bài viết trong chuyên mục "phong thủy địa danh"

Hiển thị các bài đăng có nhãn phong thủy địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng

Quý nhân nâng đỡ, con giáp này may mắn vượt qua tháng cô hồn xui xẻo

Tháng 7 âm khí vượng, dễ khiến chúng ta gặp xui xẻo. Nhưng tử vi tháng cô hồn đã chỉ ra 3 con giáp may mắn được quý nhân nâng đỡ vượt mọi trùng nan.

Tuổi Tý


xem tu vi thang co hon con giap may man duoc quy nhan nang do
Quý nhân nâng đỡ tháng cô hồn 2018 cho bạn là ai? 

Tháng 7 âm lịch hay còn gọi là tháng cô hồn
 vốn được nhiều người cho rằng làm gì cũng xui xẻo, nhưng với tuổi Tý thì mọi chuyện lại diễn biến theo hướng hoàn toàn khác. Mọi người xung quanh cũng không khỏi ngỡ ngàng khi mà ai nấy gặp toàn chuyện không hay mà tuổi Tý lại may mắn đầy mình.
 
Tất cả là nhờ có quý nhân phù trợ nên vận trình của con giáp này mới từ hung hóa cát, khó khăn chồng chất rồi cũng được hóa giải, nhất là trên con đường công danh sự nghiệp. Thậm chí, nhờ được quý nhân tạo cơ hội mà tuổi Tý còn có cơ may thăng tiến ầm ầm nữa cơ. Nhớ theo dõi tử vi hàng ngày để không bỏ lỡ thời cơ nhé. 
 
Đừng quá lo lắng nhé, ở đời không phải lúc nào mọi chuyện cũng được như ý, nhưng ở hiền tất gặp lành, quý nhân nhìn thấy mà thương nên chỉ lối dẫn đường cho tìm thấy bình yên. Mà đặc biệt là tuổi Tý còn được quý nhân tạo cơ hội cho tìm thấy tình yêu của đời mình trong tháng cô hồn này nữa nhé.
 

Tuổi Thìn


thanh cong nho gap quy nhan
 
Xem tử vi tháng cô hồn của 12 con giáp, người tuổi Thìn vận quý nhân vượng, thế nên trong tháng mọi người có xui xẻo đến đâu thì đến cửa ải quan trọng vẫn được thông qua, sớm tìm được cách để hóa giải khó khăn. 
 
Trong cái rủi có cái may, con giáp này nhân lúc khó khăn lại thể hiện được năng lực của mình vượt trội hơn hẳn so với những người khác. Được quý nhân chỉ lối dẫn đường nên khó khăn dần tan biến, con giáp này còn được cấp trên để mắt tới nữa. 
 
Bản mệnh hãy mạnh dạn làm theo suy nghĩ của mình, quyết đoán để tìm ra những con đường mới thay vì đi mãi theo lối mòn. Tháng này là thời điểm để bạn bộc lộ bản thân mình, thay cũ đổi mới, sẽ có những thành quả vô cùng đáng mong chờ. 
 
Quý nhân còn giúp cho con giáp này gặp nhiều cơ hội kiếm tiền, cũng có được tình duyên ấm áp bên mình. Tình yêu đâm chồi nảy lộc, giúp tuổi Thìn có thêm động lực để phấn đấu mỗi ngày. 
Advertisement: 16:46
 

Tuổi Mùi


quy nhan phu tro
 
Lịch vạn niên tiết lộ tuổi Mùi cũng nằm trong số những con giáp may mắn được quý nhân nâng đỡ và vượt qua được hung vận. Con giáp này dễ dàng nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ của người khác mỗi khi gặp phải khó khăn, không phải lo lắng quá nhiều về những chuyện gặp phải cản trở trong vận trình của mình. 
 
Bản mệnh hừng hực khí thế, tinh thần làm việc mạnh mẽ, hăng hái chẳng ngại khó khăn. Bản mệnh còn có thể phải đối mặt với những quyết định khá lớn và có ảnh hưởng nhiều đến bước đường tương lai của con giáp này.
 
Đường tài lộc của tuổi Mùi tháng 7 theo lịch âm cũng có điềm báo khởi sắc, tuy không đến mức vượng tài vượng lộc nhưng chắc chắn là có lợi cho việc cầu tài, đầu tư kinh doanh hay khởi nghiệp đều rất suôn sẻ. Tiền bạc thu về sẽ giúp cho con giáp này thêm tự tin trong những chuyện về sau.
 
Trong thời điểm này, bản mệnh cần kiên nhẫn chờ đợi cơ hội đến với mình. Khi quý nhân mở đường dẫn lối thì cần chủ động nắm bắt cơ hội, không để thời cơ vụt qua tay. Khi đã có cơ hội thì chỉ cần tiến hành theo đúng kế hoạch sẵn có là sẽ có được thành công như ý. Càng rụt rè, sợ hãi thì càng dễ thất bại, bản mệnh hãy mạnh dạn làm theo những điều mình nghĩ.
tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829

Tổng quát địa lý Việt nam
 Đất nước Việt Nam toạ chính hướng trục tung bắc- nam,trục hoành đông tây,”ToạSơn Hưóng Thuỷ”. Phía Tây hoàn toàn dựa vào núi (Trường sơn, Hoàng liên sơn, Tản viên sơn, Tam đảo, Yên tử v.v....Mặt phía Đông từ km 1 rừng Dương Móng cái đến rừng Đước Cà Mau hoàn toàn tiếp giáp với Biển. Độ dốc cao, nhiều sông ngòi, cửa biển, cửa sông (trong đó có Sông Mê công, sông Hồng bắt nguồn từ Thái tổ Sơn ) đi qua và kết thúc ở Việt Nam.

”Chúng Thuỷ triều Đông nghĩa là hàng vạn khe nước đều quy  tụ về hướng Đông (Biển đông). Đây là Thế Đất rất quý, đắc địa:

Đông Mộc+Thuỷ,TâyKim+Thổ ,ngoài ra còn nghĩa “Gốc Bể Ngọn Nguồn”, khi đặt thượng lương phải quay gốc về phía Đông. Do đó yếu tố tâm linh phong thuỷ cực kỳ dồi dào, mạnh mẽ.

 Đó là thế : Nước nhỏ anh hùng, trai tài gái sắc, văn hay võ giỏi, Địa linh nhân kiệt , thời  nào cũng sinh Anh hùng. 

 Theo tài liệu thống kê của: Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thầy Tả Ao, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp hoặc “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự”v.v. thì mỗi Xã , Huyện của Việt Nam còn hàng Chục cuộc đất quý chưa sử dụng tới.Những cuộc đất hiện đang sử dụng chỉ là rất nhỏ so với thực có. Những đất quý này  thường ở ngay xung quanh ta mà không ai để ý tới. (Cũng do trước đây chưa có điều kiện). Hiện nay có nhiều tổ chức, cá nhân đang khám phá và đưa vào sử dụng kho báu đó. Để đáp ứng nhu cầu phát triển của thời đại.

Tầm Long:

Viễn thiên xích vi Thế

Cận bách xích vi hình 

 Cần trông xa,nhìn gần xác định  hình thế  vị trí khu đất mình chuẩn bị đầu tư nằm ở vị trí nào so với Biển, Núi, Sông, Hồ, Danh lam thắng cảnh, Di sản, kỳ quan, Địa linh nhân kiệt, Đô thị, hạ tầng, giao thông v.v. 

Sơn đa ,Thuỷ thiểu .Thuỷ cường , sơn nhược .Thuỷ sơn bất xứng.

Cô âm bất sinh, độc dương bất phát. (thuần âm bất sinh,thuần dương bất phát)

Nhân vô thập toàn , Địa năng thập toàn tai.

Có 4 hình thế chính :

Oa : như cái phễu

Kiềm :Long hổ che hai bên

Nhũ : phình ra như nhũ hoa (bầu sữa)
 Đột : giữa bình địa đột khởi gò cao

Ngoài yếu tố tàng phong tụ khí còn phải xét tới:

Sơn đình

Khí chỉ

Thuỷ tụ

Nghĩa là: núi tới đó dừng lại, có nước tụ trước mặt,tụ khí không có gió lùa.
 Phong Thủy là gió & nước, cho nên phải chọn nơi có không gian lớn thoáng đãng, nước sông hồ thiên nhiên, cảnh quan đẹp đẽ.

Phân biệt Long sinh, Long tử:

Núi non trò trịa cây cối tốt tươi, chim muông sống tự nhiên, khí hậu trong lành, cảnh quan kỳ vĩ. Sông hồ nước sạch uốn lượn mềm mại, tôm cá sống đàn, phong bình sóng lặng là Long sinh rất tốt.
Đồi trọc, núi nhọn đầu, cây cối khô héo, muông thú tuyệt diệt, mương máng sông hồ kè thẳng bằng bê tông, gạch đá xi măng, nước bẩn ô nhiễm, khí độc khắp nơi cua ốc không sống được, đó là Long tử không tốt. Tránh nơi có tử khí ,tà khí ,thần khí ,bênh khí ,ám khí ,xú khí ,uế khí ,thán khí.

Sơn đa,Thuỷ thiểu,Thuỷ cường, sơn nhược.Thuỷ sơn bất xứng.
Núi đồi, đất đá nhiều mà ít nước hoặc nước quá nhiều mà ít núi non đất đá là không tốt..
Cô âm bất sinh, độc dương bất phát, (thuần âm bất sinh,thuần dương bất phát). Chỉ có thuần nước hoặc thuần đất cũng không tốt.
5- Nhân vô thập toàn, Địa năng thập toàn tai.
Con người cũng không thập toàn cho nên kén đất không thể được tuyệt đối, chỉ cần hội tụ những cách cuộc hợp với gia chủ là được.
Trước khi tầm Long , phải am hiểu tinh thần của sơn xuất hiện (tinh phong).

Tinh phong có thiên hình vạn trạng nhưng rốt cuộc đều từ Ngũ tinh mà biến thể.

Có 4 dạng kiểu chính :

Ngũ tinh :Kim , Mộc , Thuỷ , Hoả , Thổ

 Lão cửu tinh : Tham lang , Cự môn , Lộc tồn , Văn khúc , Liêm trinh , Vũ khúc , Phá quân , Tả phụ , Hữu bật .

Thiên cơ cửu tinh : Thái dương , Thái âm , Kim thuỷ , Tử khí , Thiên tài , Thiên cơ  , Cô diệu , Táo hoả  ,Táo đãng.

Lục phủ : (Lục diệu ,Tam thai)

 - Thái dương

 - Thái âm

- Tử khí

-  Nguyệt bột

 - Kế đô

 - La hầu

 Tránh nơi có tử khí, tà khí, thần khí, bệnh khí, ám khí, xú khí, uế khí, thán khí.

 Phân kim:

Bí quyết:

 “Thuỷ phân bát tự,tất hữu long lai”

  Có ngũ hành nhưng  phân kim chỉ có 4 cục, vì Thuỷ Thổ Mộ cùng tại Thìn, Sinh tại Thân,Vượng tại Tý.

Tứ thuỷ tầm Trường sinh pháp :

- Ất Bính giao nhi xung tuất (Hoả cục)

 Tân Nhâm hội nhi tụ Thìn (Thuỷ&Thổ cục)-  Đẩu Ngưu nạp Đinh Canh chi khí (Kim cục)

- Kim Dương thu quý giáp chi ninh (Mộc cục)

Tránh Huỳnh tuyền . 

Điểm huyệt:

Giống như huyệt đạo trên thân thể  con người, các huyệt đạo quan trọng thường nằm  kín để được bảo vệ ,chở che.

 Ngoài ra đóng tại chỗ phì ra như bụng Ong, con Trai, qủa Bí.v.v

 Còn loại đặc biệt tốt là Toạ không hướng mãn, là ngồi giữa bình Địa hoặc Sông, Hồ, Biển...mênh mông không dựa vào đâu (gặp thế đất này nên hỏi ý kiến chuyên gia)

Lập hướng:

Việc lập hướng là sau cùng,cho nên phải hiểu rằng không quan trọng bằng những việc trên.

 Đất tốt thì ai ở cũng tốt. Hướng xấu thì do tuổi nào đó không hợp còn tuổi khác vẫn tốt (có nhiều cách hoá giải).

 Có 24 sơn hướng kết hợp phi tinh tam nguyên cửu vận để chọn nên không khó khăn lắm về việc này.

Nên dùng tuổi Đàn Ông.

Làm phong thuỷ công trình:

Xem Toạ & Hướng:

Những hạng mục: Cửa phụ, cửa thông phòng, Cầu thang, Bể phốt , bể nước, bếp , toalet , tiểu cảnh , ghế của khách , Cổng , cửa hậu .v.v.

Đều phải toạ hung hướng cát. 

Những hạng mục:

 Cửa đại môn , ghế của chủ nhà , Bàn thờ , bàn làm việc , bàn học , két sắt , giường ngủ. v.v.

Đều phải Toạ Cát hướng CátMọi hạng mục trong nhà đều nên lựa chọn  : Chất liệu, màu sắc, hình khối hợp với chủ nhà. Nên sinh nhập, Khắc xuất, chứ không nên Khắc nhập, sinh xuất.Tỵ hoà là bình thường

Chọn hình khối:

-  Kim tròn

- Mộc dài (chữ nhật)

- Thuỷ phì (sóng lượn).

- Hoả tiêm đầu (nhọn,đa giác)

- Thổ vuông

Chọn màu sắc:

- Kim trắng

 - Mộc xanh

- Thuỷ đen

- Hoả Đỏ

- Thổ Vàng 

Chọn vật liệu:

- Kim : sắt thép..kim loại

 - Mộc : Gỗ

- Thuỷ : nước

- Hoả : lửa

- Thổ : đất, đá tự nhiên.

Các hạng mục chức năng

 
Mặt tiền, bậc tam cấp không làm hình thù kỳ dị, không dùng  màu đen hoặc viền khung đen.
Cổng &  Cửa đại môn không thẳng với nhau.

Phòng khách nên vượng khí dương, đang làm quan thì không treo tranh ảnh chùa chiền, sông  biển sóng gió, ruộng vườn. Nên treo Bát tuấn viên đồ.

Hệ thống bể ngầm, bể treo phải toạ hung.

Cầu thang nên đi thuận, gầm cầu thang không nên đặt bể nước, tiểu cảnh.

Phòng bếp tránh cửa lò nhìn ra cửa, miệng bể nước. Đặt thuận thuỷ - mộc  - hoả - thổ.

Phòng ngủ chọn vị trí kê giường hợp phong thuỷ, dùng đèn màu điều chỉnh ánh sáng.

Phòng làm việc (làm bản đồ cửu cung bát quái như văn phòng).

Phòng tắm có  nhiều công năng & thể hiện đẳng cấp nên phải làm phong thuỷ đồng bộ.Két sắt nên đặt trong phòng ngủ, phía đầu giường.
Phòng thờ đặt nơi thanh tịnh, Toạ cát, hướng cát. Tự khí được tuyển chọ cẩn thận 1 lần.

undefined

THẾ ĐẤT 'RỒNG KHÔNG CHÂN' Ở NƠI PHÁT TÍCH NHIỀU DÒNG VUA CHÚA


Tác giả: Lam Hạnh – Thư Trang 
Nguồn: Pháp luật và thời đại
Bốn dòng vua, hai dòng chúa
Thời Bắc thuộc, Thanh Hóa được gọi là Cửu Chân, sau này gọi là Ái Châu. Đến thời nhà Lý, Ái Châu mới được đổi tên thành phủ Thanh Hoa, tên gọi này tồn tại đến triều Nguyễn. Do kiêng tên húy của bà Hồ Thị Hoa (vợ vua Minh Mạng, mẹ vua Thiệu Trị) nên Thanh Hoa được đổi gọi là Thanh Hóa.
Thanh Hóa là tỉnh lỵ của tứ sơn: Bỉm Sơn - Nghi Sơn - Sầm Sơn - Lam Sơn. Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú viết: “Thanh Hoa… các triều trước vẫn gọi là một trấn rất quan trọng. Đến Lê lại là nơi căn bản. Vẻ non sông tươi tốt chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho. Đến những sản vật quý cũng khác mọi nơi. Bởi vì đất thiêng thì người giỏi nên nảy ra những bậc phi thường…”.
Từ thời vua Hùng dựng nước Văn Lang đến khi kết thúc triều đại phong kiến cuối cùng - nhà Nguyễn - vào năm 1945, nhiều dòng họ vua, chúa đều khởi nguồn, phát tích từ đất Thanh Hóa (Ái Châu) mà ra. Đặc biệt, đất Thanh Hóa đã sinh ra hai vị hoàng đế - anh hùng dân tộc: Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đánh thắng quân xâm lược Tống vào cuối thế kỷ 10 và vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đánh thắng quân Minh vào đầu thế kỷ 15.
Thanh Hóa là nơi phát tích của 4 triều đại phong kiến: Tiền Lê, Hậu Lê, nhà Hồ, nhà Nguyễn và hai dòng chúa là Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn.
Theo Thánh Tả Ao, đất phát vương phải là đất hợp đủ các điều kiện: “Ngũ tinh cách tú triều nguyên/Kim, mộc, thủy, hỏa bốn bên loan hoàn/Thổ tinh kết huyệt trung ương/Ấy đất sinh thánh, sinh vương đời đời. Địa danh Lam Sơn thuộc huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa (nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) có hai nơi “tụ khí tàng phong”, nguyên khí hun đúc, đảm bảo đủ các tiêu chí trên. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” viết: “Ông tổ ba đời của vua Lê Lợi tên húy là Hối, một hôm đi dạo chơi đến vùng núi Lam Sơn nhìn quang cảnh quanh đó và chợt thấy có đàn chim đông đúc đang ríu rít bay lượn quanh chân núi như thể núi Lam Sơn có một lực thu hút vô hình, có sức thu phục nhân tâm nhiều như chim đàn về tổ, bèn nói: “Đây hẳn là chỗ đất tốt” và quyết định dời nhà đến ở đấy”.
Tổ nhà Lê dời về đất Lam Sơn chỉ 3 năm đã tạo sản nghiệp lớn. Họ Lê làm trưởng một phương, trong nhà lúc nào cũng có tới hơn 1.000 tôi tớ, trải các đời sau sinh ra Lê Lợi.
Cuốn sách đầu tiên đề cập đến ngôi đất phát dưới chân núi Lam Sơn chính là sách “Lam Sơn thực lục”. Sách ban đầu do Lê Thái Tổ (Lê Lợi) sai soạn và tự viết lời tựa, trong đó có câu: “Trẫm gặp đời nhiều hoạn nạn, mở nước, dựng nền, càng thấy khó khăn! May mà Trời cho, dân theo, gây nên được công nghiệp, ấy thực là nhờ ở các bậc Tổ tông tích lũy mãi nhân đức, mà đi tới cả! Trẫm nghĩ về chuyện đó mãi bèn chép vào sách, gọi là Lam Sơn thực lục (Sách ghi chuyện thực núi Lam) cốt là để trọng nghĩa đầu gốc. Và cũng để kể rõ sự nghiệp gian nan của Trẫm, truyền bảo lại cho con cháu vậy”.
Theo sách "Lam Sơn thực lục”, nhà họ Lê còn được một nhân vật kỳ bí là nhà sư cho biết một huyệt đất phát vương ở động Chiêu Nghi, cũng thuộc vùng Lam Sơn. Lê Lợi sau đó đã quyết định đem di cốt của thân phụ mình chôn ở đó, nhờ vậy mà sau này mới phát tích, trở thành đế vương.
Long mạch đế vương ở Lam Sơn
“Lam Sơn thực lục” viết: “Khi ấy nhà vua (tức Lê Lợi) sai người nhà cày ruộng ở xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi. Chợt thấy một nhà sư già, mặc áo trắng, từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng: - Quý hoá thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn! Người nhà thấy thế, chạy về thưa rõ với nhà vua, nhà vua liền đuổi theo tìm hỏi chuyện đó. Có người báo rằng: - Sư già đã đi xa rồi.
Nhà vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ Lôi, (tức huyện Lôi Dương ngày nay) thì thấy một cái thẻ tre, đề chữ, dịch nghĩa là: “Đức trời chịu mệnh. Tuổi giữa bốn mươi! Số kia đã định. Chưa tới ... tiếc thay!”. Nhà vua thấy chữ đề mừng lắm, lại vội vàng đi theo. Khi ấy có rồng vàng che cho nhà vua! Bỗng nhà sư bảo nhà vua rằng: - Tôi từ bên Lào xuống đây, họ Trịnh, tên là sư núi Đá trắng. Hôm thấy ông khí tượng khác thường tất có thể làm nên việc lớn!
Nhà vua quỳ xuống thưa rằng: - Mạch đất ở miền đệ tử, tôi sang hèn ra thế nào xin thầy bảo rõ cho? Nhà sư nói: - Xứ Phật hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh (ở miền Lảo Mang); bên trong có đồi đất Bạn Tiên. Lấy Thiên Sơn làm án (ở xã An Khoái). Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc (ở thôn Như Ứng). Phía hữu nước vòng quanh tay Hổ. Bên ngoài núi xâu chuỗi hạt trai. Con trai sang không thể nói được nhưng con gái phiền có chuyện thất tiết. Tôi sợ con cháu ông về sau, có thế phân cư. Ngôi vua có lúc Trung Hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết láng lại, thì trung hưng được năm trăm năm.
Nhà sư nói rồi, nhà vua liền đem di cốt đức Hoàng khảo táng vào chỗ ấy. Tới giờ Dần, về đến thôn Hạ Dao Xá nhà sư bèn hóa bay lên trời! Nhân lập chỗ ấy làm điện Du Tiên. Còn động Chiêu Nghi thì làm am nhỏ (tức là nơi một Phật hoàng). Đó là gốc của sự phát tích vậy”.
Chuyện kể rằng mặc dù chôn di cốt vào ngôi đất phát đế vương ấy được Lê Lợi giữ bí mật nhưng giặc Minh vẫn biết được. Chúng đê hèn cho quân đến xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi đào lấy hài cốt linh xa cha của Lê Lợi mang về treo sau một chiếc thuyền đậu giữa dòng sông để dụ Lê Lợi ra hàng, hẹn rằng nếu đến quy thuận sẽ trọng thưởng và ban quan tước lớn.
Lê Lợi sai các thân thuộc của mình gồm 14 người đi đến doanh trại của giặc lấy lại hài cốt của cha mình. Những người này đội cỏ bơi xuôi theo dòng nước, từ thượng lưu xuống, nhân lúc giặc Minh sơ hở đã lấy trộm lại được hài cốt linh xa đem về cho chủ tướng, Lê Lợi bí mật đem chôn cất ở động Chiêu Nghi như cũ.
Lam Sơn là đất cát tường, đất tụ nghĩa, đất xưng vương, mà người đứng lên đảm đương việc mở đầu nghiệp đế của nhà Lê là Lê Lợi. Tuy không liên tục, quyền bính có lúc bị ngắt quãng nhưng trước sau, xét về danh nghĩa nhà Hậu Lê là triều đại có nhiều đời vua nhất, truyền ngôi lâu dài nhất so với các triều đại trước và sau đó.
nui ham rong, lam son, thanh hoa, le loi, vung ai chau, cau ham rong, di tich lich su thanh hoa, tin, bao
Tượng đài Lê Lợi ở trung tâm TP Thanh Hóa
Bí ẩn vùng đất “Rồng không chân”
Các phù thủy phương Bắc nhận thấy hình thế đắc địa của vùng đất Thanh Hóa, lo sợ nơi đây sẽ xuất hiện những bậc đế vương làm thất bại tham vọng bá chủ của chúng nên đã trấn yểm, tìm mọi cách phá bỏ phong thủy xứ Thanh.
Dãy núi Đông Sơn - Hàm Rồng bắt nguồn từ làng Dương Xá men theo sông Mã uốn lượn thành 99 ngọn núi đất, núi đá nhấp nhô như một bức tường thành hình con rồng đồ sộ. Phần cuối nhô lên một ngọn tựa hình đầu rồng nên gọi là Hàm Rồng (tên chữ Long Hạm). Ở đó có động Long Quang (mắt rồng). Thông ra phía sau động có một hang nhỏ là hang mắt Rồng. Trên vòm hang mắt Rồng có một lỗ ăn thông lên trên. Mỗi khi mưa, nước màu gạch cua chảy xuống, người xưa bảo đó là nước mắt rồng. Bên phải vòm hang có một mũi đá nhô ra gọi là đỉnh Long Tỵ (mũi rồng). Mạch đá ngoằn ngoèo chạy sát chân núi rồng rồi ăn ngầm xuống dòng sông Mã tới ngọn Châu Phong là bến Hàm Rồng.
Non nước Hàm Rồng dưới bàn tay xếp đặt của tạo hóa, đã tạo nên những hình thù kỳ dị, độc đáo và đa dạng, có người ví như một “Hạ Long trên bộ”. Từ đuôi Rồng đi lên, ngọn Ngũ Hoa Phong hình năm bông sen chụm chung một gốc cắm xuống đầm lầy. Ngọn Phù Thi Sơn trông giống một người phụ nữ đang nằm ngủ đầu gối vào thân rồng, núi mẹ, núi con tròn như quả trứng. Ngọn Tả Ao trông giống người đàn ông đang nằm vắt chân chữ ngũ, đầu quay về hướng Đông. Ở sát cạnh ngọn con Mèo đang trong tư thế rình mồi, núi Cánh Tiên có 3 ngọn vút lên cao tạo thành mỏm Ba Hiệu, rồi núi Con Cá, Con Phượng, núi Đồng Thông, núi con Voi...
Hàm Rồng được phát hiện như một cõi thần tiên từ lâu qua thư tịch cổ. Sách “Đại Nam nhất thống chí”của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi “A núi này cao và đẹp trông ra sông Định Minh, lên cao trông xa thấy nước trời một màu sắc thật là giai cảnh”. Dưới các triều đại phong kiến, Hàm Rồng bao giờ cũng là vị trí trọng yếu của xứ Thanh trong các cuộc chiến tranh giành độc lập.
Hung địa theo thuật ngữ phong thủy là đất “chu tước bi khốc” (chim cất tiếng kêu sầu), hoặc đất “bạch hổ hàm thi” (con hổ đang ngậm xác chết trong miệng), hoặc “xương long vô túc”(rồng không có chân, rồng bị tật nguyền)… Truyền thuyết cho rằng khi cưỡi diều giấy bay qua vùng núi Hàm Rồng, nhìn thấy huyệt Hàm Rồng, Cao Biền nói rằng địa thế này là hung địa “xương long vô túc”, không phải rồng không chân mà là con rồng què chân, không phải đất cực quý rồi bỏ đi. Nhưng thực tế không phải vậy. Sau đó, Cao Biền đã âm thầm quay trở lại, mang theo hài cốt cha y để táng vào huyệt Hàm Rồng (mả táng hàm rồng) mong sau này có thể phát đế vương. Song dù nhiều lần Cao Biền cho mả cha vào, bộ xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không nhận. Biết rằng đây là long mạch cực mạnh, cực quý nên y rắp tâm làm đến cùng. Biền bèn tán nhỏ xương rồi tung lên thì có muôn con chim nhỏ cùng bay đến, vỗ cánh rào rào làm xương cốt bám trên vách đá bay tứ tán hết. Biền than rằng linh khí nước Nam quá mạnh, không thể cưỡng cầu.
Cuộc chiến phong thủy “độc nhất vô nhị”
Theo mật lệnh của vua Đường, Cao Biền sau khi xem, phát hiện và trấn yểm các kiểu đất kết, đất phát, long mạch của nước Nam đã viết “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” tấu lên nhà vua. Cao Biền trấn yểm Thanh Hóa vào thế kỷ IX thất bại. Hơn 500 năm khi giặc Minh xâm lược nước ta, một phong thủy sư nổi danh của Trung Quốc là Hoàng Phúc cũng sai người đục núi, lấp sông để hòng trấn yểm các huyệt mạch đế vương, hình thành một cuộc chiến phong thủy có một không hai trong lịch sử nước Việt.
Hoàng Phúc xuất thân Tiến sĩ, mang chức Thượng Thư, giữ việc Bố chính và Án Sát trong chiến dịch cai trị đồng hóa Việt Nam. Trong 20 năm thuộc nhà Minh (vào khoảng 1407-1427), Hoàng Phúc bắt khắp nơi lập đền miếu thờ bách thần, thổ thần, sơn thần, thần sông, thần gió... bên cạnh văn miếu. Lập Tăng cương ty và Đạo kỳ ty để truyền bá đạo Phật và Lão cùng với đạo Nho...
Sách “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim viết: “... Bọn Hoàng Phúc lại sửa sang các việc trong nước để khiến người An Nam đồng hóa với người Tàu. Lập ra đền miếu, bắt người mình cúng tế theo tục bên Tàu. Rồi từ cách ăn mặc cho chí sự học hành, cái gì cũng bắt theo người Tàu cả. Còn cái gì là di tích của nước mình như là sách vở thu nhặt đem về Tàu hết sạch. Lại đặt ra thuế lệ, bổ thêm sưu dịch để lấy tiền của, làm cho dân ta bấy giờ phải nhiều điều khổ nhục”.
Hoàng Phúc khi sang đất Việt đã mang theo cuốn “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” để làm bản đồ nghiên cứu địa hình, địa vật nước ta. Thời xưa, sách địa lý là một tài liệu quân sự quan trọng, ghi rõ hình thể sông, núi, đồi, gò, cao điểm, hạ lưu, mạch núi, thời tiết... nên Hoàng Phúc đã tới những tới những linh địa mà Cao Biền ghi nhận. Hoàng Phúc đã xem xét và yểm nốt những đất kết lớn nào còn sót lại nhưng y cũng đã thất bại.
Bình luận về việc này, sử thần Ngô Sĩ Liên viết trong “Đại Việt sử ký toàn thư”: “Từ khi có trời đất này, thì đã có núi sông này, mà khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời, đều có số cả. Khí trời từ Bắc chuyển xuống Nam, hết Nam rồi lại quay về Bắc. Thánh nhân trăm năm mới sinh, đủ số lại trở lại từ đầu. Thời vận có lúc chậm lúc chóng, có khi thưa khi mau mà không đều, đại lược là thế, có can gì đến núi sông? Nếu bảo núi sông có thể lấy pháp thuật mà trấn áp, thì khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời có pháp thuật gì trấn áp được không?”.
Việc phá hủy long mạch tốt, huyệt đất hay của các phù thủy phương Bắc cũng chỉ như muối bỏ biển, bởi xứ Thanh vẫn đời đời sinh nhân tài hào kiệt.
Nhiều vị vua ở các triều đại phong kiến của Việt Nam và Trung Quốc sau khi chết vẫn thường để lại một số mộ giả, còn mộ thật được chôn ở một nơi khác, kín đáo và bí mật. Từ lâu khu Vĩnh Lăng ở Thanh Hóa được xem là nơi yên nghỉ của vua Lê Thái Tổ. Thế nhưng phát hiện khảo cổ học cho thấy nơi đó chỉ là mộ giả. Vào thập kỷ 70 của thế kỷ trước, một người nông dân đi vào khu rừng bạt ngàn cạnh Vĩnh Lăng đã vô tình tìm thấy một phiến đá phẳng. Lật hòn đá lên thấy có khắc dòng chữ “Vĩnh Lăng Tây Thạch Kiệt”, nghĩa là:“Hòn đá mốc ở phía Tây của Vĩnh Lăng”. Lần theo cột đá mốc phía Tây, các nhà khảo cổ đã tìm được cột mốc các phía Đông, Nam, Bắc của khu lăng mộ nhà vua. Điều đặc biệt là riêng khu cột mốc phía Tây, nơi đặt phiến đá “Vĩnh Lăng Tây Thạch Kiệt” đất có màu lạ, cây to không mọc được. Các nhà khảo cổ đã đào sâu xuống đất nơi đặt phiến đá. Thật bất ngờ, những nhát cuốc đã làm lộ ra một chiếc quách tam hợp. Sau khi nghiên cứu, tìm hiểu, các nhà khảo cổ học đã kết luận: Chiếc quách tam hợp tìm thấy chính là mộ thật của vua Lê Lợi. Lần giở lại lịch sử, mới hay, một học giả người Pháp sau khi bỏ nhiều thời gian và công sức, cuối cùng cũng đã tìm được mộ thật của vua Lê Lợi dưới phiến đá “Vĩnh Lăng Tây Thạch Kiệt”.

Đà Nẵng từ góc nhìn phong thủy

 


Đà Nẵng, vùng đất “địa linh” !

Phong thủy ngày nay, không chỉ đơn giản là những nghiên cứu về thông gió, dòng nước của người xưa. Xa hơn, rộng hơn, phong thủy là việc sử dụng, khai thác lợi thế từ địa hình, thế đất, dòng nước...nhằm mang lại lợi ích, sự thịch vượng cho chủ nhân vùng đất đó. Nên có thể nói, phong thủy là trường phái triết lý mang đầy đủ tính khoa học đã được kiểm chứng.


Theo giới chuyên gia, nếu nhìn dưới góc độ phong thủy, Đà Nẵng được xem là vùng đất tụ linh, hội tụ nhiều yếu tố khác biệt .

Trước tiên phải nói đến truyền thuyết hình thành nên vùng đất Đà Nẵng này. Có thể có nhiều truyền truyền thuyết về Đà Nẵng, từ truyền thuyết về vùng đất với sự ra đời của con giao long, sự ra đời của núi Ngũ Hành Sơn và dòng sông Hàn. Nhưng truyền thuyết về vùng đất của Thần Kim Quy thì người Đà Nẵng gốc nào cũng biết đến. 

Tương truyền, trong thời khắc sinh ra của trời và đất, khi Đà Nẵng vẫn còn hoang sơ. Một con rùa biển lớn từ biển Đông bò vào bờ và chọn vùng đất nay là địa danh Ngũ hành Sơn làm nơi đẻ trứng. Khác biệt là con rùa lớn này chỉ đẻ duy nhất 1 quả trứng rồi trở lại biển.

Vết trườn vào bờ của Thần Kim Quy để lại là một rãnh nước kéo dài từ chân núi Ngũ hành Sơn ra đến biển. Theo thời gian, quả trứng nở ra một con rùa thần, con rùa này cũng bò ra biển rồi để lại dấu tích là dòng sông Hàn. Vỏ trứng rùa để lại biến thành 5 ngọn núi Ngũ Hành Sơn ngày nay.

Theo giới địa chất, kiến trúc và nghiên cứu, Đà Nẵng là một trong hai địa phương của Việt Namnằm trong nền địa chất đới khâu với những đặc tính riêng biệt. Đới khâu có nghĩa là hình thành từ rãnh nối giữa các lớp vỏ trái đất đã tồn tại trên hai mảng kiến tạo khác nhau và đã tiếp giáp nhau do sự chuyển động hội tụ của các mảng thạch quyển cổ. Đặc điểm này được ví như tinh hoa trái đất trên một chiếc chiếc “sàng” lớn, khi trái đất vận hành, vạn vật biến đổi…mọi vật trên “sàng” trái đất “tụ” về đới khâu này.

Điều khác biệt tiếp theo của Đà Nẵng so với các TP biển khác là dưới tác động của sức hút mặt trời (dương) và mặt trăng (âm), TP này nằm trong khu vực có chế độ thủy triều bán nhật lên xuống 2 lần/ngày. Trong khi hầu hết các vùng biển khác chỉ có một lần. Theo đó, việc lên xuống của thủy triều gắn liền với sự phát triển, đi lên của vạn vật. Đây là điều kiện góp phần thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt của vùng đất này.

Nếu theo kinh dịch và Phật giáo, thì Đà Nẵng là nơi hòa hợp âm dương ngũ hành với vị trí địa lý đắc địa đối với trong nước và cả trong khu vực. Đi từ Bắc vào Nam ta có núi Tam Đảo (ba), đến Đà Nẵng (trung điểm) có núi Ngũ Hành Sơn (năm) với chùa Linh Ứng cùng truyền thuyết phật giáo nơi đây, tiếp đến vào phía nam có núi Thất Sơn (bảy). Nhìn ra thế giới theo Thuyết Lưỡng Nghi thì Đà Nẵng là tâm điểm của âm dương vũ trụ khi dùng compa xoay một vòng từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái. 

Sở hữu địa thế đa dạng hiếm có gồm: Núi, đồng bằng, sông, biển xen kẽ nhau. Nếu quan sát kỹ, địa hình Đà Nẵng như lòng bàn tay ngửa ra, vuông vức với đầy đủ các nhân tố của của vùng đất linh thiêng. Tính từ đông sang tây, năm đỉnh núi gồm: Ngũ Hành Sơn, Phước Tường, núi Chúa (Bà Nà), Hải Vân và Sơn Trà được ví như 5 đầu ngón tay bao bọc xung quanh che chở lòng bàn tay (TP.Đà Nẵng). Hơn thế nữa, Đà Nẵng có địa thế lưng dựa núi, mặt hướng ra sông và xa hơn là biển Đông với rất nhiều vị trí tụ thủy, tụ linh. Thuyết này đã được Nguyễn Bỉnh Khiêm dịch ra từ học thuyết Nho giáo và kinh dịch Trung Hoa.

Chưa hết, Đà Nẵng có thế đất theo thuật phong thủy gọi là “Rồng chầu hổ phục” với “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” (trái núi Sơn Trà, phải núi Ngũ Hành Sơn). Nhìn ra xa là đảo Cù Lao Chàm án ngữ. Chính vì vậy, không phải vô cớ mà trong quá trình Nam tiến, vua Minh Mạng lại dừng chân tại Đà Nẵng, đặt tên cho ngọn núi là Ngũ Hành Sơn với các địa danh Vọng Giang đài, Vọng Hải đài…Cùng với quá trình tu tập gắn liền với địa danh Chùa Linh Ứng tại đây ngày càng linh nghiệm.

Và càng không vô cớ khi các cường quốc từ xa xưa đều tìm cách xâm chiếm nước Việt, kể cả khu vực Đông Dương qua cửa ngõ Đà Nẵng. Nên để TP có thể phát triển, con cháu đời sau ngày càng thịnh vượng, việc tìm ra những vị trí địa linh là cần thiết và xây dựng nơi đây những công trình xứng tầm càng cần thiết hơn”.
 
Những dự án nhìn từ phong thủy

Với địa hình mang lại cho Đà Nẵng một điều kiện địa lý kinh tế vượt trội. Nhưng trong thực tiễn quy hoạch và phát triển TP, Đà Nẵng chưa vận dụng tốt ưu thế là một vùng đất “tụ linh”. Về vĩ mô, do chưa chọn được chiến lược khai thác đúng tiềm năng địa lý kinh tế hay đúng hơn là theo đúng phong thủy nên Đà Nẵng vẫn chưa phát triển xứng tấm với những gì mà TP được thiên nhiên ưu đãi. 

Với bề dày hơn 300 năm hình thành cảng biển cùng các dịch vụ đóng tàu, khai thác hàng hải…nhưng cảng Đà Nẵng chỉ mới khai thác nhân tố bên ngoài mà không đi sâu phát triển thành cảng trung chuyển của khu vực. Khối lượng hàng hóa thông quan tại cảng Đà Nẵng chỉ đạt 3,3 triệu tấn (năm 2010), bằng 1/4 (15,69 triệu tấn) khối lượng tại cảng Hải Phòng, bằng 1/3 (11,82 triệu tấn) so với cảng Sài Gòn và chỉ bằng 3/4 (4,5 triệu tấn) cảng Quy Nhơn (Bình Định).

Nhiều tuyến đường mở về hướng biển là cần thiết, nhưng việc quy hoạch cần được tính toán hợp lý, tránh phá vỡ thể thống nhất “long mạch” của cụm núi Ngũ Hành Sơn, địa linh hiếm có này. Một loạt các dự án du lịch biển Đà Nẵng cùng tuyến đường ven biển quá sát mặt nước trở thành bức tường “chặn thủy”, cản trở sự “lưu thủy” của biển với đất liền đã gây lãng phí đối với phần diện tích đất phía Tây. Hay đường Trần Đại Nghĩa (Q.Ngũ Hành Sơn) với quy mô hàng chục mét mặt cắt, đi ngang qua cụm núi Ngũ Hành Sơn làm phá vỡ tổng thể của cụm di tích. 

Để phù hợp với sự phát triển của Đà Nẵng, việc xây hạ tầng, dựng nhiều cây cầu bắc qua sông Hàn là rất cần thiết. Nhưng xây sao, dựng thế nào cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng. Cầu Tuyên Sơn và Thuận Phước là một điển hình. Cầu Tuyên Sơn cách xa cảng Tiên Sa gần 20km lại làm nhiệm vụ trung chuyển hàng hóa, trong khi đó cầu Thuận Phước xây sát “bên hông” cảng Tiên Sa thì chỉ để “làm cảnh”. Đầu tư nhiều nhưng hạn chế giá trị về kinh tế cũng là sai phong thủy.

Chưa hết, cách đối xử của Đà Nẵng đối với nhiều công trình được xem là dấu ấn, truyền thống, lịch sử…trong thời gian qua đã “phạm” triết lý phong thủy. Thành Điện Hải, di tích Ngũ Hành Sơn, Tượng đài liệt sĩ TP…là những điển hình khiến dư luận không khỏi quan ngại.

Vẫn còn nhiều “dương cơ”

Đà Nẵng được nhiều lời ngợi khen nhìn từ góc độ khối lượng xây dựng, bộ mặt  bên ngoài. Nhưng nếu nhìn vào bên trong, hiệu quả kinh tế mang lại dựa trên bản chất giá trị cốt lõi vẫn lộ ra bất cập. 

Để sửa những sai phạm về phong thủy chúng ta phải trả giá rất đắt. Thậm chí chỉ có những biến cố thiên nhiên mới có thể “cải” được”. Và điều này thì thật không đơn giản. Tuy nhiên, việc khắc phục những gì đã “phạm” theo thuyết phong thủy cũng vẫn có thể thông qua việc vận dụng các “dương cơ” còn lại. Điều này giống như điểm huyệt các huyệt đạo còn lại vậy.

Đà Nẵng còn nhiều vị trí tụ linh được gọi là “dương cơ” phù hợp với việc xây dựng và phát triển TP Đà Nẵng thông qua triết lý phong thủy. Hiện hữu thì vẫn còn nhiều vị trí được giữ lại và định hướng đúng phong thủy. 
Thư viện tổng hợp Đà Nẵng là một trong những vị trí địa linh của Đà Nẵng. Thư viện còn tồn tại thì cái sự học của người Đà Nẵng sẽ “phát”, còn nếu làm trung tâm thương mại sẽ là “mua một, bán mười”. Đây là các công trình sẽ mang lại sự phồn vinh, phát đạt cho hậu thế. Song việc chọn xây dựng công trình gì, tính chất ra sao cần được xem xét và cân nhắc thấu đáo. Nếu là công trình công cộng, người hưởng lợi là con cháu đời sau, còn nếu là công trình tư nhân thì người hưởng lợi là các ông chủ kinh tế vị trí đó. 


Chính vì vậy, việc lựa chọn các “dương cơ” để “trấn” hay xây cất các công trình rất cần cái nhìn toàn cảnh để người hưởng lợi là con cháu đời sau.

TBst

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Follow by Email

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.