bài viết trong chuyên mục "luận giải sao"

Hiển thị các bài đăng có nhãn luận giải sao. Hiển thị tất cả bài đăng



      Sao Tham lang chủ về vật dục lẫn sắc dục. Cho nên ưa Hóa Lộc, Hóa Quyền, không cần có Văn xương, Văn khúc, Tả phụ, Hữu bật cũng có thể đạt tới phú quý. Gặp Văn xương Văn khúc thì trái lại, còn biến thành vật dục có ý vị phấn son bề ngoài, còn có ý vị xảo trá lừa dối. Tức là nói, ham muốn vật chất lợi về tranh thủ một cách đường đường chính chính, mà không ưa dấu diếm, che lấp lỗi lầm.

      Ở phương diện sinh hoạt tinh thần, sao Tham lang thích sự vật thần bí, nhất là tôn giáo, vu thuật. Thời cổ đại, Tham lang thường có biểu hiện là tu tiên, luyện đan, thời hiện đại thì có sắc thái thần bí của tôn giáo.

      Do Tham lang có biểu hiện tranh thủ ham muốn vật chất, cho nên giỏi giao tế thù tạc, mà những cuộc giao tế này ắt sẽ thiên nặng về tửu sắc. Với khả năng giỏi xử lý quan hệ giao tế, nên thích kết giao bạn hữu, cuộc đời có nhiều sắc thái trong sinh hoạt xã giao. Có Liêm trinh và Văn xương Văn khúc hội hợp, có thể diễn hóa thành thi tửu cầm kỳ.

      Tham lang thủ mệnh không ưa Thất sát tọa thủ cung Thân, cũng không ưa Phá quân tọa thủ cung Thân. Nếu hội Sát tinh, chủ về trôi nổi, hiếu động, hiếu sắc, hoặc chủ về thú vui không lành mạnh.

      Tham lang đồng độ với Hỏa tinh hay Linh tinh, chủ về phát đột ngột. Thời cổ đại chỉ có Võ nghiệp mới dễ có công trạng một cách đột ngột, cho nên cổ nhân nói “Tham lang Hỏa tinh ở cung miếu vượng, danh chấn các nước” (Tham lang Hỏa tinh thừa vượng nhập miếu, danh chấn chư bang). Thời hiện đại, có thể luận đoán là phát một cách đột ngột.

      Tham lang Hóa Kị gặp Hỏa tinh hay Linh tinh đồng độ, chủ về bạo phát bạo bại. Nếu không có Hỏa tinh hay Linh tinh, thì đây là thành công bất ngờ, tức là câu cổ nhân nói “vô tình cắm liễu, liễu xanh um”.

      Tham lang nguyên cục Hóa Kị, niên hạn lưu diệu Hóa Lộc, cũng chủ về “vô tình cắm liễu, liễu xanh um”, là năm có thành công bất ngờ. Nếu Tham lang nguyên cục Hóa Lộc, niên hạn Tham lang Hóa Kị, chủ về năm hạn bị người ta chiếm đoạt lợi ích.

      Tham lang ở cung tứ Mộ là nhập miếu, cho nên cách “Hỏa Tham” hoặc “Linh Tham”, đều lấy trường hợp ở cung tứ Mộ là tốt. Trường hợp Tham lang độc tọa ở Thìn hoặc ở Tuất, cung đối diện có Vũ khúc, và trường hợp “Vũ khúc Tham lang” đồng độ ở Sửu hoặc ở Mùi, đều là thượng cách. Các trường hợp còn lại là kế đó.

      Tham lang ưa Hỏa tinh và Linh tinh, lại không sợ sao Không, cũng không sợ Thiên hình; khi Tham lang có sao Không và Thiên hình cùng bay đến, lại chủ về “đoan chính”. Gặp Thiên hình là chủ về tự kềm chế, định lệ “phép hội sao” không nên gặp thêm gặp Địa kiếp, nếu Địa kiếp cùng bay tới, lập tức trắc trở sẽ ập tới ngay. Tham lang gặp Địa không Địa kiếp, chỉ cần không thấy Kình dương Đà la, hoặc Hóa Kị, là chủ về có khí chất nghệ thuật, có thể làm những công việc có liên quan đến nghệ thuật, như thiết kế, hội họa, nhiếp ảnh, …

      Trong các Sát tinh, Tham lang không ưa Kình dương Đà la, khi hội sao gặp Tham lang đồng độ với Kình dương Đà la, tính tự chủ “đoan chính” sẽ biến thành buông thả, tà dâm, tửu sắc. Tham lang ở Tý thì đồng cung với Kình dương, ở Hợi thì đồng cung với Đà la, đây gọi là “Phiếm thủy đào hoa”. Tham lang ở Dần thì đồng cung với Đà la, gọi là “Phong lưu thái trượng”, đều chủ về vì sắc mà thất bại. Hai cách này nếu hội thêm Thiên hình, lúc này Thiên hình không còn chủ về tự kềm chế, mà biến thành chủ về tai họa lao ngục.

      Cách “Hỏa Tham” hay “Linh Tham”, cũng không ưa gặp Kình dương Đà la, gặp Kình Đà là “phá cục”. Dù lúc này Tham lang có Hóa Lộc, cũng chủ về sau khi hoạch phát lập tức hoạch phá. Nếu lại gặp các sao Phụ Tá, sẽ chủ về trải qua nguy cơ, khốn khó mới lập được công danh. Cho dù không thấy Kình dương và Đà la, sau khi phát cũng nên cẩn thận, nếu không vẫn khó tránh khỏi thất bại một cách nhanh chóng.

      Tham lang độc tọa ở Thân, là nơi chỗ bị kềm chế. Nếu có các sao Sát Kị, và các sao Phụ Tá tụ tập lẫn lộn, chủ về lúc đầu nghèo khó, trải qua nguy cơ mới phát đột ngột, nhưng sau khi phát đạt, thì vì thú vui chơi không lành mạnh mà phá tán, thất bại. Nếu chỉ gặp Sát tinh, chủ về tâm tính tà ám, lợi dụng quan hệ giao tế mưu tính thủ đoạn. Nếu chỉ gặp Cát tinh, có thể phú quý, nhưng luôn phải chú ý duy trì thành tựu đã đạt được. Cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” ở Thân, tính chất bạo phát bạo bại càng nặng.

      Tham lang độc tọa ở Dần, không có Kình dương và Thiên hình hội chiếu (nếu có sẽ chủ về hình phạt), thì lại không thành cách “Phong lưu thái trượng”, nếu có Cát tinh, có thể thành quý cục, nhưng cuộc đời gặp sóng gió không ít; có Sát tinh thì sự nghiệp hưng thịnh, nhưng kiện tụng hay phạm pháp cũng theo đó mà đến. Khi Tham lang Hóa Kị chủ về làm các ngành về công nghệ, khoa học kỹ thuật để mưu sinh.

      Tham lang độc tọa ở Tý, nếu không nhập cách “Phiếm thủy đào hoa”, mà có Cát tinh, hoặc có Thiên hình tương chế, cũng là phú cục, chủ về sau trung niên sẽ phát đạt.

      Tham lang độc tọa ở Ngọ, là cách “Mộc hỏa thông minh”, không có các sao Sát Kị, mà gặp Cát tinh, đây là cách cự phú, hoặc là nhân vật quan trọng trong giới kinh tế tài chính. Gặp Sát tinh thì bình thường, chỉ tiểu phú, nhưng tuyệt đối không nên đầu cơ.

      Tham lang độc tọa ở Thìn hoặc ở Tuất, sau trung niên mới có thể phát đạt. Nếu có các sao Sát Kị cùng đến, chủ về lúc trẻ nhiều nạn tai, bệnh tật. Khác với hệ “Vũ khúc Tham lang” ở Sửu Mùi (tham khảo thêm Vũ khúc thủ mệnh).

      Người sinh năm Thân Tý Thìn có Tham lang thủ mệnh ở Tý; người sinh năm Dần Ngọ Tuất có Tham lang thủ mệnh ở Ngọ; người sinh năm Tị Dậu Sửu có “Vũ khúc Tham lang” thủ mệnh ở Sửu; người sinh năm Hợi Mão Mùi có “Tử vi Tham lang” thủ mệnh Mão, thảy, đều chủ về tham lợi nhỏ, có thị hiếu thú vui không lành mạnh, cổ nhân cho rằng đây là mệnh cách “tranh đoạt, cướp đoạt, trộm cắp”. Thực ra, đây là do tính ham muốn vật chất quá nặng. Nếu có các sao đào hoa bay đến, thì dục tình cũng sâu. Ưa gặp Cát tinh, tính chất không lành sẽ giảm nhẹ, cũng ưa gặp Thiên hình và sao Không, gặp Thiên hình thì có thể kềm chế, gặp sao Không chủ về “thanh bạch”.

      Mệnh cách có Tham lang tọa thủ, thì các cung hạn Thất sát, Phá quân, Thái âm, Thái dương, Cự môn, Tử vi, là những đại vận hay lưu niên có tính then chốt.

      Cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” phải đề phòng lưu niên có Hóa Kị trùng điệp xung khởi tai họa. Nếu lại gặp lưu Sát tinh xung khởi, đây là điềm ứng nghiệm suy sụp nhanh chóng, nếu không cũng là năm dẫn đến suy sụp nhanh chóng.

      Tham lang rất kị cung hạn “Thái dương Cự môn” giao thoa với Hóa Kị của niên vận, chủ về nạn tai hay kiện tụng.

Tuần - Triết và những dấu hỏi



Trong Tử Vi, khi luận bàn về ảnh hưởng của các sao, người luận giải thường lúng túng khi gặp 2 sao Tuần - Triệt bởi lẽ quan điểm của cổ nhân về 2 sao này bất nhất về ngũ hành và cường độ, thời gian ảnh hưởng nên còn rất nhiều tranh cãi và nghi vấn khi luận giải lá số. Chính vì sự bất nhất đó mà người coi số phải lưỡng lự rất nhiều khi đưa ra lời kết luận trong nhiều trường hợp.
Dù sao thì đây cũng là hai sao đặc biệt quan trọng trong các sao của Tử Vi vì Triệt - Tuần không chỉ chi phối các cung mà còn chi phối các sao, biến tốt thành tương đối xấu, xấu thành bớt xấu... nên Triệt - Tuần cần được cân nhắc cẩn trọng khi đưa ra lời luận giải.
sao tuần triệt trong tử vi
Có 4 quan điểm về ngũ hành của Triệt - Tuần:
  • Quan điểm thứ nhất cho rằng: Triệt hành Kim (đới Thủy), Tuần hành Hỏa (đới Mộc)
  • Quan điểm thứ hai cho rằng: Triệt - Tuần không mang hành cố định mà phụ thuộc vào hành của cung mà Triệt - Tuần án ngữ.
  • Quan điểm thứ ba cho rằng: Triệt hành Kim, Tuần hành Thủy.
  • Quan điểm thứ tư cho rằng: Triệt hành Hỏa, Tuần hành Thổ.
Trong 4 quan điểm trên thì phần nhiều người xem số chọn quan điểm thứ nhất cho Triệt hành Kim, Tuần hành Hỏa, sau đó là quan điểm thứ hai cho rằng Triệt - Tuần mang hành của cung án ngữ, còn quan điểm thứ ba, thứ tư rất ít người chọn (nhất là quan điểm thứ tư).
Trong phạm vi bài viết này, người viết trình bày sơ lược một số điểm về Triệt - Tuần mà người học Tử Vi cần lưu ý.

1. ẢNH HƯỞNG CHUNG CỦA TUẦN - TRỆT

Tuần, Triệt án ngữ hai cung và có cường độ ảnh hưởng lên hai cung khác nhau theo nguyên tắc được ước lượng như sau:
Người Dương Nam, Dương Nữ thì cung Dương bị ảnh hưởng hơn cung Âm, cụ thể cung Dương chịu 70%, cung Âm chịu 30% cường độ.
Người Âm Nam, Âm Nữ thì cung Âm bị ảnh hưởng nhiều hơn cung Dương, cụ thể ước lượng cung Âm chịu 70%, cung Dương chịu 30% cường độ.
Khi bị ảnh hưởng mạnh thì ta thường nói bị đương đầu, bị ảnh hưởng yếu thì ta nói bị chận (chặn) đuôi.
Triệt ảnh hưởng mạnh mẽ trong thời gian 30 năm đầu, tùy theo Cục mà có khác biệt (như Thủy nhị cục thì 32 năm đầu), sau đó thì từ từ yếu đi nhưng không thể coì là không có ảnh hưởng. Tại các cung Kim, Triệt có tác động mạnh nhất.
Tuần thì ngược lại, ảnh hưởng không đáng kể vào khoảng 30 năm đầu, nhưng sau 30 tuổi sẽ mạnh dần lên nhưng không ảnh hưởng mạnh mẽ bằng ảnh hưởng của Triệt khi Triệt ở 30 năm đầu. Tại các cung Hỏa, Tuần có tác động mạnh nhất.
Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triệt tạm sắp xếp theo thời gian như sau:
- Dưới khoảng 30 tuổi:
  1. Triệt đương đầu: Mạnh nhất
  2. Triệt chặn đuôi: Mạnh nhì
  3. Tuần đương đầu: Yếu nhì
  4. Tuần chặn đuôi: Yếu nhất
- Trên khoảng 30 tuổi:
  1. Tuần đương đầu: Mạnh nhất
  2. Tuần chặn đuôi: Mạnh nhì
  3. Triệt đương đầu: Yếu nhì
  4. Triệt chặn đuôi: Yếu nhất
Trong từng trường hợp trên cũng có biến động riêng, bởi quá trình thay đổi của Tuần Triệt là quá trình biến đổi: Tuần thì từ từ mạnh lên, Triệt thì từ từ giảm xuống. Như vậy trong trường hợp nếu Tuần chặn đuôi thì nhẹ nhất vào lúc 1 tuổi và mạnh nhất vào khoảng 30 tuổi, còn Triệt đương đầu thì mạnh nhất vào lúc 1 tuổi và giảm dần ảnh hưởng theo thời gian, đến ngoài 30 tuổi thì ảnh hưởng của Triệt giảm đáng kể.

2. ẢNH HƯỞNG CỦA TUẦN - TRIỆT VỚI CÁC CUNG

Thông thường khi đóng tại cung nào thì Tuần - Triệt sẽ gây trục trặc cho cung đó bất kể là đương đầu hay chặn đuôi, trừ khi đóng tại cung Vô chính Diệu trong trường hợp không có hung tinh đắc địa hoặc tại cung Tật Ách thì lại tốt. Chưa cần coi các sao trong cung, chỉ cần căn cứ vào sự án ngữ của Triệt - Tuần người coi số cũng có thể nêu sơ lược được vài điểm trong cuộc sống của đương số.
MỆNH: Tuần - Triệt đóng tại Mệnh thì thuở nhỏ cực khổ gian nan (nhưng nếu gặp chính tinh lạc hãm thì sẽ đỡ hơn), Tuần - Triệt đóng tại Thân (cung an Thân) thì khi lập nghiệp sẽ gặp khó khăn ban đầu, nhưng nếu chặn đuôi thì đỡ hơn. Thân Mệnh đồng cung gặp Tuần - Triệt đương đầu thì nếu trước 30 tuổi đã có sự nghiệp thì tất sự nghiệp đó bị gãy đổ rồi mới bắt đầu lại trong giai đoạn lập thân.
Nhìn chung khi Tuần - Triệt đóng tại Mệnh (Thân) thì đương số là người chật vật trong cuộc sống (hoàn cảnh sống không may mắn, công lao được hưởng không xứng đáng...), hoặc lúc sinh ra mình cha mẹ thường làm ăn vất vả, nghèo hèn (nhất là lá số có Tuần - Triệt liên cung tại Mệnh - Phụ Mẫu). Đồng thời đây cũng là mẫu người lười biếng, kém thông minh, yếm thế, thiếu tự tin, không có ý chí vươn lên trong cuộc sống... nếu không được nhiều cát tinh, văn tinh hội chiếu về Mệnh (Thân) hóa giải.
QUAN: Tuần Triệt đóng tại Quan thì gây trục trặc cho quan trường, nghề nghiệp như lận đận, hay phải thay đổi, không bền vững, thăng giáng thất thường... Tùy theo bị chặn đuôi hay đương đầu và gặp Tuần hay Triệt mà lận đận nhiều hay ít.
Vì quan trường có ý nghĩa nổi bật trong giai đoạn lập thân nên cần chú ý phân biệt giữa Tuần và Triệt vì Tuần có tác dụng mạnh hơn về hậu vận còn Triệt chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ giai đoạn trước 30 tuổi nên khi cung Quan gặp Triệt sẽ đỡ hơn gặp Tuần khá nhiều.
TÀI BẠCH: Tuần - Triệt đóng tại cung Tài thì tiền bạc tụ tán, lúc có lúc không (trừ khi vào đại vận tốt) và thường bị gặp khó khăn khi kiếm tiền. Cho dù sự hội tụ của các sao thế nào (ngoại trừ trường hợp cung Tài vô chính diệu, được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về) thì Tuần - Triệt đóng tại cung Tài cũng khẳng định đương số không thể giàu có lớn được, nhất là khi cung tài bị Tuần án ngữ.
THIÊN DI: Tuần - Triệt đóng tại cung Thiên Di thì đương số ra ngoài thường không được lợi, tuy nhiên nếu ly hương thì lại tốt hơn nhiều.
ĐIỀN TRẠCH: Tuần - Triệt đóng tại cung Điền thì không được hưởng di sản của cha mẹ để lại, phải tự lập và thường bị trục trặc trong vấn đề mua bán điền sản. Cũng như cung Tài, nếu tại cung Điền có Tuần Triệt án ngữ thì chắc chắn đương số không thể có nhiều điền sản lớn được, ngoại trừ trường hợp cung Điền vô chính diệu được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về.
PHÚC ĐỨC: Tuần - Triệt đóng tại cung Phúc thì khiến họ hàng ly tán, không ở gần nhau, thường phải ly hương
PHU THÊ: Tuần - Triệt đóng tại cung Phu Thê thì gây trục trặc cho tình duyên hôn nhân như tình đầu tan vỡ, lập gia đình trễ... Nếu lập gia đình sớm thì gia đạo bất hòa dễ đưa đến chia ly. Tuần - Triệt đóng tại cung Phu Thê cũng là yếu tố đưa đến số phận không chồng không vợ nếu cung Phúc vô chính diệu và hội tụ nhiều sao xấu.
Cung Phu Thê xấu xa mờ ám thì nên gặp Tuần hơn là gặp Triệt vì nếu gặp Tuần thì về sau gia đạo dễ hạnh phúc hơn gặp Triệt, còn cung Phu Thê đẹp đẽ nếu gặp Triệt thì tuy có bị trục trặc ban đầu nhưng về sau thì vợ chồng cũng sống được với nhau đến đầu bạc răng long ...
NÔ BỘC: Tuần - Triệt đóng tại cung Nô thì bạn bè, người giúp việc lúc tụ lúc tán, không bền, khó kiếm được người giúp việc trung thành, cũng khó có được những người bạn tri âm tri kỷ.
TỬ TỨC: Tuần - Triệt đóng tại cung Tử thì gây trục trặc cho đương số về vấn đề con cái như không có con, muộn có con, hoặc sinh con đầu lòng khó nuôi, hoặc con không hợp với cha mẹ…
HUYNH ĐỆ: Tuần - Triệt đóng tại cung Huynh Đệ thì anh (chị) trưởng nếu không đoản thọ thì cũng là người cùng khổ cô đơn, hoặc anh chị em không sống gần nhau, hoặc bất hòa, không giúp được nhau mà còn hại nhau...
TẬT ÁCH: Tuần - Triệt đóng tại cung Tật Ách bất kể là đương đầu hay chặn đuôi thì đương số suốt đời mạnh khoẻ, ít bệnh tật, ít gặp tai họa, nếu có tai hoạ cũng tránh được họa lớn... Trừ khi có sao kỵ Tuần - Triệt như Thiên Tướng, Tướng Quân thì nếu Đại vận xấu sẽ dễ đưa đến cái chết bất ngờ nhanh chóng.
PHỤ MẪU: Tuần Triệt đóng tại cung Phụ Mẫu thì chắc chắn đương số không hợp với cha hay mẹ, hoặc dễ sớm xa cách cha mẹ do: Hoặc cha (mẹ) mất sớm, hoặc cha mẹ ly hôn, hoặc làm con nuôi nhà khác... Vì Phụ Mẫu có ảnh hưởng trong giai đoạn thiếu niên nên gặp Triệt có khác biệt khi gặp Tuần vì lúc đó Triệt đang mạnh mẽ còn Tuần thì sự ảnh hưởng hầu như không đáng kể.
HẠN: Tuần Triệt đóng tại cung hạn thì phải có khó khăn trong hạn đó, nhưng cần phải xét kỹ về thời gian và tỷ lệ ảnh hưởng, nhất là khi Tuần, Triệt đồng cung thì phải nhớ ảnh hưởng tăng gấp đôi và kéo dài hơn chứ không thể suy luận theo quan điểm là Tuần và Triệt tháo gỡ cho nhau trong trường hợp này.

3. ẢNH HƯỞNG CỦA TUẦN-TRIỆT TỚI CÁC SAO

Theo lý thuyết của Tử Vi thì hai sao Tuần, Triệt sẽ làm thay đổi giá trị ảnh hưởng của các sao đồng cung mà Tuần, Triệt án ngữ. Nhưng cũng cần lưu ý rằng: Tuần - Triệt không làm thay đổi tính chất các sao, mà chỉ làm tăng lên hoặc giảm đi ảnh hưởng của các sao. Thực chất Tuần - Triệt chỉ làm thay đổi cường độ hành khí của sao, sự sáng tối của sao tức là thay đổi tính đắc hãm của sao. Tuy nhiên cho dù sao hãm địa có được sáng lại do ảnh hưởng của Tuần - Triệt thì cũng không được toàn vẹn như một sao bản chất là sáng sủa và ngược lại một sao bị tối đi do ảnh hưởng của Tuần - Triệt cũng không tối tăm như một sao bản chất là tối hãm.
Sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào tới các sao ở các cung xung chiếu, tam hợp chiếu vẫn là tranh cãi chưa có lời kết của các tác giả, các nhà nghiên cứu Tử Vi.
Có quan điểm cho rằng Tuần, Triệt chỉ làm thay đổi sự sáng, tối của các sao đồng cung chứ không đủ sức ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu hoặc tam hợp chiếu, như thế là không tưởng, phi lý (đại diện là tác giả Nguyễn Phát Lộc). Còn quan điểm thứ 2 (đại diện là tác giả Việt Viêm Tử) thì rộng hơn, cho rằng hai sao này còn ảnh hưởng tới cả các cung trong thế hợp chiếu và mức độ ảnh hưởng của Triệt-Tuần còn phụ thuộc vào tuổi Âm hay Dương của đương số. Quan điểm này không nhận được sự ủng hộ của một số tác giả, tiêu biểu là ông Nguyễn Phát Lộc nhưng lại nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên cứu, “thầy Tử Vi”, chẳng hạn như nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm (Ông là nhà nghiên cứu, cũng là người hành nghề coi lá
 số Tử Vi) nhận xét: Triệt - Tuần là 2 sao đặc biệt trong hệ thống các sao của Tử Vi, nhưng vẫn tuân thủ theo nguyên tắc: Ảnh hưởng tới các cung khác ngoài cung án ngữ và cũng chịu ảnh hưởng lại của các sao, các cung mà Triệt - Tuần trấn thủ.
Qua những tranh luận của các tác giả, và từ thực tiễn kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu về Tử Vi, đặc biệt là kinh nghiệm của những người hành nghề coi lá số Tử Vi.. thì Triệt - Tuần không những ảnh hưởng mạnh tới các sao ở 2 cung án ngữ mà còn ảnh hưởng tới các sao ở cung xung chiếu, tam hợp chiếu. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó chỉ có ảnh hưởng gián tiếp chứ không trực tiếp như ở hai cung án ngữ.
Cũng cần lưu ý thêm rằng: Sao tại cung bị Tuần - Triệt án ngữ bị thay đổi tính chất nên khi chiếu về cung khác cũng khác khi không bị Tuần - Triệt án ngữ. Vì thế khi luận giải phải gia giảm sự tốt, xấu của sao tùy theo sự án ngữ của Tuần hay Triệt và Triệt - Tuần ở thế đương đầu hay chặn đuôi.
Sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt tới các tinh đẩu cũng không giống nhau. Thường thì các chính tinh bị ảnh hưởng mạnh hơn các phụ tinh khi gặp Tuần - Triệt, trong đó Sát - Phá - Liêm - Tham bị ảnh hưởng mạnh nhất
Về tính chất thì hung sát bại tinh (như Sát, Phá, Liêm, Tham, Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa Linh, Kiếp Sát, Thiên Không, Kiếp Sát...), tài tinh (Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc), quí tinh, quyền tinh (Thiên Tướng, Hóa Quyền, Quốc Ấn...), đào hoa tinh hay dâm tinh (Hồng, Đào, Riêu, Thai...) bị ảnh hưởng mạnh mẽ hơn các tinh đẩu khác như phúc thiện tinh (Quang Quí, Quan Phúc...), trợ tinh (Tả Hữu)...lục bại tinh (Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư)
Xét về phương diện Ngũ hành thì nhìn chung hành Kim, Hỏa và Mộc bị ảnh hưởng nặng nhất, hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần (vì Triệt (Kim) khắc Mộc trong khi đó Mộc sinh (Tuần) Hỏa) và hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt (vì Tuần (Hỏa )khắc Kim trong khi đó Triệt (Kim) và Kim đồng hành), hành Thủy ít bị ảnh hưởng hơn (vì Triệt (Kim) sinh Thủy và Thủy khắc (Hỏa) Tuần), hành Thổ bị ảnh hưởng ít nhất (vì Tuần (Hỏa) sinh Thổ và Thổ sinh (Kim) Triệt).

4. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CỦA TUẦN-TRIỆT

1. Chính tinh hoặc hung tinh đắc địa tối kỵ gặp Tuần - Triệt vì gặp Tuần - Triệt làm cho các tinh đẩu bị giảm hết ý nghĩa tốt đẹp hoặc đôi khi trở thành hãm địa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, rất cần có Tuần Triệt án ngữ, chẳng hạn như cung Vô chính Diệu hoặc Chính Diệu tọa thủ lạc hãm, xấu xa, ví như trường hợp Liêm - Tham hãm địa tại Tỵ, Hợi nếu gặp Tuần - Triệt án ngữ lại trở nên tốt đẹp, trường hợp này còn được gọi là Phản vi kỳ cách hay Bộ Âm Duơng lạc hãm rất cần gặp Tuần, Triệt để trở thành sáng sủa, thông minh học giỏi. (Trường hợp này nếu thêm Hóa Kỵ đắc địa đồng cung thì thật hoàn mỹ.)
Hoặc Cung gặp nhiều sát tinh hội chiếu nếu được Tuần - Triệt án ngữ sẽ trở thành yên ổn rất nhiều!
2. Chính tinh sáng sủa hợp Mệnh thì không nên gặp Tuần - Triệt vì sẽ đưa đến phá cách nặng, ví dụ như cung sinh sao, sao sinh Mệnh mà gặp Tuần, Triệt thì càng xấu vì sao sinh Mệnh khiến Mệnh tốt lên hẳn mà lại bị Tuần, Triệt phá hỏng. Trong trường hợp này nếu Mệnh không hợp với sao thì gặp Tuần, Triệt cũng đỡ xấu hơn trường hợp trên.
Chính tinh lạc hãm khắc Mệnh thì lại cần được Tuần - Triệt án ngữ, trường hợp này lại hay hơn là được chính tinh lạc hãm hợp Mệnh gặp Tuần, Triệt. Nói chung là nếu càng xấu về vị trí (bị hãm) và tương quan Ngũ hành (bị khắc) thì gặp Tuần, Triệt càng tốt, hễ càng tốt về vị trí và tương quan Ngũ hành thì gặp Tuần, Triệt càng xấu.
3. Thiên Tướng, Tướng Quân tối kỵ gặp Tuần, Triệt cho dù là đắc địa hay hãm địa.
4. Thiên Phủ kỵ gặp Tuần hơn gặp Triệt, vì gặp Tuần ví như kho trống không, trong khi gặp Triệt thì chỉ bị hao hụt. Thiên Khôi kỵ gặp Triệt hơn gặp Tuần nhưng cần phối hợp các yếu tố khác khi luận đoán sự tốt xấu của cung đó.
5. Bộ Cự Nhật ở Dần gặp Tuần, Triệt không sợ, vì bản thân Thái Dương miếu vượng ít ngại Tuần, Triệt, trong khi đó Cự Môn vượng lại rất cần gặp Tuần, Triệt để cho Cự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng (Tuần Triệt như sấm sét làm vỡ đá ra).
Bộ Nhật Lương gặp Tuần, Triệt cũng không đáng ngại lắm, tuy nhiên khi gặp Tuần, Triệt rất cần có Tả Hữu Xương Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản phá hoại của Tuần, Triệt.
Bộ Ân Quang Thiên Quý đồng cung (Sửu, Mùi) chiếu về Mệnh hoặc thủ Mệnh thì Tuần, Triệt không còn tác dụng nữa, chỉ là sự cản trở nho nhỏ không đáng kể.
6. Tuần, Triệt đứng bất cứ đâu nếu bản Mệnh là hành kim thì không đáng ngại (hành Hoả cũng đỡ hơn, nếu Triệt lâm Hỏa địa). Ví dụ mệnh gặp Thiên Tướng + Tuần Triệt án ngữ rất xấu xa mờ ám chủ tai nạn hình thương nhưng nếu bản Mệnh thuộc Kim thì không đáng ngại những nguy hiểm do Tuần, Triệt gây ra.
7. Tuần, Triệt giải họa Không Kiếp hãm rất mạnh, họa tuy có xảy ra nhưng cũng qua được. Triệt tại bản cung thì không sợ tai họa do Không Kiếp chiếu về. Tuần cũng có tác dụng như vậy nhưng yếu hơn.
Mệnh (Thân) có Không, Kiếp thủ chiếu mà gặp Triệt - Tuần thì không sợ tai nguy.
8. Mệnh Tuần hay Triệt thì khi đến đại hạn gặp Tuần hay Triệt sẽ tháo dỡ ảnh hưởng của Tuần hay Triệt.
Tuần, Triệt đồng cung tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần, Triệt thì ảnh hưởng của Tuần, Triệt đồng cung sẽ giảm đi.
Triệt tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Triệt tăng lên, Tuần tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần thì ảnh hưởng của Tuần giảm đi.

5. NHỮNG CÂU PHÚ VỀ TUẦN - TRIỆT

- Mệnh Triệt Thân Tuần, tu cần vô hữu chính tinh, vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi.
Có nghĩa: Cung Mệnh có Triệt án ngữ, cung Thân cũng ngộ Tuần thì không nên có chính diệu mới được xứng ý toại lòng, về già mới được an nhàn, sung sướng và tăng thêm tuổi thọ.
- Mệnh Tuần Thân Triệt, hỷ đắc vân đoàn tương hội, phú quý văn tài cách phát trung niên.
Có nghĩa: Mệnh có Tuần án ngữ, Thân có Triệt trấn thủ, lại vô chính diệu, rất mừng gặp được văn tinh như Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, gặp như vậy là người có văn tài, học vấn và khi đứng tuổi tất sẽ được an nhàn, phú quý.
- Mệnh Tuần Thân Triệt, tối cần Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương miếu vượng, phú quý vinh hoa đến vãn niên.
Có nghĩa: Mệnh có Tuần, Thân có Triệt án ngữ, rất cần có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa, tốt đẹp hội họp thì cuộc đời mới được xứng ý toại lòng, nhất là khi về già mới được an nhàn, sung sướng.
- Phúc vô chính diệu, tu cần Không tý, kỵ ngộ Triệt Tinh.
Có nghĩa: Cung Phúc đức vô chính diệu rất cần có sao Tuần án ngữ nhưng lại rất kỵ sao Triệt trấn đóng.
- Phúc tại Tý cung. Đồng Âm Kiếp Tử, Triệt Tuần xâm, hữu học vô lương, tiện yểu cách.
Có nghĩa: Cung Phúc đức cư tại Tý, có các sao Đồng, Nguyệt, Kiếp, Tử gặp Tuần, Triệt thì đương số là người có học nhưng bất thành danh và là người bất chính, thường là người đa hư tiểu thực, nghèo hèn và chết non.
- Thân cư Phúc vô chính diệu, tối kỵ Kiếp Dương Triệt Sát. Cái ngộ Đà Không thi vị cứu cánh chi tinh.
Có nghĩa: Cung Thân cư Phúc vô chính diệu mà gặp các sao Kiếp, Kình, Triệt, Sát thì rất lo ngại. Nhưng nếu gặp được Đà La, Tuần lại hay, ví như hai vị cứu khổ phò nguy, giải tỏa được các tai biến.
- Tử Phủ đồng cung, Đế vô quyền sở, nan giải tai ương do như Tuần Không xâm nhập.
Có nghĩa: Tử Phủ lâm Mệnh tại Dần, Thân là 2 sao giải cứu được hung nguy khi đáo nhị hạn. Nhưng nếu bị Tuần Không án ngữ, ví như 2 ông vua bị mất hết quyền hành nên không giảm thiểu được tai kiếp khi hạn ngộ sát tinh, cũng như trường hợp Tử Vi đóng ở cung Tý vậy.
- Sát tinh hung diệu, Triệt đầu cư lai bất cập a hành, nan phùng tai ách vận lai.
Có nghĩa: Cung Mệnh dù có tứ sát, tứ hung, lục bại đi nữa, nhưng nếu được Triệt án ngữ tại bản cung cũng không e sợ lũ sát tinh hoành hành vì sao Triệt đủ ảnh hưởng khắc chế được mọi hung nguy.
- Thân cư Thê vị, Tuần Triệt lai xâm, thiếu niên ai lệ nãi thất tình. Nhược gia cát tú, lương duyên mãn kiếp dữ phụ nhân.
Có nghĩa: Thân cư Thê mà bị Tuần, Triệt xâm phạm tất là người tuổi thiếu niên bị tình phụ mà nước mắt buồn rơi khi nhớ tới người xưa. Nếu gia hội cát tinh cũng được mãn kiếp xum vầy với người góa phụ.
- Kiếp Kình Đế Cự suy Triệt lâm Mệnh, Tý hương, ác nhân đãng tử mãn kiếp nan toàn.
Có nghĩa: Cung Mệnh an tại Tý, 2 sao Tử Vi hay Cự Môn nếu hội với các sao Kiếp, Kình, Suy, Triệt là người phải chết bởi tai nạn nhưng khi chết rồi thể xác vẫn phải bị mổ xẻ.
- Thân cư Quan, kiến Triệt Tuần Kiếp Kỵ nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cát diệu, vũ lộ thừa ân, khả đãi vãn niên dĩ hậu.
Có nghĩa: Nam nhân có Thân cư Quan, nếu gặp Triệt, Tuần, Kiếp, Kỵ đồng cung, tất phải lận đận, bôn ba thủa thiếu thời vì không gặp thời cơ. Nếu như được cát tinh củng chiếu, cũng phải đợi tới vãn niên mới được hưởng phúc lộc và tạo thành cơ nghiệp.
- Phản Hữu Hồng Loan sắc Không giác ngộ.
Có ngĩa: Thiên tướng nếu hội họp đầy đủ với 2 loại sao là sắc (Đào, Hồng, Hỷ) và Không (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) là người ví như kẻ lạc giữa bụi trần nhơ nhuốc mà tâm tư trong sáng, thường có duyên với cảnh tu hành.
- Quý tinh Tướng Phủ Tuần Triệt lao đao.
Có nghĩa: Thiên Phủ, Thiên Tướng là quý tinh, cư Mệnh rất đẹp, nếu độc thủ cũng không đáng lo ngại lắm khi gặp lũ Kình, Đà, Hỏa, Linh vì tính dung hòa của 2 quý tinh này. Nhưng nếu Phủ, Tướng ở cung âm, gặp Tuần, Triệt (Thiên Không, Địa Không cũng vậy) thì cách đẹp bị phá hết, thành kẻ lao đao, lận đận giữa đời.
- Thân cư Quan Lộc hội sát diệu Triệt Tuần, nữ Mệnh nan bảo thân danh. Gia kiến Tang Bạch cô thân chi nhảnh, chi gia vãn tuế tất thành.
Có nghĩa: Nữ nhân Thân cư Quan Loock, ngộ Triệt, Tuần và sát tinh là người khó bảo toàn được danh tiết. Nếu lại gặp 2 sao Tang Môn, Bách Hổ tất bị phòng loan gối chiếc, phải đến tuổi xế chiều mới thành được gia thất.
- Nhật, Nguyệt Sửu Mùi tối cần Kỵ, Không phả vi đại cát.
Có nghĩa: Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu Mùi là thế hỗn độn, nếu gặp được Không Vong (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) sẽ tạo thành một cách đẹp, nếu thêm cả Hóa Kỵ nữa thì thật là một kỳ cách.
- Thân hội Di cung, Triệt Tuần hãm nhập, vãn tuế hồi hương phương cát. Nhược hữu kiến sát tinh, sự nghiệp viên thành ư ngoại xứ.
Có nghĩa: Người có Thân cư cung Thiên Di gặp Tuần, Triệt hãm địa, tất phải tha hương lập nghiệp cho tới khi tuổi già mới được về quê và hưởng phúc lộc dồi dào. Nhưng nếu Di cung lại bị sát tinh củng chiếu thì chỉ có thể thành cơ nghiệp nơi đất khách quê người.
- Thìn Tuất Không Vong Cơ Lương tăng đạo.
Có nghĩa: Cơ Lương ở Thìn Tuất là rất đẹp nhưng nếu Mệnh ở đấy mà gặp một trong các sao Không (Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không) thì lại là người thất chí, dễ chán đời đi tu.
- Nhật Nguyệt Tật Ách Mệnh phùng Không yểu dà mục cổ.
Có nghĩa: Mệnh hoặc cung Tật Ách có Nhật, Nguyệt gặp Không Vong (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không), tất phải mang tật lưng vẹo, mắt hư.

6. TUẦN - TRIỆT VÀ NHỮNG DẤU HỎI

Khi coi số, người luận giải sợ nhất trường hợp các cung cường gặp Tuần, Triệt án ngữ bởi lẽ lý thuyết Tử Vi về Tuần, Triệt còn nhiều mơ hồ, chưa có sự thống nhất (thậm chí còn nhiều nghi vấn, nhiều tranh cãi gay gắt)… để làm căn cứ cho việc xem số nên lời luận giải đưa ra thường thiếu cơ sở để khẳng định. Vì thế, người học Tử Vi, người muốn tìm hiểu về Tử Vi đều bất lực trong nhiều trường hợp khi gặp Tuần, Triệt án ngữ, quy tụ lại bởi một số nghi vấn sau:
1. Tuần, Triệt ảnh hưởng tới các sao như thế nào?
Theo lý thuyết thì Tuần, Triệt sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các sao đồng cung: Biến tốt thành kém tốt, biến xấu thành bớt xấu nhưng thực tế thì có những trường hợp chỉ chính tinh bị ảnh hưởng còn phụ tinh lại không bị tác động bởi Tuần, Triệt hoặc phụ tinh bị đảo nghĩa khi gặp Tuần, Triệt trong khi chính tinh lại không thay đổi về cường độ, hoặc chỉ một số tinh đẩu bị đảo nghĩa chứ không hẳn tất cả các tinh đẩu đồng cung đều chịu sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt...
Để trả lời cho câu hỏi này, chưa có sách Tử Vi nào đề cập đến nên sự luận giải đôi khi trở nên mơ hồ, võ đoán.
Đấy là nói về các sao đồng cung, còn những sao ở tam hợp chiếu, xung chiếu thì sao?
Về vấn đề này vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất hoặc quan điểm vẫn còn mơ hồ, không cụ thể.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tuần, Triệt chỉ ảnh hưởng tới các sao đồng cung chứ không đủ sức để ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu, tam hợp chiếu.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Tuần, Triệt không những ảnh hưởng trực tiếp tới các sao đồng cung mà còn ảnh hưởng gián tiếp tới các sao ở các cung khác như xung chiếu, tam hợp chiếu... nhưng lại không chỉ ra sự ảnh hưởng gián tiếp ấy cụ thể như thế nào? Và đây cũng là điểm mơ hồ cố hữu trong hệ thống lý thuyết của Tử Vi.
2. Tuần, Triệt có chịu sự khắc chế, ảnh hưởng của các sao khác không?
Lý thuyết Tử Vi không đề cập đến sự ảnh hưởng hay khắc chế của các sao khác tới cường độ của Tuần, Triệt như thế nào nên vô hình chung đã đẩy Tuần, Triệt lên vị trí tối quan trọng, cao hơn tất cả các tinh đẩu trong hệ thống các sao của Tử Vi, khiến người coi số như xuống biển mò kim mà trở nên lúng túng, bế tắc khi đưa ra lời luận giải.
Trong thực tế, không phải mọi tinh đẩu đều chịu ảnh hưởng của Tuần, Triệt như nhau: Có sao chịu ảnh hưởng nhiều, có sao chịu ảnh hưởng ít và thậm chí có sao không hề bị ảnh hưởng ... Vậy thì tại sao lại có sự khác biệt đó? Phải chăng do Tuần, Triệt cũng chịu ảnh hưởng của các tinh đẩu khác mà sức ảnh hưởng của Tuần, Triệt mới không đồng đều, không đủ mạnh? Sách Tử Vi không đưa ra lời giải đáp khiến người coi số bị hụt hững, phân vân vì thiếu cơ sở lý thuyết nên dễ đưa ra những lời luận giải rơi vào ngộ nhận, không chính xác.
Một số nhà nghiên cứu Tử Vi, hoặc những người coi số Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt cũng chịu sự ảnh hưởng, tác động của các sao khác như những sao khác nhưng không chỉ ra được Tuần, Triệt chịu ảnh hưởng từ các sao khác như thế nào? Những sao nào sẽ vô hại khi gặp Tuần, Triệt, thậm chí còn tác động, làm thay đổi cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt? Đây chính là nghi vấn, dễ gây ra sự ngộ nhận khi luận giải lá số.
3. Tuần, Triệt có làm thay đổi được cung an Mệnh khi ở thế bại địa, tuyệt địa?
Chúng ta đều biết lý thuyết Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt làm thay đổi cường độ ảnh hưởng của các sao chứ không làm thay đổi tính chất của các sao, có nghĩa một sao thể hiện sự gian tà, độc ác thì khi gặp Triệt, Tuần sẽ vẫn là kẻ gian tà, độc ác nhưng ở mức độ thấp hơn, nhẹ đi chứ không thể trở thành người nhân hậu, bác ái. Hay một cát tinh khi hãm địa được Tuần, Triệt án ngữ cũng chỉ làm cho cát tinh đó tốt hơn lên chứ không thể biến cát tinh hãm địa đó đẹp bằng cát tinh khi đắc địa được.
Chúng ta cũng biết lý thuyết Tử Vi chỉ rằng: Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trở cho cung Tuần, Triệt án ngữ chứ không thể làm thay đổi tính chất ngũ hành của cung, càng không làm thay đổi bản chất của cung: Sinh - khắc hay bình hoà với hành bản Mệnh (Thân)? Phù trợ như thế nào cho Mệnh (Thân)?...
Nhưng khi coi số, nếu gặp trường hợp cung an Mệnh ở vào thế lợi địa, tuyệt địa…mà gặp Tuần, Triệt án ngữ ở đó thì luận giải sao đây? Không thể đưa ra lời khẳng định nếu cung an Mệnh ở thế lợi địa mà gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ trở thành bại địa, hoặc cung an Mệnh ở thế bại địa khi gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ trở nên vượng địa vì thực tế ngay cả các sao đồng cung Tuần, Triệt còn không đủ sức ảnh hưởng đồng đều thì làm sao ảnh hưởng, thay đổi tính chất lợi địa hay tuyệt địa của cung an Mệnh được. Hơn nữa, lý thuyết của Tử Vi về Tuần, Triệt cho rằng Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trở một phần, một giai đoạn cho cung án ngữ nên càng khó đưa ra lời luận giải cho những trường hợp như thế này.
Đây chính là khó khăn và thách đố với những ai muốn tìm hiểu, ứng dụng kiến thức của Tử Vi vào cuộc sống.
4. Thời gian và cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào?
Mặc dù lý thuyết Tử Vi cho rằng: Tuần ảnh hưởng nhẹ hơn Triệt và mạnh dần ảnh hưởng sau 30 tuổi, còn Triệt ảnh hưởng mạnh những năm đầu đời và giảm dần hiệu lực sau 30 tuổi. Nhưng Tử Vi không chỉ ra sự mạnh dần (Tuần) hay giảm dần (Triệt) diến ra như thế nào? Cường độ nặng nhẹ là bao? Nên người coi số rất khó đưa ra lời phán đoán. Hơn nữa, những khái niệm về cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt tưởng như rất cụ thể mà lại rất mơ hồ, trừu tượng nên người coi số thật khó luận giải. Chẳng hạn, sách Tử Vi nói: Người Dương nam, Dương nữ khi gặp Tuần, Triệt thì ở cung Dương sẽ chịu 70%, còn cung Âm chịu 30% cường độ, nhưng 100% cường độ được thể hiện như thế nào? Ảnh hưởng ra làm sao? Để qua đó hiểu được
 mức nặng nhẹ của 70% hoặc 30% cường độ thì rất tiếc không thấy sách Tử Vi nào đề cập đến.
Hoặc bàn về sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt tới số phận con người cũng nhiều ý kiến trái chiều, bất nhất. Ví dụ ở người Mệnh Kim, có 3 quan điểm:
  1. Quan điểm 1: Mệnh Kim không sợ Tuần, Triệt.
  2. Quan điểm 2: Mệnh Kim vô hại khi gặp Triệt, còn gặp Tuần thì vẫn bị ảnh hưởng như các tuổi khác, tuy nhiên cũng không đáng lo ngại lắm.
  3. Quan điểm 3: Mệnh Kim nên tránh xa Tuần, Triệt vì nếu gặp sẽ thiệt thòi nặng hơn so với các tuổi khác.
Trong 3 quan điểm trên thì phần lớn những người coi số Tử Vi đồng nhất với quan điểm thứ nhất: Mệnh Kim không sợ gặp Tuần, Triệt nhưng sự bất nhất về lý thuyết, đặc biệt khi sự bất nhất đó lại có nội dung đối lập 100% như quan điểm 3 với quan điểm 1, thì vẫn gây khó khăn, nghi vấn cho người luận giải lá số.

5. Vấn đề Tuần, Triệt đồng cung thì thế nào?

Đây cũng là vấn đề còn nhiều tranh cãi trong lý thuyết của khoa Tử Vi.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tuần, Triệt đồng cung không tháo gỡ nhau mà cộng hưởng cả mặt tốt, mặt xấu và ảnh hưởng sâu rộng hơn tới cuộc đời của đương số.
Quan điểm thứ hai lại cho Tuần, Triệt tháo gỡ nhau nếu khi đồng cung, làm giảm cái xấu và tăng cái tốt cho đương số.
Mặc dù quan điểm thứ nhất là quan điểm của số đông, được nhiều người chấp nhận vì tính thực tiễn nhưng sự không đồng nhất về quan điểm như thế trong hệ thống lý thuyết của Tử Vi sẽ gây khó khăn rất lớn cho người tiếp cận.

LỜI KẾT

Tuần - Triệt là hai sao còn rất nhiều nghi vấn về giá trị, phạm vi và mức độ ảnh hưởng tới số phận con người mà người nghiên cứu Tử Vi khó tìm được câu trả lời thỏa đáng, càng đặc biệt và thách đố với những người muốn ứng dụng kiến thức Tử Vi vào cuộc sống.
Khi biên soạn về ảnh hưởng của Tuần - Triệt tới lá số (cung, sao), người viết rất băn khoăn, lo lắng vì kiến thức và kinh nghiệm về Tử Vi của người viết chỉ ở mức mày mò tự học trong khi môn học Tử Vi đòi hỏi người tiếp cận phải có kiến thức uyên bác về Dịch lý, về Âm - Dương Ngũ hành... mới có thể truyền tải được những cốt lõi mà linh hoạt và thỏa đáng về hiệu lực của Tuần, Triệt nên những kiến giải của người viết trong bài sẽ không tránh khỏi sự phiến diện, chủ quan và nông cạn, khiến những bậc cao minh sẽ cau mày vì phải đọc những kiến giải “ngây ngô” của kẻ “ếch ngồi đáy giếng”...
Dù thế nào thì người viết vẫn hy vọng bằng những cố gắng của mình sẽ giúp ích ít nhiều cho những ai lần đầu làm quen và tiếp cận với kiến thức mênh mông mà tinh tế, linh hoạt đến phức tạp... của khoa Tử Vi sẽ bớt khó khăn và thời gian tìm hiểu.
Nếu được vậy, người viết mãn nguyện lắm rồi.

Kiến thức tử vi sao Thất Sát


Kiến thức tử vi sao Thất Sát
Trong kiến thức tử vi sao Thất Sát là một trong 14 Chính Tinh và đựơc coi là hung sát tinh. Bất luận số đẹp hay số xấu, hễ đã có Thất Sát vào Mệnh hay Thân thế tất phải trải qua những chuyện hung hiểm hoặc có một thời gian bị lắm chướng ngại. Sách có viết:”Nhị cung phùng chi định lịch gian tân” (Mệnh Thân có Thất Sát phải nếm trải gian nan tân khổ). Sao thứ 7 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Phương Vị: Nam Đẩu Tinh
Tính: Dương
Hành: Kim
Loại: Quyền Tinh, Dũng Tinh
Đặc Tính: Uy quyền, sát phạt
Tên gọi tắt thường gặp: Sát
Kiến thức tử vi sao Thất Sát 2
  • Có nhiều bệnh tật.
  • Thường bị tai nạn khủng khiếp vì súng đạn.
  • Thường bị bắt bớ, hình tù.
  • Giàu sang cũng không bền.
  • Có giàu sang cũng giảm thọ.
Tóm lại, sao Thất Sát dù đắc địa cũng không đảm bảo công danh, tài lộc hay phúc thọ dồi dào hoặc lâu dài hoặc vẹn toàn nếu gặp phải hung sát tinh khác. Đặc tính của sao này là uy dũng, nhưng cũng hàm chứa nhiều bất lợi, hiểm nguy ẩn tàng.
Tai nạn và bệnh tật xảy ra đối với các trường hợp Thất Sát hãm địa, hoặc Thất Sát gặp sao xấu và nhất là sát tinh. Thường gây bất lợi về công danh, tài lộc, phúc thọ như: Cô độc, khốn khó, phiêu bạt nơi xa quê hương, bệnh nan y, bị ngục tù, bị tai nạn khủng khiếp, yểu tử.
Kiến thức tử vi sao Thất Sát 3
  • Thất Sát, Tử Vi tại Tỵ, Hợi: Cha mẹ phú quý nhưng bất hòa. Con thường không hợp tính với cha mẹ. Gia đình ly tán.
  • Thất Sát, Vũ Khúc tại Mão, Dậu: Cha mẹ vất vả hay mắc tai ương. Nếu không cũng phải mang tật bệnh, hay đau yếu.
Ý Nghĩa Thất Sát Ở Cung Phúc Đức
  • Ở Triều đẩu và Ngưỡng đẩu: Đắc phúc nhưng phải ly hương lập nghiệp. Họ hàng khá giả về võ nghiệp, nhưng ly tán nếu ở Tý, Ngọ.
  • Thất Sát, Tử Vi đồng cung: Phải ly hương lập nghiệp mới thọ. Họ hàng danh giá, hiển đạt về võ nhưng tha phương.
  • Thất Sát, Liêm Trinh hay Thất Sát, Vũ Khúc hay Thất Sát ở Thìn, Tuất: Phúc đức không được tốt, xa gia đình, xa họ hàng, lao tâm khổ trí, họ hàng ly tán, nghèo.
Ý Nghĩa Thất Sát Ở Cung Điền Trạch
Sao Thất Sát đóng trong cung Điền Trạch thường gây bất lợi về điền sản, hoặc chậm có của, hoặc không có di sản, không hưởng di sản, hoặc phải bán điền sản, hoặc phải bị mất điền sản (truất hữu), hoặc phải tự lập mới khá.
  • Sao Thất Sát tại Dần, Thân: Ít di sản. Nếu tự lập mới dồi dào.
  • Sao Thất Sát tại Tý, Ngọ: Mua vô bán ra thất thường, phá di sản; tự lập thì mới bền vững, tạo lập nhiều nơi.
  • Thất Sát, Tử Vi: Di sản nhiều nhưng phá sản.
  • Thất Sát, Liêm Trinh: Chậm điền sản, vất vả buổi đầu. Sau về già mới có nhà cửa.
  • Thất Sát, Vũ Khúc, hay Thất Sát ở Thìn Tuất: Không điền sản, rất ít điền sản, nhà nhỏ lúc về già.
Kiến thức tử vi sao Thất Sát 4
Thất Sát vốn là một hung tinh dù đắc địa mà đóng ở Tật Ách thường gây bất lợi. Có Thất Sát ở Cung Tật Ách, thì lúc nhỏ hay đau yếu, ăn uống kém.
  • Thất Sát, Vũ Khúc đồng cung: Bộ máy tiêu hóa xấu, thường bị trĩ, nếu không thì chân tay bị thương tích.
  • Thất Sát, Không Kiếp: Bị ho lao, phổi yếu, sưng phổi có mủ.
  • Thất Sát, Hóa Kỵ, Đà La: Bệnh tật ở tay chân.
  • Thất Sát đi vơí Hao, Mộc, Kỵ: Bệnh ung thư.
Tùy theo Thất Sát đi với bộ phận cơ thể nào thì nơi đó bị bệnh tật. Mức độ nặng nhẹ còn tùy sự hội tụ với sát hung tinh khác.
Ý Nghĩa Thất Sát Ở Cung Tài Bạch
  • Thất Sát ở Dần, Thân: Kiếm tiền dễ dàng nhất từ trung niên trở đi.
  • Thất Sát ở Tý, Ngọ: Tiền bạc thất thường, hoạch tài.
  • Thất Sát, Tử Vi ở Tỵ: Dễ kiếm tiền, dễ làm giàu.
  • Thất Sát, Liêm Trinh đồng cung: Tiền bạc thất thường, khi có khi hết nhưng không thiếu, chậm giàu.
  • Thất Sát, Vũ Khúc đồng cung: Vì Vũ Khúc là sao tài nên lập nghiệp được, nhưng tự lực, vất vả buổi đầu.
  • Thất Sát ở Thìn, Tuất: Tiền bạc tụ tán thất thường nhưng hết rồi lại có.
Kiến thức tử vi sao Thất Sát 5
  • Thất Sát, Liêm Trinh: Thường không được tốt cho lắm như muộn lập gia đình, duyên nợ khó khăn, trắc trở, chắp nối, góa bụa. Duyên nợ dễ gặp cảnh lập gia đình nhiều lần, hoặc chắp nối, lấy nhau lúc còn nghèo khó, hoạn nạn, bị hình khắc gia đạo tức là bất hòa, xa cách.
  • Thất Sát, Hóa Quyền: Người hôn phối có bản lĩnh, uy quyền, hoặc có danh giá mà mình phải nể, đôi khi có óc độc tài, chuyên quyền, nóng tánh, khó tánh.
Thất Sát Khi Vào Các Hạn
Tuviso.com nhập hạn ở vị trí Triều đẩu (Dần, Thân), Thất Sát rất hưng vượng sét nhiều mặt tài, quan, gia đạo. Gặp sát hay hung tinh hoặc khi hãm địa thì hay bị tai nạn, hình tù, súng đạn.
  • Thất Sát, Liêm Trinh, HỏaTinh: Cháy nhà (nếu Hạn ở Điền càng chắc chắn).
  • Thất Sát Kình Hình ở Ngọ: Ở tù, chết.
  • Thất Sát Hình Phù Hổ: Ở tù, âu sầu.
  • Thất Sát Phá Liêm Tham, Không Kiếp Tuế Đà: Bị kiện tù, chết (nếu đại hạn xấu).
  • Thất Sát, Hao: Đau nặng.
  • Thất Sát, Hóa Kỵ: Bị bệnh, hay mang tiếng xấu.

Những sao Năng lượng
Ở cung Mệnh: (Tài năng lúc mới sinh ra)
Giải Thần: Gặp tai nạn có thể hóa giải

Thiên Hình: Nhân quả Thiên phú (tài năng nhân quả), có thể hiểu và cảm ứng một số chuyện nhân quả trên đời
Hoa Cái: Có tài giáo dục và triết học suy nghĩ
Ở cung Tật ách: (Tài năng sau khi bồi dưỡng - hậu thiên trí huệ)
Thiên Cơ: Minh trí, thông minh, khả năng thích ứng mạnh, dũng cảm cương nghị
Tham Lang: Cải cách, To gan, dũng cảm, quả đoán, công chính
Hàm trì (đào hoa): Tài hoa, có khả năng tưởng tượng mạnh
Thiên Vu: linh hoạt nhạy bén, có khả năng biến hoán mạnh
Thiên Tài: Không cần thầy mà tự thông hiểu (trí huệ tiềm năng)
Thai Phụ (đài phụ): Khả năng tài cán lãnh đạo
Phượng các: Có thể phát triển ở phương diện văn học
Ở cung Phúc đức: (Tài hoa có sẵn, kiếp này nhất định có)
Thiên quan: Kiếp này làm việc giống như việc kiếp trước làm, không thể né được, mệnh đã vậy, phản ánh nhân quả báo ứng
Hữu bật: Có người giúp đỡ làm việc mình muốn làm, cơ trí, cảnh giác, nhạy bén
Tam Thai: có khả năng thông hiểu và nắm bắt những sự kiện mới nhanh lẹ, vận khí, tài phúc và sức khỏe
Âm sát: Có linh khí, trực giác linh mẫn, rất nhạy cảm, có linh cảm
Phong cáo: Sinh ra đã có sứ mệnh cuộc đời và ý thức xã hội, công chính công nghĩa
Lộc tồn: Bỏ tiền bạc, của cải ra nhất định có hồi báo, 1 sự chúc phúc chân chính
Thiên nguyệt: Có sức sáng tạo, tính cách ôn hòa
Ân Quang: Đa tài đa nghệ, nhân từ

       Luận Mệnh thông qua Đẩu Số quan niệm: "Bất kể sự tình nào cũng đều có thể căn cứ vào mệnh bàn mà dự đoán ra, dù mệnh tạo có quan hệ với người khác hay không".
      Bộ sách Hiện đại Tử Vi quan niệm: "Đối với những sự vật mà bản thân mình có thể quyết định được, Đẩu số mới có thể luận đoán. Nếu mệnh tạo không có quan hệ gì với người khác thì không có cách nào luận đoán, trừ phi ở trong mối quan hệ với họ".

      1- Cung Mệnh
      Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung Mệnh.
      Cung Mệnh đối nhau với cung Thiên Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương hội cung. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không, .v.v...
      Do đó cung Mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung Mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.
      Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu thiên của người đó. Nếu cung Mệnh cát mà cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát mà cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

      2. Thuận - Cung Phụ Mẫu:

      Trong Đẩu Số, cung Phụ mẫu có 3 ý nghĩa về luận đoán:

      Một là, luận đoán duyên phận của mệnh tạo đối với cha mẹ, các tình huống sống chết tồn vong, cát hung họa phúc của cha mẹ.
      Hai là, mối quan hệ giữa mệnh tạo với thượng cấp, hay ông như thế nào ?
      Ba là, trong xã hội phải có quan lại quản hạt, hoặc cấp chủ quản trong công việc, họ có thể ước thúc hành động của mệnh tạo trong một thời kỳ. Những quan lại quản hạt hoặc cấp chủ quản trong công việc này có mối quan hệ như thế nào đối với mệnh tạo ?

      Trong ba điểm trên, cung Phụ mẫu của Thiên bàn (hoặc Địa bàn) chủ yếu dùng để luận đoán điểm "Một".
      Sau khi luận đoán được tính chất chủ yếu, vẫn cần phải căn cứ vào cung Phụ mẫu của từng Đại hạn và mỗi một lưu niên (Nhân bàn) để luận đoán, để xác định cát hung họa phúc của cha mẹ mỗi thời kỳ.
      Còn điểm "Hai" và "Ba" chủ yếu được dùng để luận đoán cung Phụ mẫu của đại hạn hoặc lưu niên (Nhân bàn). Nhưng cần phải ứng dụng một cách linh hoạt những tính chất thuật ở Tiết này.
      Ví dụ như Thiên Cơ thủ cung Phụ Mẫu, khi có Thiên Mã đồng độ hoặc xung chiếu, thì chủ về còn bé đã chia ly với gia đình. Lúc gặp kết cấu tinh hệ này ở cung Phụ mẫu của lưu niên, lại có thể là một vận trình ly biệt do thượng cấp đề bạt mệnh tạo, hoặc chủ về mệnh tạo rời khỏi công ty mình đang làm.
      Ví dụ khác, "Thiên đồng Cự môn" đồng độ thủ cung Phụ mẫu chủ về cha con bất hòa. Lúc gặp kết cấu tinh hệ này ở cung Phụ mẫu của lưu niên, thì có thể trong năm đó, chủ về có sự bất hòa với người chủ của mình.
      
      Hiểu rõ ý nghĩa thực sự của cung Phụ mẫu thì khi luận đoán mới phát huy tác dụng. Trong lúc ứng dụng thực tế, người nghiên cứu nhát định sẽ cảm thấy bối rối khi gặp tổ hợp các sao ở cung Phụ mẫu của đại hạn hoặc lưu niên, không biết tính chất của tinh hệ rốt cuộc dùng để đại biểu cho cha mẹ, hay đại biểu cho thượng cấp, hay là đại biểu cho cơ cấu chủ quản hoặc quan lại quản hạt?
      Theo Trung Châu phái, thông thường có thể dùng biện pháp xem kèm cung vị khác để giải quyết, như xem kèm cung Quan để luận đoán tình trạng quan hệ với thượng cấp, xem kèm cung Điền trạch để luận đoán tình trạng cát hung của cha mẹ, xem kèm cung Phúc đức để luận đoán tình trạng giao thiệp với với cơ cấu chủ quản hạt, cả ba đều nên xem kèm cung Mệnh để luận đoán.
      Đương nhiên, cũng có một số tình hình thực tế vốn không có gì phức tạp. Ví dụ một người qua tuổi trung niên, có thể cha mẹ đã qua đời, bản thân lại là ông chủ, thế thì tính chất các sao ở cung Phụ mẫu của đại hạn và lưu niên đương nhiên chỉ liên quan đến đơn vị quản lý hạt. Ví dụ Thiên Lương nhập thủ cung Phụ mẫu của lưu niên, có Thiên Khôi Thiên Việt đồng độ hoặc hội chiếu, vốn chủ về mệnh tạo được cha mẹ che trở, lúc này sẽ biến thành có thể được cơ quan giúp đỡ. 
      Hiểu rõ những nguyên tác luận đoán vừa thuật ở trên, người nghiên cứu Đẩu Số có thể luận đoán một cách linh hoạt.

      2. Nghịch - Cung Huynh đệ 
      Trong xã hội hiện đại, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán cung Huynh đệ, thực ra có khuyết điểm rất lớn. Ở xã hội cổ đại, anh em không tách ra ở riêng, nên Đẩu Số có thể dựa vào các sao ở cung Huynh đệ để luận đoán khái quát toàn bộ mệnh vận của gia tộc. Vì vậy ở tinh bàn, đối nhau với cung Huynh đệ là cung Nô bộc (nay đổi lại là cung Giao hữu), tương hội ở tam phương là cung Điền Trạch và cung Tật Ách. 
      Từ số lượng anh em nhiều hay ít, cho đến Nô Bộc nhiều hay ít và có đắc lực hay không, thì Mệnh vận của một gia tộc có thể biết được những tính chất sơ lược. Lại quan sát các sao của cung Tật Ách để xem gia tộc có bệnh di truyền hay không, thì tình hình càng rõ như chỉ bàn tay. Thời cổ đại một người phạm tội thì cả gia tộc bị liên lụy, cho nên quan sát cung Tật Ách là rất quan trọng.
      Xã hội hiện đại đã không còn chế độ đại gia đình, anh chị em mỗi người đều có gia đình riêng. Hơn nữa không còn tình trạng bị liên lụy người phạm tội trong gia đình. Cho nên, quan sát cung không có gì quan trọng, cổ nhân đã đặt ra một số phép tắc, cũng có thể nói hoàn toàn không còn hợp thời. 
      Theo Trung Châu phái, vẫn có thể vận dụng tổ hợp các sao của cung Huynh đệ, để luận đoán về người có cùng một xuất thân với mệnh tạo (theo cổ pháp, Huynh đệ cũng dùng để luận đoán về bạn "đồng môn" và bạn "đồng niên")
      Phàm cung Huynh đệ mà gặp Tả phụ, Hữu bật thì số anh chị em không chỉ dựa vào chính diệu để luận đoán là nhiều, như Tử Phủ cư Huynh chủ về anh chị em chỉ có 3 người, nhưng gặp Tả Hữu thì có trên 3 người, nhưng lại có khả năng là anh em khác mẹ, cần phải xem xét kỹ các sao của cung Phụ mẫu, xem có xuất hiện tình hình tái hôn, ngoại hôn hay không mà định.
      Có Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên việt, Hóa Lộc, Hóa Khoa, Hóa Quyền, thì số lượng anh chị em có thể dựa vào chính diệu để luận đoán là nhiều. Nhưng phải có "sao đôi" hội hợp thì mới có hiệu lực, hoặc cũng chủ về nhiều bạn đồng môn và nhiều người có cùng xuất thân.
      Cung Huynh đệ không gặp các sao Phụ diệu, Tá diệu, nhưng cung Mệnh gặp các sao Phụ diệu, Tá diệu tụ tập thì cũng chủ về nhiều anh chị em.
      Phàm là Tử vi, Thiên phủ, Thiên tướng, Thiên đồng, Thiên lương thủ cung Huynh đệ, về nguyên tắc chủ về anh chị hoặc bạn đồng môn, hoặc đồng sự ngang cấp có sự hòa hợp. Nếu gặp các sao lông bông thủ cung Huynh đệ như Tham lang, Vũ khúc, Thất sát, Phá quân, Thiên cơ, về nguyên tắc chủ về anh chị em, hoặc bạn đồng môn, hoặc đồng sự ngang cấp không thể đồng tâm hiệp lực. Nếu gặp thêm Sát tinh thì thường có tranh chấp, còn gặp thêm các sao Hình - Kị thì chủ về xảy ra kiện tụng.
      Phàm cung Huynh đệ gặp các sao Hình - Kị, lại còn gặp thêm Thiên Vu thì chủ về tranh chấp tài sản, hoặc chủ về đồng sự tranh chấp quyền lợi. Thiên lương thủ cung Huynh đệ gặp Kình dương đồng độ chủ về kiện tụng liên miên. [ An Thiên Vu: tháng 1 - 5 - 9 cư Tị, tháng 2 - 6 - 10 cư Thân, tháng 3 - 7 - 11 cư Dần, tháng 4 - 8 - 12 cư Hợi ].
      Cung Huynh đệ không nên gặp Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, vì chủ về anh em ở riêng nơi khác hoặc bất lợi, hoặc đồng sự hay đồng môn thì chủ về gặp nhiều đố kị tranh chấp. Sát tinh nặng mà gặp thêm Thiên Hình và Hóa Kị thì chủ về có hình thương.
      Cung Huynh đệ gặp "Lộc Quyền Khoa", chưa chắc chủ về anh chị em phú quý, có lúc chỉ chủ về có nhiều anh chị em. Nhưng trong số anh chị em ắt sẽ có người được cảnh ngộ khá hơn mệnh tạo; hoặc chủ về đồng sự có cung một xuất thân thăng tiến nhanh hơn mệnh tạo.
      Các sao Phụ diệu, Tá diệu, Sát tinh, tứ Hóa cùng bay đến cung Huynh đệ, chủ về cát hung lẫn lộn, cũng chủ về hòa hợp nhưng có "hình thương", hoặc chủ về hòa hợp mà không giúp đỡ lẫn nhau được, hoặc chủ về anh em nhiều nhưng hình khắc, ở riêng mà vẫn tranh chấp (luận về đồng sự, thì tuy có trợ lực nhưng chỉ là cái vỏ bên ngoài, còn bên trong lại có khuynh hướng kết bè kết đảng chống đối nhau). Cho nên khi luận đoán về tình hình giữa đồng sự với nhau, cần phải vận dụng một cách linh hoạt.

      3. Thuận - cung Phúc Đức 
      Tác dụng của cung Phúc đức trong Đẩu Số, là dùng để luận đoán hoạt động tư tưởng và sự hưởng thụ tinh thần của một người. Nếu so với cung Mệnh và cung Thân, có thể nói cung Mệnh và cung Thân là chủ về hưởng thụ vật chất, vận trình thực tế, còn cung Phúc đức thì chủ về những thứ trừu tượng hơn.
      Có một số người nhìn bề ngoài thì nhận thấy "công thành danh toại" khiến cho người ta phải ngưỡng mộ, nhưng có thể nội tâm của người này đang đau khổ mà người ngoài cuộc không biết. Đây là vì cung Mệnh và cung Thân người này tốt, nhưng cung Phúc đức lại có những khiếm khuyết đáng tiếc. Hoặc ngược lại, có một số người chỉ được no ấm mà thôi, nhưng nội tâm của họ lại rất vui vẻ, đây là do cung Mệnh và cung Thân không tốt mấy, mà cung Phúc đức lại tốt.
      Cung Phúc đức và cung Tài bạch đối nhau, có thể thấy sinh hoạt tinh thần vẫn không thể thoát khỏi sự ràng buộc của tài phú, tam phương hội chiếu với cung Phu Thê cũng đủ nhận thấy sự hưởng thụ tinh thần của một người có tương quan mật thiết với sinh hoạt hôn nhân, tam phương cũng tương hội với cung Thiên Di, là do hoạt động tư tưởng của con người ta, có thể ảnh hưởng đến động hướng của người đó. Ở quê nhà hay đi xa để tìm hướng phát triển, thường chỉ quyết định trong một hoài niệm.
      Những điều trình bầy trong "tiết" này sẽ lấy tình trạng tốt xấu của sự hưởng thụ tinh thần làm điểm chính yếu. Còn về phương diện hoạt động tư tưởng, do mỗi người được giáo dục ở nhiều mức độ khác nhau, thì rất khó tiến hành giảng giải một cách cụ thể, chỉ có thể đưa ra một số điểm chính yếu quan trọng.
      Khi luận đoán cung Phúc đức, lấy cung Phúc đức của Thiên bàn làm chủ, dùng để luận đoán bản chất tư tưởng và xu thế chủ yếu về phương diện hưởng thụ tinh thần của mệnh tạo. Cung Phúc đức của đại hạn và lưu niên (Nhân bàn) dùng để xem biến thiên theo từng năm mà xác định được sự thay đổi về tư tưởng, cách nhìn nhận về một vấn đề của người đó. Như cung Phúc đức của Thiên bàn là sao Tử vi, có nghĩa là Tử vi là bản chất, trong một vận trình gặp Thiên cơ ở cung Phúc đức của đại hạn hay lưu niên, thì tinh thần đôn hậu vững vàng của Tử vi vẫn không thay đổi, nhưng lại chủ về mệnh tạo sau khi lớn lên sẽ tăng thêm tính linh động, mưu trí và quyền biến. Như vậy khi luận đoán nhát thiết không được xem thường tính chất chủ yếu của cung Phúc đức nguyên cục.

      3. Nghịch - cung Phu Thê 
      Cung Phu Thê hội hợp "tam phương tứ chính" là cung Phúc Đức, cung Quan Lộc và cung Thiên Di. Cách phối trí này rất logic. 
      Sự nghiệp của một người đương nhiên chịu ảnh hưởng của sinh hoạt hôn nhân, di cư (thiên di) tha hương, nếu không phải là vợ chồng sinh ly tử biệt thì hoặc là vợ chồng đều nên sống ở tha hương, đây cũng là vấn đề trọng đại của đời người, còn cung Phúc đức chủ về sinh hoạt tinh thần của con người, mà quan hệ hôn nhân có ảnh hưởng đến sinh hoạt tinh thần, điều này không nói cũng biết.
      Cho nên việc quan sát và luận đoán cung Phu thê, cần phải xem xét kỹ các sao của cung Phúc đức, cung Quan lộc và cung Thiên di, các sao của ba cung này cũng chịu ảnh hưởng các sao của cung Phu thê, đây là hiện tượng rất hợp lý.
      Tiết này tuy dùng phương thức trình bày giản lược về các tinh hệ của hiện tượng hôn nhân, nhưng đã suy tính đến mối liên hệ của "tam phương tứ chính". Để tiện cho người nghiên cứu những ảnh hưởng của các sao Phụ diệu, Tá diệu, Sát tinh đối với tính chất các tinh hệ chính diệu, nên sau khi trình bầy tính chất của 14 tinh hệ chính diệu, vẫn có thêm một mục trình bầy tính chất của các sao Phụ Tá Sát ở cung Phu thê, để có thể dung hợp nó với tính chất của tinh hệ chính diệu, xem nó làm mạnh thêm hay yếu đi, hoặc tình hình chuyển hóa như thế nào.
      Ví dụ tinh hệ "Thiên cơ Cự môn" chủ về trước hôn nhân có sóng gió, trắc trở, hơn nữa còn chủ về phiêu bạt, còn tính chất của Lộc tồn là vợ chồng ân ái, chỉ dễ bị người phối ngẫu bắt nạt, hà hiếp, vì vậy mà hai người chia ly. Nếu dung hòa hai tính chất này, thì tham khảo thêm ở đại hạn hoặc lưu niên để luận đoán xem phần nhiều xảy ra chuyện gì.
      Có điều khi luận đoán hôn nhân, không nên chỉ xem cung Phu thê, mà còn nên xem kiêm tinh hệ của cung Mệnh. Trong xã hội hiện đại, sinh hoạt hôn nhân giữa vợ và chồng, việc luận đoán không ngoài những hạng mục như tình cảm, tài năng, dung mạo, và tài phú. Thế sự lại rất khó toàn mỹ, tài năng và dung mạo cũng rất khó lưỡng toàn, nhưng cũng không phải là không có khả năng tài năng, dung mạo, tài phú đều có đủ, cho tới trường hợp khi các phương diện đều hợp với lý tưởng, thì tình cảm lại thường thường dễ xảy ra thay đổi. Cho nên đạo của vợ chồng, quý ở chỗ biết thích ứng. Tiết này chỉ ra những hiện tượng quan trọng, mà còn gợi ý biện pháp dùng nỗ lực hậu thiên để bổ cứu và thích ứng với cuộc sống hôn nhân.
      Dưới đây là một số thể lể thích hợp cho tính hình chung, dùng để luận đoán cung Phu thê.
      Luận đoán cung Phu thê xem có mỹ mãn hay không, ngoại trừ việc quan sát cung Phu thê ra, còn cần phải xem xét tinh hệ của cung Mệnh, sau đó dung hòa hai tính chất này.
      Mỗi một cung Phu thê của đại hạn đều phải chú ý xem xét, sau đó mới có thể nhìn ra sự thay đổi trong quan hệ hôn nhân và tình cảm vợ chồng. Nhưng thông thường không cần dùng thêm tinh hệ của cung Mệnh đại hạn để trợ giúp trong việc luận đoán, trừ khi xem tai nạn bệnh tật.
      Muôn luận định về hôn nhân, tốt nhất là mang tinh bàn của cả hai người nam và nữ ra quan sát một lượt, chỉ càn quan sát cặn kẽ, tỷ mỉ thì có thể nhìn ra một số tình tiết.
      Khi luận đoán cung Phu thê, phải lưu ý một nguyên tắc, nhiều Cát tinh chưa chắc có lợi, như Xương Khúc chủ về người phối ngẫu quan tâm, chăm sóc, nhưng lại đồng thời có thể có tình nhân bên ngoài. Các sao Hung, sao Ác cũng chưa chắc là không tốt, như Đà La chủ về phối ngẫu rời xa quê hương, nhưng nếu gặp Lộc tồn, nhưng nếu gặp Lộc tồn, Thiên mã, thì lại chủ về phát tài ở nơi xa, hơn nữa tình cảm vợ chồng có thể rất tốt. Cho nên cần phải cân nhắc tỷ mỉ cẩn thận.
      Luận đoán cung Phu thê của Đại hạn hoặc Lưu niên, ngoại trừ tham khảo tiết này, còn cần phải căn cứ vào bản chất của tinh hệ thủ cung Phu thê nguyên cục.

      4. Thuận - cung Điền trạch 
      Trong Đẩu Số, cung Điền trạch có hai ý nghĩa:
      Một là, quan sát các sao ở cung Điền trạch của nguyên cục, có thể biết được vận thế địa sản của cuộc đời mệnh tạo, như cha mẹ có để lại di sản không, sau khi thừa kế di sản có phá tán, thất bại không, và vận thế mua thêm nhà cửa đất đai của mệnh tạo như thế nào?
      Hai là, quan sát các sao cua cung Điền trạch của lưu niên hoặc đại hạn, có thể biết được năm (hoặc đại hạn) nào có thể mua thêm nhà cửa đất đai không, có dời chỗ ở không.
     Hai điểm vừa thuật ở trên, là ý nghĩa phổ biến của cung Điền trạch. Ngoài ra, cung Điền trạch còn có thể dùng để trợ giúp luận đoán vận gia trạch của lưu niên. Lúc này liên quan đến tính chất của tổ hợp các sao ở cung Điền trạch.

      4. Nghịch - cung Tử tức 
      Trong mệnh bàn Đẩu Số, cung Tử tức và cung Điền trạch đối nhau, cung Tử tức tương hội với cung Phụ mẫu và cung Nô bộc. Kết cấu dạng này rõ ràng phản ảnh chế độ đại gia tộc thời xưa.
      Đại gia tộc trong xã hội phong kiến, con cái là do đầy tớ (nô bộc) phục dịch, do đó cung Nô bộc có ảnh hưởng nhất định đối với cung Tử tức. Đồng thời có thể nhìn ra quan hệ "kế thừa sự nghiệp của cha ông" từ tổ hợp các sao của cung Phụ mẫu và cung Tử tức, còn đối với cung Điền trạch, Đẩu Số dùng để quan sát gia trạch, đương nhiên càng có tương quan với cung Tử tức. 
      Do đó nếu nói tổ hợp tinh hệ của cung Huynh đệ là phô bầy cả một đại gia tộc, dùng để quan sát thế hệ bề ngang của mệnh tạo, thì tổ hợp tinh hệ của cung Phụ mẫu và cung Tử tức là một biểu đồ theo chiều dọc, dùng để quan sát từ ông Tổ đến cha mẹ, rồi từ cha mẹ đến con cái, cả một dòng họ truyền từ đời trước sang đời sau.
      Ngày nay, chế độ đại gia tộc theo kiểu phong kiến đã sụp đổ, kết cấu tinh hệ ở cung Tử tức và tam phương tứ chính đương nhiên đã mất đi một số ý nghĩa ban đầu. Nhất là cung Nô bộc, ngoại trừ để xem mối quan hệ với nhân viên làm thuê và người trực tiếp dưới quyền, thì ngày nay còn dùng để quan sát bạn bè, đương nhiên sẽ cảm thấy quá cách xa cung Tử tức. Vì vậy trong thực tế ứng dụng, càng cần phải định ra một số nguyên tắc khác.
      Sự tương quan hợp lý thứ nhất giữa hai cung, đó là lấy sự quan sát "mối quan hệ gia tộc" như trước kia, cải biến thành quan sát "địa vị xã hội". Bởi vì từ các tình trạng tốt xấu của cha mẹ, hay nhân viên làm thuê và bạn bè, cho tới con cái của mệnh tạo, có thể luận đoán ra địa vị xã hội của đương số.
      Ví dụ như, nếu ba cung đều cát, thì mệnh tạo phải là người lúc còn nhỏ được cha mẹ nuôi dạy khá tốt, bản thân cũng được bạn bè giúp đỡ ủng hộ, đồng thời còn được nhân viên làm thuê trợ lực, đến trung niên thì phát triển sự nghiệp, đến vãn niên thì có con cái có thể kế thừa sự nghiệp của cha ông. Người này là mẫu người điển hình của loại "lúc nhỏ là thiếu gia, lúc già gọi là lão gia", có địa vị xã hội như thế nào chắc là không cần phải nói.
      Nếu cung Phụ mẫu và cung Nô bộc không cát tường, nhưng cung Tử tức thì có Cát tinh tụ tập, như vậy có thể luận đoán mệnh tạo rất có khả năng phải trải quan gian lao vất vả, rồi mới tay trắng tạo nên sự nghiệp, sau trung niên ít nhất cũng có địa vị vào hạng trung lưu.
      Dựa vào điểm suy đoán này, có thể trợ giúp chúng ta luận đoán ra vận trình của bản thân mệnh tạo. Ngược lại, từ vận trình của bản thân mệnh tạo, cũng có thể luận đoán ra con cái của mệnh tạo có thành tựu hay không !
      Ví dụ như, nếu cung Phụ mẫu là Cát, cung Mệnh cũng cát, cung Nô không xấu, nhưng cung Tử tức lại xấu, thế thì, có khả năng không có người thừa kế, cũng có thể là con cái bất tài, phẩm hạnh quá kém.
      Vì vậy có thể căn cứ vào tinh bàn để tìm ra một số chỉ dẫn. Ví dụ như quan sát sự hiển thị của cung Tử tức, để biết về tính cách con cái của mệnh tạo mà đưa ra một số lời khuyên
      Đây cũng chính là nói, từ "tam phương tứ chính" của cung Tử tức ngoại trừ xem có con nhiều hay ít, còn luận đoán về tình cảm của mệnh tạo đối với con cái, và tính cách chủ yếu của con cái. Liên quan về những luận đoán này, ta cần kết hợp với cung Tử tức của đại hạn và lưu niên để đánh giá về vận mệnh của con cái đương số, để biết con cái của đương số có thành tựu hay không?

      5. Thuận - cung Quan lộc 

      Cung Sự nghiệp cổ nhân gọi là cung Quan lộc, đó là vì ở thời cổ đại địa vị xã hội của những người trong giới "công", "thương", "nông", đều rất thấp, chỉ có học hành để ra làm quan mới là con đường tốt nhất.
      Cho nên trong tinh bàn Tử vi Đẩu Số, cung Quan lộc và cung Phu thê phải đối nhau. Đó là vì Quan lộc sự nghiệp của một người có thể ảnh hưởng đến địa vị của vợ con.
      Ngày nay xã hội đã hoàn toàn khác, địa vị của giới doanh nhân rất cao, tất cả đều coi trọng tiền bạc, có thể nói mọi con đường đều quy tụ về tiền. Học hành để ra làm quan không còn là con đường lý tưởng duy nhất. Người đàn ông thường lấy sự nghiệp làm trọng, vì vậy "cung Quan lộc" được các nhà Đẩu Số hiện đại đổi lại cách gọi tên, được gọi là cung Sự nghiệp. Mà cung Sự nghiệp và cung Phu thê xung chiếu nhau, cũng có nghĩa là xem sự nghiệp và gia đình mâu thuẫn nhau. Vì vậy cần quan sát các sao của hai cung này xem có điều hòa hay không.
      Trong bối cảnh như vậy, cổ nhân đã định ra một số nguyên tắc luận đoán "cung Quan lộc" có thể nói là không còn hợp thời. Ví như "Thái dương nhập miếu được Cát tinh vây chiếu là quan nhất phẩm đương triều" (Thái dương nhập miếu đắc cát củng, nhất phẩm đương triều), "Thiên đồng nhập miếu, chức quan văn võ tam phẩm" (Thiên đồng nhập miếu, văn vũ tam phẩm chi chức), "Phá quân ở cung nhàn nên làm nghề thủ công, gặp Cát tinh thì có thể mua chức quan" (Phá quân nhàn cung nghi thủ nghệ, kiến cát tắc khả quyên ban). Tất cả những luận đoán này, ít nhiều đã lỗi thời ở thời hiện đại.
      Nói một cách thẳng thắn, chúng ta có thể biết tính chất tổ hợp các sao phù hợp với nghề gì, nhưng lại không thể dựa vào các sao mà nói ra nghề nghiệp cụ thể của nó. Ngoài ra, khi phán đoán nghề nghiệp của một người, còn phải tham khảo các sao của cung Mệnh và cung Phúc đức, điểm này cần chú ý.
      Liên quan đến vận thế sự nghiệp cuộc đời của một người, cũng không nên chỉ căn cứ ở cung Sự nghiệp nguyên cục để luận đoán, mà còn cần phải quan sát sự di chuyển của đại hạn và lưu niên, căn cứ vào cung Sự nghiệp của hành hạn, để nghiên cứu một cách tỷ mỉ, thêm vào đó là phối hợp "Lưu diệu", xem vận thế nghề nghiệp thuận hay nghịch như thế nào, tự nhiên có thể đưa ra phán đoán chính xác hơn.

      5. Nghịch - cung Tài bạch 
       Tiền bạc (tài bạch) là tư liệu để nuôi sống, nhất là trong xã hội thương nghiệp, địa vị xã hội của một người đầu như do tiền bạc quyết định, vì vậy việc luận đoán tiền bạc có hay không, và chủ yếu làm nghề nghiệp gì để kiếm tiền, đã trở thành vấn đề khá quan trọng.
      Liên quan đến vấn đề trọn nghề nghiệp gì cho thích hợp, đã được thảo luận khi tường thuật về tổ hợp tinh hệ của cung Mệnh, nên khi nghiên cứu cung Tài bạch, chủ yếu tập trung về thành tố "tài khí" như thế nào, có tiền của dần dần hay phát lên một cách nhanh chóng, sau khi có tiền của thì có giữ được hay không.
      "Tam phương tứ chính" của cung Tài bạch là đối cung Phúc đức, và hai cung tam phương là cung Mệnh và cung Sự nghiệp. Cung Phúc đức chủ về hoạt động tư tưởng và sự hưởng thụ tinh thần. Chuyện cơm áo gạo tiền khiến cho người ta phải lo toan nghĩ ngợi, và tình trạng nghèo hay giầu có thể ảnh hưởng đến tinh thần của một người. Đủ thấy tính chất ảnh hưởng qua lại của cung Phúc đức và cung Tài bạch.
      Đối với cung Mệnh, vận thế của mệnh tạo và cách cục chủ yếu được quyết định từ đây, đương nhiên có liên quan đến "tài bạch". Mối liên hệ giữa Sự nghiệp và Tài bạch, đương nhiên cũng là then chốt hỗ tương. Cung Mệnh, cung Sự nghiệp, cung Tài bạch hội hợp, đúng là tượng trưng cho "vị thế của lợi lộc".
      Nếu chỉ đơn thuần dựa vào cung Tài bạch của nguyên cục để luận đoán tiến bạc "được mất", thường thì chẳng đúng, bởi vì nó chỉ hiện thị những tính chất rất giới hạn. Nếu muốn luận đoán một cách tinh tế và chính xác, nhất định phải xem xét tới cung Tài bạch của đại hạn để luận đoán, sau đó mới có thể biết  sự phát triển tài vận của một đời người, còn cung Tài bạch nguyên cục chỉ chủ về xu thế chung của tài vận.
      Điều cần chú ý là, lúc luận đoán cung Tài bạch của đại hạn mà gặp "lưu Lộc", "lưu Quyền", "lưu Khoa", "lưu Tồn", "lưu Mã", "lưu Dương", "lưu Đà", thì tất cả chúng có cùng một tác dụng như các điều đã thuật về tính chất cơ bản của chúng.

      6. Thuận - cung Giao hữu (Nô) 
      Cung Giao hữu cổ nhân gọi là cung Nô bộc. Trong xã hội cổ đại, "nô bộc" là thành viên của gia đình. Một đời làm "nô bộc", đời đời là "nô bộc", cho nên sự tốt xấu của cung Nô bộc đúng là có liên quan đến sự thịnh suy của gia tộc. Vì vậy các nhà Đẩu Số cổ đại khi luận đoán khá xem trọng "nô bộc" có lực hay không? nô bộc nhiều hay ít? có phản chủ không? có giúp đỡ chủ không? mức độ trợ lực cho chủ là cao hay thấp?
      Ngày nay, cung Nô bộc đổi thành cung Giao hữu là một sự cách tân rất lớn. Về mặt lý luận, ngày nay đã không còn mối quan hệ chủ tớ như ngày xưa, dó đó về căn bản, không cần nhìn từ "nô bộc" để suy diễn ra vận mệnh của một gia tộc. Nhưng sự tốt xấu của các mối quan hệ giao tế là rất quan trọng đối với người hiện đại, việc sửa đổi thành cung Giao hữu đúng là đã mang lại cho khoa Đẩu Số cổ xưa một hàm nghĩa mới.
      Có lẽ, nhiều người sẽ hoài nghi rằng: "Cổ nhân truyền lại pháp môn này, sao có thể tùy tiện sửa đổi?" Thực ra Đẩu Số là đời đời tương truyền, đã luôn luôn biến động thay đổi, từ "Thập bát phi tinh" phát triển thành "Tử Vi Đẩu Số" chính là một biến động thay đổi cực lớn. Về sau, từ thời Nam Tống cho đến Minh Thanh, đời nào cũng có người truyền lại không ít khẩu quyết khá hữu dụng, đó cũng là sự biến đổi cách tân trong Đẩu Số. Vì vậy vấn đề không phải ở chỗ có nên thay đổi hay không, mà là những thay đổi cách tân đó có hợp lý hay không?
      Thử xét tam phương tứ chính của cung Nô bộc, đối cung là cung Huynh đệ, cung hội hợp là cung Phụ mẫu và cung Tử tức, đây rõ ràng là một tổ hợp tổ tông ba đời và nô bộc, cũng tức là một mô thức điển hình của gia tộc cổ xưa.
      Ngày nay lấy tính chất "nô bộc" biến đổi thành tính chất "quan hệ giao tế". Theo phái Trung Châu, cũng lấy cung Huynh đệ xem là quan hệ với người ngang vai. Lấy cung Phụ mẫu xem là quan hệ với bậc trưởng bối. Lấy cung Tử tức xem là quan hệ với những người thuộc vãn bối. Các sao của ba cung vị này hội chiếu với cung Giao hữu, vì vậy sẽ phản ảnh các mối quan hệ giao tế một cách chỉnh thể.
      Lúc luận đoán Đẩu Số, khi lấy cung Giao hữu dùng để luận đoán về mối quan hệ với nhân viên làm thuê hoặc người dưới quyền, cũng cần đồng thời lấy "Phụ mẫu"xem là ông chủ, thượng cấp, hoặc bậc tiền bối trong nghề nghiệp của mệnh tạo, lấy "Tử tức" xem là trợ thủ trực thuộc, hoặc những người thuộc lớp vãn bối trong nghề nghiệp của mệnh tạo, và lấy "Huynh đệ" xem thành nhưng người ngang vai với mệnh tạo, còn cung Giao hữu là một phản ánh chung.
      Người mới bắt đầu tiếp cận với Đẩu số thường mắc phải một bệnh, đó là không quan sát toàn diện các sao của các cung có liên quan. Lấy việc không quan sát các sao của cung "nô bộc" làm ví dụ, cổ nhân lấy cung Phụ mẫu và cung Nô bộc có quan hệ hỗ tương như thế nào, từ đó có thể biểu thị tình trạng "nô bộc" của đời "phụ mẫu". Nếu cũng lấy cung Huynh đệ và cung Tử tức ra quan sát, xem xét mối quan hệ hỗ tương của chúng với cung Nô bộc, thì có thể biết được tình trạng "nô bộc" ba đời.
      Ngày nay quan sát cung Giao hữu cũng có thể dùng biện pháp như vậy. Nếu lấy cung Phụ mẫu và cung Giao hữu ra so sánh, đồng thời tiến hành nghiên cứu mối quan hệ của chúng, thì có thể nhìn ra mối quan hệ của thượng cấp và người dưới quyền của mệnh tạo.
      Ví dụ như cung Phụ mẫu có Thiên lương độc tọa ở Ngọ, cung Giao hữu có Thiên đồng độc tọa ở Tuất, còn cung Huynh đệ là Cự môn ở Thìn có Sát tinh chiếu xạ, thế là chúng ta có một giả định tốt nhất là: thượng cấp là một người rất thích soi bói, bới lông tìm vết, trong đồng sự có người ưa đâm bị thóc chọc bị gạo, vì vậy mà bản thân mệnh tạo thường bị ở vào tình trạng lúng túng, khó xử về quan hệ giao tế ở nơi làm việc, có thể sẽ bị lôi kéo vào vòng tranh chấp, bất hòa. Điềm này có thể nhìn ra từ tính chất của Thiên đồng ở cung Tuất.
      Nhưng nếu Thiên lương có hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hội hợp, thì tính chất của Thiên lương sẽ biến thành cao thượng, độ lượng, Thiên đồng thủ cung Giao hữu cũng sẽ bị ảnh hưởng của "Lộc Quyền Khoa hội" mà được cải thiện.
      Trung Châu phái đưa ra phương pháp luận đoán này, có thể giúp cho người mới nghiên cứu Đẩu Số tìm ra tình trạng quan hệ nhân tế của mỗi giai đoạn trong cuộc đời một người khá rõ ràng.

      6. Nghịch - cung Tật ách 
      "Tam phương tứ chính" của cung Tật ách là cung Phụ mẫu, cung Huynh đệ và cung Điền trạch. Tổ hợp tinh hệ này là do trong chế độ đại gia đình, bệnh tật rất dễ lây nhiễm, thêm vào đó ở xã hội phong kiến cổ đại, thành viên của gia tộc mà phạm tội, thường thường có thể liên lụy đến người thân, vì vậy tổ hợp "tam phương tứ chính" này có một ý nghĩa đặc thù.
      Hoàn cảnh xã hội diện đại tuy đã biến đổi, nhưng cung Tật ách đối xung với cung Phụ mẫu dùng để xem bệnh di truyền, và hội phương với cung Điền trạch để xem trạng thái sức khỏe của các thành viên trong gia đình. Thậm chí quan sát các sao thủ các cung hội hợp với cung Huynh đệ để xem "đời người" có hung ách hay không, theo kinh nghiệm của phái Trung Châu mà Vương Đình Chi đại diện thì vẫn hữu hiệu.
      Cung Tật ách chủ về bệnh tật và tai ách. Nhưng liên quan đến vấn đề tai ách có xảy ra hay không, cung Tật ách thực ra chỉ có thể dùng để tham khảo. Bởi vì khi luận đoán tai ách, thường thường phải phối hợp thêm tinh hệ của cung Mệnh, hơn là dùng trực tiếp tinh hệ của cung Tật ách. Còn đối với việc luận đoán bệnh tật, thì nên xem xét cả tinh hệ của cung Mệnh lẫn tinh hệ của cung Tật ách, hai cung đều quan trong ngang nhau. Ví dụ như "Liêm trinh Thất sát" thông thường chủ về bệnh đường hô hấp, nếu cung Tật ách gặp tinh hệ này thì đương nhiên có ý nghĩa này, nhưng nếu cung Tật ách gặp sao Ác, mà cung Mệnh là "Liêm trinh Thất sát", thì cũng chủ về đường hô hấp.
      Có lúc thậm chí phải lấy tinh hệ của cung Mệnh và tinh hệ của cung Tật ách phối hợp lại để luận đoán một loại bệnh tật. Ví dụ cung Tật ách gặp "Liêm trinh Thất sát", có Sát tinh hội chiếu, cung Mệnh gặp Hồng loan và Thiên hỷ, theo luận giải của Vương Đình Chi có thể phát hen suyễn, hoặc tạm thời không phát tác, đến khi cung Mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Hồng loan, Thiên Hỷ, lại có thêm lưu Sát tinh xung hội thì mới phát bệnh.
      Thí dụ kể trên có thể biết, dựa vào các sao để luận đoán tật bệnh là rất khó. Trung Châu phái chỉ trình bầy một số kinh nghiệm bí truyền và nghiên cứu của Vương Đình Chi về tính chất các tinh hệ trong vấn đề bệnh tật và tai ách, khi nghiên cứu nên vận dụng linh hoạt, không nên quá câu nệ. Có lúc phải mang các sao của cung Mệnh và cung Tật ách, cùng với các sao hội hợp ở tam phương tứ chính ra đồng thời tham chiếu, thậm chí còn phải mang "Lưu diệu" của đại hạn hoặc lưu niên ra phối hợp để luận đoán, mới có thể chính xác.
      Ví dụ trường hợp xem bệnh ung thư vòm họng, tinh hệ chủ yếu vẫn là "Liêm trinh Thất sát", hành vận đến cung hạn Thiên đồng và Cự môn đối nhau, nếu đại hạn có các sao Sát Kị cùng chiếu, mà còn gặp Long trì đồng độ hoặc xung chiếu cung Mệnh, còn "Liêm trinh Thất sát" lại hội hợp với Hỏa tinh Linh tinh, hoặc Thiên hình, thì trong đại hạn này sẽ phát bệnh. Lấy trường hợp này làm ví dụ, để người nghiên cứu có thể thấy được phần nào phép tắc luận đoán bệnh tật.
      Dùng Đẩu Số luận bệnh tật hoàn toàn lấy nguyên lý Âm Dương Ngũ hành của Đông y làm căn cứ, cho nên rất khó luận đoán kết hợp với tên gọi các bệnh theo Y học hiện đại.

      7- Cung Thiên Di 
      Trong Đẩu Số, cung Thiên di dùng để luận đoán về vấn đề từ nơi sinh ra dời đến nơi khác để ở, đồng thời cũng có thể dùng để luận đoán tình trạng xuất ngoại để kinh doanh. Cung Thiên di của lưu niên, cũng luận đoán về những tao ngộ khi đi đâu xa, như có vui vẻ hay không? có bị trộm cướp hay không? có gặp điều gì bất ngờ hay không?
     Do cung Thiên di và cung Mệnh xung chiếu nhau, vì vậy các sao của cung Di cũng ảnh hưởng đến tính cách của mệnh tạo, đặc biệt là về năng lực xã giao, quan hệ giao tế, .v.v...
      Cung Di tương hội với cung Phúc, nên sự hưởng thụ tinh thần của một người đúng là có liên quan với quan hệ giao tế và hoạt động xã giao củ người đó. Còn việc đi ở nơi khác đem lại kết quả tốt hay xấu, đương nhiên có thể căn cứ phần nào vào tinh trạng hưởng thụ tinh thần mà luận đoán.
      Cung Di tương hội với cung Phu thê là rất hợp lý, bởi vì cho dù ở thời cổ đại, một người rời đại gia đình để phát triển hoặc vẫn ở quê hương sinh sống làm ăn, đương nhiên cũng có quan hệ với sinh hoạt vợ chồng. Các mối quan hệ xã giao cũng không thể không bị ảnh hưởng của người phối ngẫu. Đối với việc mang gia đinh đi nơi khác lập nghiệp thì càng có quan hệ mật thiết với người phối ngẫu.
      Do đó có thể thấy, tổ hợp các sao ở cung Di trong Đẩu Số là rất quan trọng, thậm chí có thể nói chỉ kém hơn cung Mệnh và cung Thân. Hơn nữa khi luận đoán xu thế mệnh vận của một người, có một điểm cần biết, đó là khi một người rời nơi sinh ra, đến nơi khác để ở, xu thế vận mệnh của năm đầu tiên, là do cung Di quyết định, mà không phải do cung Mệnh quyết định. Do đó cần phải lấy cung Di làm cung Mệnh để xem xét, các cung vị khác vẫn không thay đổi. 
      Giả dụ một người không ngừng di chuyển (như thuyền viên, phi công, .v.v...), không ở cố định một nơi nào, cũng phải lấy cung Di làm cung Mệnh để luận đoán.

     

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Follow by Email

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.