặt nhau thì biết rằng đất này vô duyên.

Phá thổ: 
Đào đất xây mộ.

Khởi cơ định tảng: 
Tảng là viên đá chân cột. Bắt đầu đào móng, cố định đá tảng. Cố định xong đá chân cột thì hình thể đã được xác lập.

Tức đạo: 
Nội thủy khẩu.

Chư gia ngũ hành: 
Tức chính ngũ hành, phương đông Mộc, phương nam Hỏa, phương tây Kim, phương bắc Thủy, trung ương Thổ.

Triều sơn: 
Núi ở xa mà cao phía trước huyệt, có nghĩa như chủ và khách đối diện nhau, thành hình thế thiên nhiên triều cống, chủ đại phú quý.

Triều thủy: 
Dòng chảy đặc biệt trước huyệt nếu khuất khúc, quanh co, mềm mại thì cát (lành). Một gáo triều thủy có thể cứu vãn cảnh bần hàn.

Tạ thổ: 
Công trình xây dựng xong, hoặc chôn cất xong, cử hành lễ tạ.

Táng khẩu: 
Tức Kim đẩu khẩu. Kết huyệt có ngang, chéo (chếch), thẳng, nhưng đều có vị trí trong chữ thập ở thiên tâm, vị trí giữa chính là táng khẩu.

Giải trừ: 
Thu dọn lau rửa nhà cửa để giải trừ tai ách.

Phùng trâm: 
Chỉ kim nằm giữa kẽ Nhâm Tý và Giáp Ngọ.

Tụ thủy: 
Nước tụ lại. Nước vốn động đều hay là ở chỗ tĩnh, tĩnh tất tụ lại. Thủy triều không phải là nước tụ. Nước tụ tất có tài nguyên.

Lậu đạo: 
Ngoại thủy khẩu.

Giải thích các thuật ngữ: 
Tích khí phải xem trăng sao, giang sơn chọn điều tốt lành. Người thông hiểu có cách đặt tên theo hình thế. Hình dung núi trập trùng, thì có tên sơn long. Chỉ nước chảy dài mãi, có tên là thủy thành> Lai lịch thì gọi là tổ là tông, nguyên như lúc khởi đầu. Để ở thì gọi là Trạch là Triệu, có thể về đấy, ở đấy. Gọi là Hiệp thất, tức huyệt ẩn sâu mà không lộ. Gọi Phò môn có nghĩa là bảo vệ minh đường. Gọi Nguyên khiếu, tức đạo là bãi cát. Gọi Nuyên trung, tức lậu đạo (tiểu thủy khẩu) có đá trôi. Gọi mắt biển, tức vô cùng thoáng đãng. Gọi Thiên hồ, tức vừa rộng vừa phẳng. Gọi Phản trụ, tức bỏ chủ mà đi. Gọi Đằng điên, tức kết đỉnh mà chưa ở lại. Gọi Thổ thiệt, tức mồm miệng chưa đầy. Gọi Biển hung, tức định thoát đi mà không có dây. Gọi loạn y thường ăn mặc lung tung, vì núi không rõ nét. Gọi hoàng đao lũng (gác ngang đao) vì dải núi nhọn hoắt. Gọi Hàm tu (e thẹn) vì bờ ruộng cao ngang mày. Gọi Áp tư (ôm của), vì như một đống trứng gà xếp liền nhau. Gọi Sai nha, vì hành động bậy bạ. Gọi Đằng mạn (dây leo), vì thân mềm oặt. Gọi Uyển diên (uyển chuyển) vì hình thế hồi cung (quay lại ôm lấy). Gọi Huyền bạo (thác đổ từ trên cao xuống). Gọi Triều tông (chầu tổ) vì các sông chảy vào biển. Gọi Nhập miếu (vào trong miếu), vì linh thiêng, đem lại hảo vận. Vậy là đều lấy ý nghịch ý, lấy tình đo tình. Huống hồ những nơi sâu xa và mông lung ấy, từng không có căn cứ, kích thước nào cả. Nếu không công tâm thì không thể làm rõ, nếu không sáng suốt thì không nhận ra hình. Đắc đạo thì trở nên chí diệu, giỏi tính toán thì đạt tới tinh vi.

Lược trích theo“Quản thị địa lý chỉ mông”

Phong Thủy (Địa sinh học) hoặc môn học về các luồng sóng độc hại “Tử Khí”

    Đa số các tác giả đều cho rằng có những tia độc hại (tử khí) phát ra từ cơ thể, vùng đất, dòng nước chảy, gây trở ngại cho sức khỏe, cơ thể, có thể đưa đến bệnh trầm trọng thêm cho từng người như: tâm thần, thấp khớp hoặc ung thư.
Vậy thì sự thật là do đâu? Thử nhận xét về vấn đề này qua các yếu tố cụ thể của Địa sinh học, theo sát nghĩa thì đó là khoa học tổng quát, nghiên cứu về các sự kiện liên quan giữa các sinh vật và trái đất.
    Do đó các nhà nghiên cứu đã đề ra môn y học về chổ ở. Rất nhiều nhà nghiên cứu, thường là nhà Cảm xạ học, đề nghị cho phép xem lại căn nhà của những bệnh nhân, nhất là những trường hợp bệnh như:
-         Mất ngủ
-         Mệt mỏi; bần thần khi thức dậy
-         Đau nhức khớp xương
    Mà trong quá trình điều trị lâu dài; bệnh thì lúc giảm lúc không, thì có thể nguyên nhân là do bức xạ từ chổ họ ở, ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh.

Luồng sóng độc hại (tử khí) từ nơi ở:
    Nếu tổng hợp các nghiên cứu khác nhau về luồng sóng độc hại thì sau đây là 4 nguyên nhân chính:
                   1/. Luồng địa từ trường.
                   2/. Các dòng chảy ngầm dưới lòng đất.
                   3/. Ngôi nhà.
                   4/. Dòng điện.

1. Sóng độc hại do địa từ trường:
    Con người chúng ta luôn bị đặt nằm giữa các luồng từ trường như luồng bất biến nằm ở trục Bắc Nam, luồng nội xuất từ quả địa cầu, luồng ngoại chiếu từ các tia mặt trời mà mật độ ngày càng cao, có chu kỳ 11 năm một lần, tất cả các chấn động của mặt trời đếu xuất hiện.
Những tác động của địa từ trường không cách nào tránh được, nên chúng ta càng không có cách nào diệt chúng được.

2. Sóng độc hại từ các nguồn nước ngầm:
    Một số ngôi nhà tọa lạc trên mạch nước ngầm, sông suối ngầm, thảm nước, dòng chảy, thường bị nhiễu loạn gây ra điều húy kỵ. Hơn 50 năm qua, có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này như:
    Cha sở Mermet cũng cho rằng những bức xạ xấu này được truyền đi dần dần, đến tất cả những ngôi nhà tọa lạc phía trên chúng, gây ra triệu chứng khó chịu và mất ngủ cho những ai ở trong ngôi nhà đó.
    Những năm gần đây, Herbert Douglas, nhà cảm xạ học người Mỹ, đã bỏ công nghiên cứu vấn để này qua ngôi nhà của các bệnh nhân ung bướu và thấp khớp. Ông đã dùng đũa để tìm ra các mạch nước ngầm chảy ngang qua nơi đặt giường của các bệnh nhân và hầu hết không phải chỉ có một mạch mà có nhiều mạch đan chéo nhau. Khi đi ngang qua giao điểm của các mạch nước thì đôi đũa chập lại và cũng là cơ sở để xác định chỗ đau của bệnh nhân. Ông đã kể lại một trường hợp thật đáng kinh ngạc: có một phụ nữ trạc tứ tuần, ngụ tại Vermont, thường bị đau nhức ở vùng cổ, gáy và đầu gối khi ngủ dậy vào buổi sáng. Ông nói: bà ta đã đi trị bệnh nhiều nơi nhưng không khỏi. Tôi liền kiểm tra cả hai giường đặt trong phòng ngủ của bà ấy vì không hề biết bà ta ngủ giường nào. Giường thứ nhất chỉ có một mạch không đủ lực tác động. Giường thứ hai có nhiều giao điểm của các mạch ngay dưới gối nằm, đúng ngay vị trí vùng cổ. Tôi tiếp tục kiểm tra và phát hiện ở khoảng cách 45cm từ mép dưới gối có các giao điểm của các vạch. Với khoảng cách này, không thể nào tương ứng với vùng đầu gối của bà ta. Tôi nói về điều không hợp lý này nhưng bà ta trả lời rằng: khi tôi nằm ngủ, chân tôi gấp lên cần cổ và nơi đó rất phù hợp với vùng đầu gối của tôi.
    Nhưng điều thắc mắc ở đây là: Tại sao có sóng độc hại tạo bởi các mạch nước ngầm? Lời giải thích: Các mạch ngầm này tạo ra các lường điện phát sinh các luồng sóng điện từ rất yếu.
    Trong cuốn “Các trường điện từ và sự sống”, nhà bác học người Nga, giáo sư Presman ở trường đại học Matxcova cho biết: hệ thống thần kinh trung ương có đặc điểm là rất nhạy cảm với các cường độ thấp hơn các cường độ cao.
    Để đưa ra kết luận về những tác động xấu của mạch nước ngầm, Herbert Douglas cho rằng: khi nơi ở càng có nhiều mạch nước ngầm thì nơi ấy sẽ gây ra nhiều chứng bệnh trầm kha; đối với người bị ung thư tuyến tiền liệt, người ta phát hiện dưới chỗ nằm ngay nơi bị bệnh có giao điểm của 7 mạch nước ngầm, còn trường hợp của người bị ung thư phổi thì có giao điểm của đến 35 mạch. Từ đó, ông đã đưa ra lời khuyên: nên tìm những nơi không có giao điểm của các mạch nước ngầm để đặt giường nằm.

3. Sóng độc hại từ chính ngôi nhà:
    Từ giả thiết về sự phát sóng hình dạng, sự nhiễu loạn về khối lượng của nơi ở có thể là những nguyên nhân khác của sóng. Ví dụ như trong nhà có những màu sắc độc hại, có một máy có công suất mạnh, có máy nước nóng, lò sưởi, một vài loại giấy mạ kim loại, những bức tượng nhỏ được nạp điện, lò sưởi âm trong tường, những giếng bị lấp...
    Trong tài liệu về cảm xạ học và sự phát sóng hình dạng, ông Jean Pagot đã kể lại một câu chuyện về luồng sóng độc hại ở nơi đặt bể cá trong nhà bếp của một ngôi nhà ở Seine và Marne: cho cá vào bể, sau 3 tuần đều chết hết, người ta lại thay nước, lại cho cá vào, 15 ngày sau cũng không còn con nào sống sót, lần thứ 3 cá được cho vào bể cũng chết sạch trong vòng 15 ngày; không chỉ có cá chết mà các loại cây để trong bể cũng không sống được. Ngay cả đồng hồ treo tường chạy bằng transistor treo ngay phía trên bể cá cũng ngừng chạy. Nhưng nếu nó được treo nhích sang bên phải bể cá khoảng 1m thì đồng hồ hoạt động bình thường. Nếu dùng đũa kiểm tra thì thấy đũa phản ứng mạnh ở trung tâm nhà bếp, và đũa dạt ngang ở ngay trên bể cá, mà sau đó được nghe kể lại rằng nhà bếp được xây trên một giếng đã được lấp đất. Rõ ràng, chính cái giếng bị lấp này đã tạo ra các luồng bức xạ xấu.
    Nếu điều chỉnh ngôi nhà bằng luồng sóng Alpha dọc và cho phục hồi lại bể cả và chờ đợi... Tất cả cá và cây đều sống và lớn nhanh trong vài tuần, và đồng hồ cũng chạy đều ở bất kỳ nơi nào.
    Tất cả các chuyên gia đều cho rằng: không khi trong lành là không khí không bị ion hóa (còn gọi là bị nhiễm điện từ) và cũng thế, trong một ngôi nhà chứa nhiều đồ đạc, cũng có thể bị hung kỵ do tác động của các vật liệu xây dựng như: tường, cửa, mái lợp. Ngày nay, người ta đã chế ra những loại máy nhỏ dùng điện tạo ra các ion âm luôn thường trực trong ngôi nhà. Một số nhà nghiên cứu cũng cho rằng: các đồ đạc đặt sai chỗ cũng tạo ra các bức xạ xấu, thường đồ đạc đặt ở góc thì không có bức xạ.
    Để kiểm chứng cho sự kiện này, người ta thử đặt hai chậu cây, hoặc gieo hạt trong hai chậu, một chậu được đặt trên đồ đạc, chậu kia được đặt ở góc nhà, nếu cây nào bị èo uột thì chuyển đi nơi khác để tìm ra nơi không có bức xạ xấu.
    Nhà cảm xạ thì đơn giản hơn! Dùng đũa hoặc quả lắc để tìm, xác định các luồn bức xạ ấy.

4.Sóng độc hại từ nguồn điện:
    Điện đã đem lại nhiều tiến bộ cho đời sống của con người từ hơn một thế kỷ nay, nhưng gần đây, điện cũng bị nghi ngờ là nguyên nhân phát sinh các nguy cơ tật bệnh.
    Bác sĩ Jean Pierre Maschi, chuyên viên y tế, đã khẳng định rằng: chính sự nhiễm điện là nguyên nhân gây ra nhiều trở ngại cho sức khỏe con người. Trong một ngôi nhà có nhiều dòng điện cao thế đã tạo ra một từ trường gây nguy hại cho con người, đưa đến những chứng bệnh xơ vữa động mạch, thấp khớp. Vị bác sĩ này, trong suốt 20 năm đã dùng muối khoáng và những lời khuyên gìn giữ vệ sinh để chữa bệnh. Ông thật xứng đáng với danh hiệu: Huân chương thầy thuốc được trao tặng vào năm 1968.
    Ngôi nhà của chúng ta hiện nay có thể bị nhiễm điện từ trường từ 2 nguồn:
                   -    Phía ngoài là các dòng điện cao thế.
                -    Bên trong là các bức xạ từ các luồng xung sóng của đủ các thứ máy móc phát ra hằng ngày.
    Sự nhiễm điện này cũng đủ cho các nhà nghiên cứu nghiêm túc đưa ra những cuộc khảo nghiệm cho từng nhóm người.
    Năm 1986, một cuộc nghiên cứu trên 550 ngôi nhà ở Denver (bang Colorado) đã cho thấy, có từ 10% đến 15% trẻ em sống dưới các dòng điện hạ thế đã bị căn bệnh ung thư xâm nhập, còn các em sống ở đây mà có thêm máy biến điện nữa thì nguy cơ mắc bệnh lên đến 50%.
    Vào năm 1988, tờ báo y tế Mỹ, đưa ra bảng thống kê: 1583 phụ nũ mang thai khi phải ngồi làm việc với máy vi tính 20 giờ/1 tuần thì có đến 80% bị sẩy thai.

    Cuối cùng, những luồng sóng vô tuyến điện cũng bị nghi ngờ là đã gây ra trở ngại cho cơ thể con người. Hơn nữa, trong thế chiến thứ hai, đã có rất nhiều chuyên viên vi tính bị chết do những vết nóng rát bên trong. Còn các phi công và các nhân viên điều hành hàng không thì bị xơ cứng động mạch rất nhiều vì phải đối diện thường xuyên trước màn hình radar. Và người ta khám phá làn sóng FM của đài phát thanh cũng nguy hiểm không kém vì đã gây ra chứng buồn nôn nhức đầu một bên.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Follow by Email

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.