bài viết trong chuyên mục "lá số tử vi"

Hiển thị các bài đăng có nhãn lá số tử vi. Hiển thị tất cả bài đăng



Đại vận 10 năm trong lá số tử vi của bạn 


Đại vận trong lá số tử vi là chỉ cát hung họa phúc trong 10 năm của mỗi người. Trong lá số tử vi đại vận được ghi rõ mang các con số ở góc phải trên cùng của mỗi cung.
Thí dụ: Đại vận ở cungThê số 22, là Đại vận trong thời gian từ 22 đến 31 tuổi.
Đại vận 10 năm, chủ vào 10 năm của cuộc đời.Đại vận mà khá thì cũng như có cài gốc khá,tiểu vận có kém cũng được khá theo và tiểu vận mà khá thi lại càng khá nhiều. Ngược lại, Đại vận mà kém thì tiểu vận có những sao tốt, cũng không thể tốt như ý muốn. Càng bởi thế, tÍnh vận hạn, ta không nên ngạc nhiên rằng năm Thân lần trước sao ta khá thế, mà năm Thân lần này, sao ta lại quá dở, đó là vì Tiểu vận phải tùy theo Đại vận.

Các yếu tố để tính Đại vận trong tử vi gồm có Thiên Thời, Địa Lợi và Nhân Thời.

1. Thiên thời

Được Thiên Thời là được vận tốt, nói chung, và không kể đến chi tiết. Người được Thiên Thời tốt thì được ăn trên ngồi trước, người người quý mến, dù gặp trường hợp xấu vẫn hơn người đồng cảnh. (Thí dụ như gặp Thiên Thời mà phải ở tù thời cũng là tù cha, tù chú, anh em cung phụng, cai tù nể sợ) và mọi việc làm đều được hanh thông.
Muốn rõ Thiên Thời tốt xấu, phải đem hành của tam  Đai vân so sánh với hành của tam hớp tuổi (hành của tam hợp tuổi tức là mình).
Thí du: Cung Đại vận ở Thân, thì tam hợp Đại vận là Thân Tý Thìn, thuộc 'Thủy. Tam hợp tuổi của người tuổi Mùi là Hợi Mão Mùi, thuộc Mộc. Tam hợp Đại vận sinh cho tam hợp tuổi, nên ta gọi là sinh nhập.
Sau đây là các trường hợp của Thiên Thời:
- Tốt 1: tam hợp Đại vận cùng hành với tam hợp tuổi (tức là trường hợp cung Đại vận nằm trong tam hợp Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ và có Tứ Linh: Long, Phượng, Hổ, Cái). Đây là Đại vận tốt bậc nhất trong đời.
- Tốt 2: tam hợp Đại vận bị tam hợp khắc (tức là mình khắc ra hay là khắc xuất) vì mình khắc ra được, cho nên minh thắng được hòan cảnh, bằng sự phấn đấu.
Thí du: Tuổi Thân, thuộc Thân, Tý, Thìn, hành Thủy. Gặp Đại vận ở Tuất, là tam hợp Dần Ngọ Tuất, thuộc Hỏa. Mình khắc được Đại vận, tức là mình đạt được những thành quả bằng sự phấn đấu.
- Xấu nhẹ: tam hợp Đại vận được sinh do tam hợp tuổi (tức là tam hợp tuổi bị sinh
xuất). Trường hợp này, đương số gặp những khó khăn, phải chịu mệt nhọc mới có thành quả, hoặc phải thất bại trước sau mới thành, hoặc thất bại luôn phải chờ dịp khác.
Nhưng người tuổi Hợi, tam hợp Hợi, Mão, Mùi, hành Mộc. Hành Mộc sinh cho Đại vận (sinh xuất) khi Đại vận đến một trong 3 cung Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa.
- Xấu vừa: tam hợp Đại vận sinh cho tam hợp tuổi, tức là tam hợp gốc được sinh nhập, ở thế này, có dễ có khó, có thành có bại, tốt xấú đều lãnh đủ: Càng ăn nên làm ra càng gặp xấu, suy tán đến độ mất nghiệp, mất việc làm, mất tàì sản (vì gặp Thiên Không).
Như tuổi Mùi, tam hợp Hợi Mão Mùi (Mộc) đến Đại vận ,Thân và được tam hợp Thân Tý Thìn thuộc Thủy sinh cho, làm ăn tốt nhưng rồi tan vỡ cả!
- Xấu nặng: tam hợp Đại vận khắc tam hợp tuổi, tức là trường hợp mình bị khắc nhập, ơ thế này, đương sế gặp nhiều khó khăn làm ăn không tiến, thua thiệt, thất bại, hay gặp nạn.
Như người tuổi Mùi, tam hợp Hợi Mão Mùi thuộc Mộc, bị tam hợp Đại vận ở Dậu khắc, vì tam hợp Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim. Phải gặp những cái tốt khác mới gỡ được thế kẹt.
1. Địa thời trong tử vi
Yếu tố này là yếu tố thông thường, các sách đều có ghi.
Lấy hành của cung Đại vận, đem so với hành của Mạng mình. Như tuổi Kỷ Sửu Mạng Hỏa, Đại vận đến cung Hợi, hành Thủy, là mạng bị cung Đại vận khắc.         ’
Sau đây là các trường hợp:
- Tốt nhất Cung Đại vận sinh cho Mạng
- Tốt nhì Cung Đại vận đồng hành với Mạng
- Tôt 3  Mạng khắc cung Đại vận
-Xấu - Mang sinh cung Đại vận (sinh xuât)Xấu - Cung Đại vận khắc Mạng Yếu tố này nhẹ, được xếp hàng thứ ba. Tuy nhiên, nếu 2 yếu tố' kia mất được yếu tố Địa Thời này, thì còn gỡ được.

2. Nhân thời trong tử vi:

Nhân thời được tính bằng các sao tốt hay xấu trong Đại vận, gồm có chính tình trung tinh và hung tinh.
a - Trước hết phải ghi những sao nào có ảnh hưởng trong Đại vận.
- Đó là những sao trong chính cung Đại vận và các sao ở cung tam hợp về cung xung chiếu, thì tam hợp cung Đại vận có khắc được tam hợp cung xung chiếu, thì mới đạt được những sao tốt và khước từ những sao xấu. Ngược lại, tâm hợp cung xung chiếu khắc được tam hợp Đại vận, thì Đại vận bị gán cho những sao xâu mà không dành được những sao tốt.
- Về cung nhị hợp, tam hợp cung nhị hợp có sinh cho tam hợp Đại vận, thì Đại vận mới có được các sao nhị hợp. Nếu không sinh cho thì Đại vận không được.
b  Kế đó, xét các sao trong Đại vận (cung tam hợp, cung xung chiếu, cung nhị hợp).
-Chính tinh đắc địa là tốt; hãm địa là xâu; hãm địa phải có Tuần, Triệt mới tốt;
đồng hành và Mạng hay sinh cho Mạng càng tốt hơn; khắc hành Mạng lại là xấu.
- Trung tinh tốt là được tốt, hợp chính tinh càng tốt.
- Gập hung tính hãm là xấu; hung tình có hành khắc Mạng hay khắc hàng Can của năm sinh càng xấu: Hung tinh đắc địa thì tốít gặp đúng quan thầy trong bộ Sát, Phá, Tham càng tốt hơn (phát mạnh).
Đại vận đi đến cung nào, các biến cố thường xảy ra liên quan đến sự kiện chinh ở cung đó (đại vận đến cung Phối hay tam hợp Phối, thường cưới xin; đến cung Tài thường có việc liên quan tiền bạc; đến cung Ách, thường gặp tai ách).
 Các thế sao ở Đại vận thường cho biết về chi tiết biến cố:
-   Hỷ Thần, Thiên Hỷ, Đào, Hồng, Long Phương: Hôn nhân
-   Xương, Khúc, Khôi, Việt, Khoa, Phụ Cáo, Tướng An, Tứ linh: Long Phượng Hổ Cái, Thai Tọa, Quang Quý; Khoa Quyền Lộc, Tả Hữu, Đào Hồng Hỷ, Thiên Mã, Mã ngộ Tràng sinh: Thi đậu, thành đạt công danh.
Chú ý:
Thứ tự quan trọng của 3 yếu tố Thiên Thời, Địa Thời, Nhân Thời:
  1. Thiên Thời (Đại cương tối xấu rõ 60%)
  2. Nhân Thời (Chi tiết sự việc rõ 30%)
  3. Địa Thời (Thêm tốt xấu - đỡ cho trường hợp Thiên Thời bị hỏng )
- Đại vận được cả 3 yếu tố thì rất tốt
- Được hai yếu tố còn tốt
- Được một yếu tô'còn vớt vất được
- Mất cả ba yếu tố thì rất khó 

TÊN NGƯỜI có trên Lá Số Tử Vi.
                                              Nghiên cứu TỬ VI
Thật ra đây chẳng phải là phát hiện của tôi. Trước 75 trình độ TỬ VI của tôi mới 10 năm mà thôi. Hồi đó có tuần báo Khoa Học Huyền Bí chuyên viết về TỬ VI là chính. Có người cho rằng thầy TỬ VI giỏi có thể ‘hô danh’ được, tức là gọi đúng tên mình được. Hồi đó tôi cũng há hốc mồm mà đọc, mà tin rằng có người giỏi vậy sao? Đáng tiếc người hô danh được lại không có mà chỉ nghe kể chuyện lại mà thôi.
Bẵng đi 5 năm, một hôm đang phân vân giữa 2 lá số của một đứa em. Chợt nhớ tên người có trên lá số TỬ VI. Giữa một TỬ THAM Mão tại MỆNH và THIÊN TƯỚNG Mão tại MỆNH. Và em tôi tên là Lương, mà Lương và lang là một. Do bên kia có THIÊN LƯƠNG bên nầy gọi THAM LANG, THIÊN TƯỚNG hay trợ giúp, mà THAM LANG hay can thiệp, tính cách rất giống nhau, thật tình ngoài đời khó  mà phân biệt đâu là trợ giúp, đâu là can thiệp. Dĩ nhiên phát hiện chi tiết nầy tôi chọn cách TỬ THAM, phù hợp với cung TỬ TỨC của mẹ tôi mà người ta gọi là truyền tin.

Tên một đứa em coi như đã xong, an tâm một lá số. Không gì cực hơn một lá số bị hoài nghi ám ảnh mãi trong đầu. Thế là những lá số TỬ VI bị tôi đem kiểm tra hết. Ví dụ
Ông Nguyễn Văn Thiệu , vậy Thiệu nghĩa là gì? Là tiếp nối. Tiếp nối là THIÊN TƯỚNG, đúng rồi. Ông Nguyễn Cao Kỳ, tức là kỳ kỳ phải có HÓA KỴ, đúng rồi. Nguyễn Thái Học là học rất lớn, rất cao. Học thôi cũng đủ mệt rồi. Học không cần giải thích. Học là sao ĐÀO HOA. Sao nầy có tính chất hay là có khả năng học hỏi và đào tạo lại (trong TỬ VI hay bàn đến vấn đề dâm tính hấp dẫn hơn, đễ vợ chồng họ đễ gây lộn hơn khi biết tập tễnh TỬ VI). Tôi có người bạn tên là Sắc mà Sắc cũng ĐÀO HOA. Nếu bạn tên là Ba với nghĩa ba đào tức là có ĐÀO HOA nhưng với nghĩa con số 3 lại là THIÊN CƠ. Nếu bạn tên là ĐÀO, tên là HOA, hoặc tên một loài hoa. Cũng là ĐÀO HOA. Vậy thì ĐÀO HOA đẻ ra tùm lum cái tên.
Tên người tìm  từ cung Thiên Di nhìn vào, tìm từ cung MỆNH tìm ra.
Tên người còn tìm thấy tại cung Phụ Mẫu. Tại cung Huynh Đệ.
Ví dụ bạn tên là A. Tức từ cung Thiên Di cứ A ơi! A hỡi ! đi học nè, đi chơi nè, đi họp nè… Vì bên ngoài luôn luôn gọi bạn là Lê Vân A.
Tên mình còn có tại cung Phụ Mẫu vì chính cha mẹ ta đa phần đặt tên cho ta, cá biệt mới nhường ưu tiên đó cho ông nội, ông ngoại thậm chí xin người ngoài đặt tên. Tôi từng có vinh dự người ngoài nhờ đặt tên con, nhưng từ chối vì ngại phạm húy. Hết tên đặt lấy tên ông bà đặt tên cho con cháu. Trở lại vấn đề tên ta nằm ở cung Phụ Mẫu. Vì cha mẹ ta ngày ngày lúc nào cũng ơi ới gọi tên ta. Khi tên ta ở cung Phụ Mẫu ta có duyên được ở gần cha mẹ. (Để nghe la rầy, than thân trách phận…)
Tên ta còn nằm ở cung Huynh Đệ, vì anh em ta bao giờ mà chẳng gọi ta, ta còn có duyên nợ ở gần họ. Vì lý do gì đó ta sống xa cha mẹ, ta thường đem theo một số anh em, để có ai đó réo gọi tên ta.
Đố bạn tên TRÒN là gì? Là sao TUẦN.

Tên MINH CHÂU là gì? Là CỰ CƠ, hoặc là CƠ thôi nhưng phải có KHÔI VIỆT.
Tên Gió Lạnh là gì? Là LINH TINH cái chắc.
Tên người có trên lá số TỬ VI là điều có thật. Hô danh giỏi lắm chỉ ngẫu nhiên thôi.
Đố bạn tiếp tên tôi là Đình ứng với sao nào. Tôi biết có bạn thông minh đoán là sao THIÊN PHỦ (nhưng có thể nhờ đọc bài THIÊN PHỦ của tôi). Đúng lắm, chỉ cho bạn 5 điểm trên mười mà thôi, từ cung Thiên Di nhìn vào tôi có ngôi THIÊN PHỦ. Vì tên tôi ĐÌNH có nghĩa là con chuồn chuồn. Trong gia phả viết như thế. Trong định mệnh viết đình hoản, có nghĩa là Stop (Potspone, put off adjourn) vì MỆNH TỬ VI bị KỴ TRIỆT tức là Đình hoãn đấy. Cho nên bạn nhận điểm 5 là đúng rồi. Công bằng phải không. Đáng lý hôm nay tôi post bài “Thật và giả” do yahoo đề cập đến rượu giả. Đã viết xong rồi, nhưng nghĩ đi nghĩ lại (sao TỬ VI khoái suy nghĩ). Đọc xong có khối người buồn, trong đó có lắm người oán. Bạn thấy đó nghiên cứu thôi mà cũng ái ngại, huống gì chấm TỬ VI, không biết chấm càng, biết càng nhiều càng khó nói. Tôi quyết đình hoãn mà không đình trệ, nên viết tên người có trên lá số TỬ VI thay cho bài thật và giả.

  • Kiên
    Kiên
    • Kiên
    • Aug 18, 2012 9:45 AM
    Đọc --> biết ---> hiểu ---> lại ko hiểu --> sai, đúng, sai ---> Đọc tiếp
    • Nông Phu Nông Phu
      Nếu Thất Sát tại Ngọ+Lục Sát Tinh
      - Mệnh : Địa Không, Hoả Tinh
      - Quan : Đà La, Linh Tinh
      - Di : Kình Dương
      - Thân cư Thê : Địa Kiếp
      Mệnh Bạch Hổ-Thiên Hình, tam hợp Mệnh có Thiên Quan-Thiên Phúc, tật có Nhật-Nguyệt bị Tuần tại Sửu+Thanh Long
      Vậy tên Lành thì nên được hiểu thế nào cụ Bảo Bình nhỉ?
      • Bửu Đình Bửu Đình
        Có nghĩa là bố mẹ, anh em cầu mong cho được hiền lành thế thôi. Tên người xuất hiện tên trên cung Huynh Đệ.
      • Nông Phu Nông Phu
        Lành cũng chỉ Thiên Lương (ở Huynh Đệ) phải ko cụ Bửu Đình?
      • Bửu Đình Bửu Đình
        Lần này Thất Sát hết gà mờ đấy. Đúng là THẤT SÁT ngộ KHÔNG.
      • Nông Phu Nông Phu
        ka ka, Thất Sát ngộ Không có gì hay ko thế cụ Bửu Đình? đi tu được ko cụ?
      • Bửu Đình Bửu Đình
        Chỉ cần tu trong tâm thôi là tốt rồi. Trong chùa cũng bon chen, đạp nhau mà sống. Chiếc áo đâu làm nên thầy tu. Miến sao bạn không quấy nhiễu người khác. Lành thật chứ không không phải là “không được lành đâu”. Như thế là có hiếu với bố mẹ, ước muốn của bố mẹ mong bạn được lành, với nghĩa hiền (cơ) lành (lương). 2 chữ trung hiếu, được chữ “hiếu” cũng quí lắm rồi. Chữ “trung” có nhà nước lo rồi, xía vào rách việc. Nếu muốn biết đi tu được không, SÁT PHÁ THAM phải có ĐẠI HAO hội họp. Vì ĐẠI HAO chủ sửa đổi. Với điều kiện không có HỎA. Không có bộ KỴ KIẾP… Và chờ đại hạn (tất phải có) CƠ LƯƠNG ĐỒNG (1 trong 3 sao này) đồng cung với PHỤC BINH là đi tu được.
        Tu hành chân chính, 1 trong 3 sao SÁT PHÁ THAM bị TRIỆT, tức TRIỆT Tham Sân Si.
        Tu hành chân chính là báo không cần xem, tivi không cần coi, internet không cần biết… và nhiều cái không nữa. Bộ chú không biết chi hết sao?/ Biết chi cho phiền. Đó là tu hành chân chính.
        Thôi đừng làm phiền tại hạ nữa.
      • Nông Phu Nông Phu
        dà, cám ơn cụ Bửu Đình!
    • Trinh
      Trinh
      • Trinh
      • May 17, 2012 7:07 PM
      Chau tuoi Đinh Tị Sinh 10 gio sang ngay 10 thang 4 Bac co the coi giup chau xem so menh chau the nao dc khong a. Chau cam on Bac
      • Kiên
        Kiên
        • Kiên
        • Aug 18, 2012 9:52 AM
        218 bài của người viết không có ích gì sao ?!
    • Trinh
      Trinh
      • Trinh
      • May 17, 2012 7:05 PM
      lang thang tren mang chau lai vao dung trang nay. CAng doc cac bai viet cua BAc chau cang thay li thu va rat hay. Chau cung tu hoi lieu minh nhu the nao neu nhu 8 chu cua chau duoc bay tren la so va duoc bac chi diem thi hay biet may
      • Hoctuvionline Hoctuvionline
        Cháu chào Bác. Nói đến tên người có trên lá số tử vi, đúng là cháu cảm thấy rất tâm đắc. Cháu tên Hải Yến, mệnh Vũ Khúc tại tuất, Thân cư di có Tham Lang tại Thìn. Lá số: http://www.lyso.vn/dichvu/lasotuvi/3SMZFR0Y.jpg Chim Yến lúc nào cũng thích đơn độc lẻ loi, chỉ thích làm tổ trong những hang núi cheo leo, bay tít mù khơi ngoài biển. Biển thì lúc nào cũng ẩn chứa những cơn bão động, nên đời chưa 1 ngày bình yên, lúc nào cũng khắc khoải giữa các quyết định mang tính sống còn, đổi đời. Chắc là đối với chim yến, mỗi 1 ngày bay ra biển khơi tìm thức ăn, là 1 cuộc chiến đấu với thiên nhiên. Chim yến bé nhỏ, cũng như Vũ Khúc chỉ 1 khúc thôi, nên mình cao lắm, đến 1.48m lận. Chưa kể có thêm nhiều điểm khác trong lá số ứng với tính cách của loài chim này. Càng ngẫm nghĩ càng thấy tử vi kỳ diệu, đúng là đời người có số phận. Mỗi ngày đều cầu trời mong cho con chim Yến này tối tối lại được quay về tổ bình yên, để lại chuẩn bị cho cuộc hành trình ngày mai, biết có bình yên nữa hay không. Chúc Bác và mọi người vui khỏe.
        • Bửu Đình Bửu Đình
          Tổ yến đặt đâu cũng được, chớ ở VN, Khánh Hòa, cù lao Chàm... có nơi khai thác tổ yến đấy. Bay càng xa càng tốt. Rất đúng số.
      • alo alo
        • alo
        • Oct 19, 2009 11:04 AM
        Cảm ơn bác đã trả lời cháu. Có lẽ Thu còn hàm ý thu được và giữ được. Vậy là Vũ Phủ rồi bác nhỉ (Vũ Phủ cháu không có Tuần). Cháu đang phân vâ..
        Cảm ơn bác đã trả lời cháu. Có lẽ Thu còn hàm ý thu được và giữ được. Vậy là Vũ Phủ rồi bác nhỉ (Vũ Phủ cháu không có Tuần). Cháu đang phân vân, nếu dùng yếu tố này xác định thì vậy cũng rất hợp lý rồi. Còn cái khoản một mình ít giao du thì cháu cũng không rõ bản thân chịu ảnh hưởng nhiều của sao nào. Điếu khách ở mệnh, giáp Cô thần phụ mẫu, Quả tú nô bộc; Điếu khách lại hợp với Tang môn ở quan, Mã Phượng ở Tài đúng thật là cứ đi đi về về một mình thôi bác ạ.
        • dfsf dfsf
          • dfsf
          • Oct 16, 2009 8:23 PM
          Hơ vậy em tên Đ. Đức nên tử vi thấy toàn là đức. Nguyệt, Long, Thiên, Phúc tùm lum đức. Ngoài đời củng vậy đức xấu và tốt củng tùm lum. he!he! Vui bác nhỉ!:D 
          • alo alo
            • alo
            • Oct 16, 2009 4:33 PM
            Bác Bửu Đình ơi, đọc bài này của bác thú vị quá. Cháu đang phân vân 2 lá số Vũ Phủ tại Tý và Thiên cơ tại Tý. Cháu tên là Minh Thu. Thường thì nghĩ Thu là mùa thu, cháu cũng thấy mình như mùa thu: buồn buồn, lạnh lạnh, đôi lúc nắng vàng rộn ràng nhưng là ở bên trong thôi. Bố cháu thì bảo vì hồi xưa hay bị người ta lấy tiền nên mới đặt tên cháu là Thu, thu về, thu lại. Nếu suy luận theo cháu hiểu thì cả 2 cách nghĩ trên đều ứng với mệnh Vũ Phủ phải không bác? Nhưng cháu cũng hiểu Thiên cơ tại Tý là chán cảnh hồng trần rồi, thích thui thủi một mình, mong muốn tìm hiểu cách sống hoà hợp thiên nhiên, đất trời thì không biết có ứng với tên Thu không bác? Đọc lần lại các bài cũ của bác và mong được bác chia sẻ nhiều điều. Cảm ơn bác.
            • Bửu Đình Bửu Đình
              Nếu thu tiền lại là Vũ Tuần sao Vũ chủ tài sản, sao Tuần chủ thu lại (xem bài Tuần TRIỆT. Nếu thích ở một mình thôi ít giao du chịu ảnh hưởng của sao Vũ Khúc.
          • SONG HỈ SONG HỈ
            Oh thật ngộ nghĩnh mà lại đầy thực tiễn làm cho cháu thấy thật hứng thú khi nghe Bác giải thích kèm theo bản thân tự chiêm nghiệm
            Cảm ơn Bác Bửu Đình nhiều
            SONG HI
            • Thiên Phủ Thiên Phủ
              giấc mộng , nhất là những giấc mộng thường xuyên xảy ra và làm cho mình có ấn tượng đặc biệt , đều có ý nghĩa hết đó bác , theo cháu biêt được thì nó là biểu hiện của tiềm thức , khi mình đi ngủ , ý thức tạm ngừng hoạt động , thì tiềm thức mới trồi lên , thể hiện thành những hình ảnh và âm thanh trong giấc mộng . Y' thức được ví như bề nổi của một tảng băng , và tiềm thức là phần chìm của tảng băng đó - rất to lớn . Con người mình bị chi phối bời tiềm thức nhiều hơn ý thức .
              năm xưa mẹ cháu có lần cũng nằm mơ thấy rắn và có một bàn tay xuất hịên bóp con rắn đó , giấc mơ đó mẹ kể lại nó có ý nghĩa là lúc ấy có người muốn ám hại mẹ nhưng không làm được , mẹ cháu nằm mộng linh lắm , sanh ra 3 anh em cháu ,mẹ đều nằm mơ hết , giấc mơ của em trai và em gái của cháu đều hiểu ý nghĩa hết rồi , nhưng riêng giấc mơ của cháu thì cho đến giờ vẫn chưa hiểu được
              • Bửu Đình Bửu Đình
                Thì trong tiềm thức của bác là sợ rắn, cho nên khi ngủ tiềm thức hoạt động đánh thức nỗi lo sợ ấy. Bác quan tâm điều cháu nói, căn cứ vào đâu, rắn liên quan đến sự ám hại. Bác quan tâm đến sự ám hại, vì bộ tam Ám cũng có trên lá số TỬ VI của bác ứng nghiệm rồi, và cũng đã qua rồi, tức đại hạn ấy qua rồi, 5 năm tới gặp lại tiểu hạn. Bác cũng công nhận rằng có nhiều người có giấc mơ linh. Có nhiều nơi nằm xuống là thấy giấc mơ linh.
                Ví dụ nhà thờ họ của bác, bất cứ ai không phải con cháu nằm ngủ kể cả ban ngày, đều bị tống cổ ra ngoài. Nhớ cho là ban ngày. Và không phải chỉ một người mà rất nhiều người, bạn của bác 2 người từng bị. Bác tin là có nhưng không chứng minh được.
                Thôi cám ơn cháu.
            • Thiên Phủ Thiên Phủ
              hồi năm lớp 12 cháu gặp nhiều chuyện buồn lắm , có một đứa bạn tặng cho sợi dây truyền hình Qúan Âm , từ sâu trong lòng tự nhiên cháu rất thích dù trên trường lớp cháu được giáo dục tôn giáo là mê tín , cháu đeo nó hoài , sau đó tự nhiên gặp nhiều ác mộng , cháu không biết trốn ở đâu , vì ác mộng do tâm mình ra , bèn nhớ đến biểu tượng Qúan Âm và niệm Phật . Một thời gian sau thì có cơ duyên được biết đến Phật học . Từ ngày biết đến việc học đạo cháu dần hiểu được chính mình hơn và thay đổi rất nhiều , cho đến bây giờ cháu có cảm nghĩ câu niệm Phật năm xưa có ý nghĩa nhất định với sự tiến bộ của mình , mỗi lần gặp ác mộng bác hãy niệm Phật nhe
              • Bửu Đình Bửu Đình
                Cám ơn cháu. Bác sợ rắn nên nằm mơ cứ thường hay thấy rắn, rượt chạy không nổi. Sợ khiếp mất ngủ. Đôi khi mơ thấy cả một rừng rắn thật là khủng khiếp. Bác nghĩ do ám ảnh. Bác vẫn tin có gì đó rất huyền bí mà ta chưa hiểu được, có những quyền năng vô hình quanh ta mà ta không giải thích được. Cho nên vẫn còn một câu đố trong, hay không một thế giới tâm linh.
                Thôi hẹn cháu khi khác.
            • Bửu Đình Bửu Đình
              Theo bác nghĩ không thể (chính xác chưa bao giờ nghĩ đến) nhưng cháu tin rằng: Người chết nhưng lá số TỬ VI vẫn sống là điều hoàn toàn có thiệt. N..
              Theo bác nghĩ không thể (chính xác chưa bao giờ nghĩ đến) nhưng cháu tin rằng: Người chết nhưng lá số TỬ VI vẫn sống là điều hoàn toàn có thiệt. Nếu cháu muốn bác chứng minh thì phải viết một bài dài, bác ưu tiên viết trước.
              Bác cũng không rành về mộng mơ, bác thường hay có những giấc mơ khủng khiếp.
              Chúc cháu vui.
              • Thiên Phủ Thiên Phủ
                tên người mà cũng có thể thấy trong Tử Vi thì quả thiệt quá dữ dội
                Tử Vi có thể thấy được tiền kiếp không bác, lúc mẹ cháu mang thai cháu có ch..
                tên người mà cũng có thể thấy trong Tử Vi thì quả thiệt quá dữ dội
                Tử Vi có thể thấy được tiền kiếp không bác, lúc mẹ cháu mang thai cháu có chiêm bao thấy một giấc mơ ngộ nghĩnh mà cháu biết chắc nó có ý nghĩa gì đó , có thể là về tiền kiếp ?


              Xem đại hạn, tiểu hạn, nguyệt hạn, mệnh hạn trong tử vi


              Vấn đề xem hạn, đại hạn, tiểu hạn để biết những sự việc biến đổi trong thời gian tới là điều rất nhiều người học tử vi mong mỏi học tập và xem cho thành thục. Xem hạn không phải quá khó nhưng cũng không phải dễ. Để luận đoán hạn và kết luận chính xác, người xem cần phải suy luận thực sự kỹ càng và tỉ mỉ.
              Trong bài đầu tiên hướng dẫn về cách xem đại hạn và tiểu hạn cơ bản, chắc chắn nhiều người đã xác định được phương pháp xem hạn một cách tương đối tổng quan. Ở bài này, chúng tôi xin gửi tới quý vị và các bạn cách xem hạn chi tiết hơn. Hi vọng mọi người ngày càng tiến bộ, xem bách phát bách trúng.
              1.Lưu ý chung về Hạn
              Khi xem xét Hạn ta luôn lấy các cung số của bản thân làm gốc (Mệnh Thân Tài Quan Tật). Cho dù ở bất cứ Đại Vận, Tiểu Vận,… nào Cung số nào thì các tính chất của Mệnh Thân Tài Quan Tật không thay đổi. Có chăng họ chỉ thay đổi cách nhìn nhận mà thôi.
              Đại Vận là hoàn cảnh tác động lên ta, ta phải đối mặt trong giai đoạn 10 năm của Đại Vận. Trong 10 năm đó bản thân ta vẫn vậy, hoàn cảnh đó tác động tới ta ra sao mà thôi từ đó vẫn cái nghiệp đó, cái nghề đó, cái tính cách đó hay tai Ách đó ta thế nào với hoàn cảnh đó.
              Tiểu Vận là hoàn cảnh ta phải đôi mặt trong một năm ta đi qua. Xấu tốt tùy thuộc vào cách cục của Phi tinh lưu động tại mỗi năm.
              Tương tự với Nguyệt vận và thời vận,… cũng hiểu như vậy.
              Khi xem xét về Hạn (Đại Hạn hay Tiểu Hạn hay Nguyệt hạn,…) thì cung nhập Hạn là cung số tại giai đoạn đó ta phải bận tâm nhiều, chịu sự chi phối nhiều nhưng không phải chỉ xem xét ở cung đó thôi. Ta phải xem xét được toàn bộ 12 cung số trên lá số Tử Vi để quyết đoán.
              Có khi Tiểu Hạn xấu nhưng Mệnh Hạn tốt có khi ta vẫn toại ý thì ta đoán khác và ngược lại.
              Một năm bất kỳ ta hoàn toàn tìm được các cung xấu tốt ra sao.
              Để có thể xem xét được Hạn cần phân định được các nhóm sao cơ bản trong Tử Vi để xem xét. Nguyên tắc bao giờ cũng cần có 2 bộ sao cùng đặc tính gặp nhau mới xảy ra sự kiện đó.
              2.Hạn và quy tắc định Hạn
              Đại Hạn đầu tiên đóng tại Mệnh;
              Không dùng lưu niên Đại Hạn. Chỉ dùng Đại Hạn và Tiểu Hạn;
              Nguyệt hạn, Nhật hạn áp dụng như Tiểu Hạn. Tất cả đều được xem xét tại gốc Tiểu Hạn.
              Không quan tâm đến hạn Nhi đồng, như 1 tuổi coi ở đâu, 3 tuổi coi ở đâu,… chỉ quan tâm đến Tiểu Hạn. Và hãy chờ nhập vào số cục rồi hãy xem. Dễ hiểu là Hỏa Lục Cục hãy chờ đến 6 tuổi ta hãy xem.
              ● Đại Hạn: là thời gian 10 năm (thập niên), được tính dựa theo Cục và tuổi Âm, Dương. Mỗi thập niên được ghi vào một cung, bắt đầu từ cung Mệnh trở đi trong đó:
              Dương Nam, Âm Nữ thì ghi theo chiều Thuận, Âm Nam, Dương Nữ thì ghi theo chiều Nghịch.
              Thủy Nhị Cục bắt đầu bằng 2, rồi 12, 22, 32… Mộc Tam Cục bắt đầu bằng số 3, rồi 13, 23, 33… Kim Tứ Cục bắt đầu bằng số 4, rồi 14, 24, 34… Thổ Ngũ Cục bắt đầu bằng số 5, rồi 15, 25, 35… Hỏa Lục Cục bắt đầu bằng số 6, rồi 16, 26, 36…
              Phương pháp xác định Cục sẽ được trình bày ở Phần tiếp theo của Tài liệu.
              Thí dụ: Dương nam, Mộc Tam Cục, bắt đầu ghi số 3 ở cung Mệnh, rồi ghi số 13 ở cung Phụ Mẫu, ghi 23 vào cung Phúc Đức,…
              ● Tiểu Hạn: là thời gian 1 năm, được ghi theo vòng chu vi Địa bàn, mỗi cung ghi một tên. Nếu là Trai thì ghi theo chiều Thuận. Gái thì ghi theo chiều Nghịch. Cách xác định gốc Tiểu Vận được tổng hợp trong “Bảng 3-2” sau đây:
              Năm sinh
              Cung khởi lưu niên
              Dần, Ngọ, Tuất
              Thìn
              Thân, Tý, Thìn
              Tuất
              Tỵ, Dậu, Sửu
              Mùi
              Hợi, Mão, Mùi
              Sửu
              Bảng 3-2: bảng định khởi Lưu niện Tiểu Vận
              Ví dụ: 3 tuổi Hợi, Mão hay Mùi thì ghi chữ Hợi, chữa mão hay chữ Mùi ở
              cung Sửu.
              ● Nguyệt Hạn: là thời gian 1 tháng;
              ● Nhật Hạn: là thời gian trong ngày;
              ● Thời Hạn: là các giờ trong 1 ngày.
              3.Những lý luận về Đại Hạn và phương pháp xem Đại Hạn
              Như vậy ta cần hiểu Đại Vận là hoản cảnh sống mới tác động lên ta (Mệnh Thân Tật,..) là giai đoạn 10 năm mà ta phải đối mặt. Xấu tốt tùy thuộc vào Đại Hạn có các Sao, Bộ sao có phù hợp với các cách cục ở Mệnh Thân hay không.
              Khi ta hiểu Đại Hạn là hoàn cảnh ta tới đó; vi như người sinh ra tại Hà Nội (Mệnh họ) nhưng lại có những giai đoạn vào Sài Gòn làm việc, có những giai đoạn lại vào Đà Nẵng làm việc,… thì coi như Sài Gòn hay Đà Nẵng là một hoàn cảnh mới, môi trường mới giống như Đại Hạn. Khi ta tới đó Mệnh Thân Tật ta có gì thì ta vẫn vậy. Không thể hiểu khi đến đó ta lại là người có tính cách khác, ta vẫn phải là ta, đi đâu cũng là ta, tới Đại Vận nào cũng là ta, ta đến Sài Gòn hay đến Đà Nẵng thì kiến thức, tri thức, nghiệp vụ, tình cảm, tính cách trước ta thế nào giờ ta vẫn vậy có chăng là trước ta đang thiếu gì thì đến đây có gì, trước ta đang sợ gì thì đến đây có gì mà thôi. Giống như ta đang ở Hà Nội, được đi đường tốt nhưng lại phải đi tới vùng sâu vũng xa mà đường xá khó đi, như vậy là hoàn cảnh khắc nghiệt,….
              Điều cần thiết nhất vẫn là nhớ, hiểu được lý tính các sao, các bộ sao quan trong, các sao cần gặp và kỵ gặp với mỗi sao, bộ sao.
              Cần phân định các nhóm sao trong Tử Vi để quyết đoán.
              Vi dụ 1; một người có thiên hướng chuyển động nhưng cả một thời gian dài, có khi từ bé tới 30 tuổi họ cũng không đi đâu quá xa cả. Nhưng đến 1 Đại Vận X nào đó có ít nhất một bộ sao cùng tính chất chuyển động. Khi đó họ sẽ đi.
              Vi dụ 2; Một người có Bộ CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG hay SÁT PHÁ THAM đáo hạn HỎA LINH rất mệt mỏi nếu có BỆNH PHÙ hay DIÊU Y ở Mệnh Thân, Tật hay tại gốc Đại Hạn mà Mệnh SÁT PHÁ THAM rất dễ vào bệnh viện,….
              Ví dụ 3: Người có TỬ VI tại Mệnh nếu không có TẢ HỮU thì làm vua cũng như không vì không có quần thần nhưng khi đáo hạn có TẢ HỮU tất có quần thần,…
              4.Những lý luận về Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn,… và phương pháp xem
              Để xem xét Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn người xem Hạn cần lưu được các sao lưu động.
              Trong pham vi của phương pháp Tử Vi này chúng ta sử dụng khoảng 46 sao lưu động cho phần Tiểu Hạn. Khi xem xét đến Nguyệt Hạn ta lưu thêm các sao Tháng (5 sao), xem xét đến Nhật Hạn Lưu thêm các sao Ngày và các sao an theo Ngày và Tháng (2 sao) xem đến thời hạn lưu thêm các sao Giờ và các sao an theo Ngày và Giờ
              (10 sao).
              Sử dụng Can Chi của Năm, Tháng, Ngày Giờ để tiến hành Lưu sao
              Sau khi an toàn bộ các sao lưu động của Năm hoặc Tháng hoặc Ngày hoặc Giờ ta coi bản đồ các sao này như 1 lá số thứ 2. Mang lá số cố định ghép với lá số Phi tinh lưu động để xem xét. Quan tâm tới tính kết bộ giữa các sao để quyết đoán, cần phân định các nhóm sao trong Tử Vi để quyết đoán. Đặc biệt là các sao và nhóm sao Kỵ nhau. Quan tâm tới Tứ Hóa của năm, bộ Tam Minh và ngôi sao PHƯỢNG CÁC để quyết đoán ảnh hưởng tốt đẹp hay kết quả của 1 năm lên các cung số.
              a. Tiểu Hạn
              Được hiểu như ý nghĩa của Đại Hạn, tuy nhiên phương pháp luận đoán lại chủ yếu dựa vào Lưu Phi Tinh của năm nghiên cứu, xem xét.
              Liên tưởng tới các phương trình phản ứng Hóa học hay sử dụng chất xúc tác để gây phản ứng. Để dễ hiểu ta cũng coi các sao Lưu động như các chất xúc tác để đánh thức các sao cố định. Ví dụ: Một cung có TRIỆT cố định, đến năm có Lưu TRIỆT ở cung đó được xem là xấu, khi đó ý nghĩa của TRIỆT được phát tác. Một người muốn thay đổi cũng cần có các sao, bộ sao lưu động hội về cung cần thay đổi để có sự thay đổi. Một cung Điền Trach có HÓA LỘC cố định đến năm có Lưu HÓA LỘC tại đó tất sẽ sinh ra LỘC,… Cung có Tai, Ách, Họa, Nạn cần các sao để kích động cho Tai, Ách, Họa, Nạn tác họa. Ví như năm nào có KHÔI VIỆT đặc biệt là VIỆT lưu vào cung Tật rất vất vả với Tật Ách,… muốn có sự khơi sự (lập công tý hay làm một việc gì đó) cần có sự kích hoạt để ngôi sao có ý nghĩa KHỞI SỰ được đánh thức,…. Và mọi vấn đề khác cũng vậy cả mà thôi.
              Như vậy để xem Tiểu Hạn, cần có các công thức luận đoán Hạn như: Hạn tình cảm (yêu, phản, chia tay, lập gia đạo,….), Hạn Tang chế, Hạn Chuyển động, Hạn nhà đất, Hạn công việc, Hạn sinh con, Bệnh tật, Kiện cáo, Bắt bớ, Tai nạn,… để xem xét luận đoán.
              Về cơ bản cung số nào có bộ Tam Minh ta tìm thấy vui mừng ở cung số đó, cung số nào có LỘC ta tìm thấy tiền bạc tại cung đó, cung số nào có QUYỀN hay KHOA tức ở đó có dấu hiệu của hai sao này, cung số nào có BỆNH PHÙ tất liên quan đến ốm đau, bệnh tật, lo lắng suy nhược… Cung số nào có PHƯỢNG CÁC thì cung số đó được xem là hay. Ngôi sao PHƯỢNG CÁC có ảnh hưởng rất mạnh tới tính chất tốt đẹp của bộ TANG HƯ KHÁCH. PHƯỢNG CÁC làm cho 1 năm tưởng xấu lại hóa hay khi đi vơi bộ TANG HƯ KHÁCH,…. Đặc biệt cần nhớ một số cách cục đặc biệt để luận đoán vd: bộ THÂT SÁT BÁCH HỔ, ĐÀO HOA TANG MÔN, HỒNG LOAN BẠCH HỔ,… để quyết đoán nhanh về tính chất phức tạp không thuận lợi tại cung số có bộ sao này lưu vào.
              b. Nguyệt Hạn và Thời Hạn,…
              Không xem xét như các phương pháp khác, TVUD không xem xét theo phép an Tháng, Ngày, Giờ sau đó chạy quanh 12 Cung số.
              Tất cả các Tháng, ngày, giờ nằm chung trong 1 cung Tiểu Hạn quan trong ta xem thế nào, dùng cái gì để xem mà thôi.
              Vẫn là Phi Tinh lưu động, ứng với các Tháng, Ngày, Giờ ta luôn có cả Can Chi. Cũng giống như xem Tiểu Hạn ứng với Can Chi của Tháng, Ngày, Giờ nào ta dùng Phi Tinh tương ứng.
              Khi xem xét đến Tháng, Ngày, giờ ngoài tính chất kết bộ của các sao thì các ngôi sao đơn lẻ rất quan trọng. Dùng bộ KHÔI VIỆT để kích hoạt ý nghĩa các sao và kết hợp với tính chất kết bè, bộ để luận đoán.
              VD: Ngày X tại lá số của A tại vị trí THIÊN ĐỒNG (nằm bất cứ ở đâu) thấy lưu VIỆT của ngày thì ngày hôm đó A dễ có việc đi làm phúc hay được ngươi khác làm phúc,… Cần hiểu các ý nghĩa của sao để xem xét
              5.Mệnh Hạn
              Bạn đọc thường thấy người viết hay nhắc đến từ Mệnh Hạn nhưng có lẽ đa phần các bạn không quan tâm đến. Và chúng ta thường quan tâm đến Tiểu Hạn hay Đại Hạn mà thôi.
              Mệnh hạn nghe có vẻ mơ hồ và khó hiểu. Thật ra cũng dễ hiểu và đến lúc các bạn cần hiểu. Vì Mệnh Hạn cũng là cái Hạn tại Mệnh đừng hiểu lầm từ này ghép đôi của Mệnh và Hạn và Mệnh hạn là từ riêng dung đẻ chỉ sự tốt xấu tai cung Mệnh của năm ấy.
              Ví dụ như thế này bạn dễ hiểu. một người có chính tinh tọa thủ tại Mệnh bất kể nó hợp Mệnh hay là không. Ví dụ THÁI DƯƠNGcho là sáng sủa tốt đẹp nhưng không phải bao giờ họ cũng đắc ý và thành công, cũng không phải là do họ gặp Tiểu Hạn xấu hay Đại Hạn xấu. Mà còn do cái năm ấy không hợp với họ.
              Ví dụ, người THÁI DƯƠNG rất kỵ năm Giáp, tất nhiên tháng Giáp ngày Giáp đều kỵ vì chữ Giáp, hóa khí THÁI DƯƠNG là HÓA KỴ. Từ đó người THÁI DƯƠNG dễ bị người ta ghét, nghi kỵ (nghi ngờ) rồi cấm đoán. Tự nhiên người THÁI DƯƠNG năm ấy vụng về hơn, hoặc cũng chẳng vụng về nhưng tự nhiên dưới con mắt nhiều người dễ bị ghét bỏ hơn, bình thường họ vẫn thế. Nhưng hôm nay họ dễ bị người ta chỉ trích, dễ ghét chưa kìa hay tự đắc, hoặc thấy kênh kiệu, hoặc là khoe khoang… và họ tìm ra được cái để chỉ trích nhưng năm trước đây, ngày trước đây họ lại không chỉ trích.
              Lại ví dụ tiếp, Mệnh DƯƠNG LƯƠNG tại Mão vào năm Giáp ngoài lưu KỴ còn thêm lưu KÌNH, cái đố kỵ đó càng thêm mạnh mẽ. Hoặc bộ KỴ ĐÀ nếu như Mệnh ÂM DƯƠNG tại Sửu. Hoặc Mệnh có bộ CỰ NHẬT tại Tuất như trường hợp THÁI DƯƠNG tại Tuất lưu Hóa Kỵ tại đó còn làm cho cả CỰ MÔN bị mất tác dụng.
              Ta hãy hình dung một người tự nhiên năm ấy bị xấu đi do Mệnh hạn, di chuyển trong Đại Hạn tương đối xấu và Tiểu Hạn cũng tương đối xấu. Tất mọi việc càng dễ thêm xấu. Với người THÁI DƯƠNG họ kỵ năm Giáp nhưng lại hợp năm Canh (do Canh và Giáp xung nhau, chữ Canh THÁI DƯƠNG hóa khí là HÓA LỘC) và năm TÂN hóa khí thành quyền. Nếu Đại Hạn hay Tiểu Hạn tương đối xấu nhưng gặp năm Mệnh hạn tốt đẹp cũng trở thành dễ chịu.
              Cũng lý luận như thế người ÂM DƯƠNG chịu liền 2 năm Giáp Ất bị lưu KỴ. Trừ các trường hợp kỳ tài không nói làm gì nhưng các trường hợp cung Mệnh vốn đã không tốt đẹp bị lưu Kỵ thêm Kình hay Đà rất xấu cho các trường hợp NHẬT NGUYỆT. Tât nhiên người NHẬT NGUYỆT hợp các năm Mậu Đinh Canh Tân.
              Theo những lý luận đã có, người có LIÊM TRINH rất kỵ các năm Bính, THAM LANG kỵ năm Quý. Nếu chỉ có KỴ thôi đã phiền lại có thêm ĐÀ, KÌNH TRIỆT càng phiền nhiều hơn. Những chi tiết này làm cho vận hạn đã xấu lại càng xấu hơn.
              Chỉ có các sao không có hóa khí như bộ PHỦ TƯỚNG… là ít chịu hóa khí tác động, vì bộ này chủ yếu là đa phần được người ta thương. Nó bi xấu là do các chính tinh khác tác động. Và bị xấu do hàng Can Chi sẽ đề cập ở dưới.
              Trên là phần lưu hóa khí các năm. Phần các sao trong bộ Can Chi cũng thế. Các sao CỰ MÔN, PHÁ QUÂN tọa thủ Mệnh không thích lưu LỘC TỒN hội họp tại Mệnh mà nó chỉ thích sao HAO. Bộ PHỦ TƯỚNG không hợp với KÌNH TRIỆT. THIÊN CƠ rất kỵ TANG MÔN. TỬ VI rất kỵ THIÊN HƯ TUẾ PHÁ, nhất là Hư TRIỆT… Nếu có những sao kỵ tất nhiên cũng có những sao đem lại vui mừng như ĐÀO HỒNG HỈ, Song Hỉ và Tứ Linh che chở Mệnh làm cho cung Mệnh có giá trị hơn. Như thế có nghĩa là Mệnh hạn năm này có thể tốt hay xấu, đối đầu với Đại, Tiểu Hạn.
              Ngoài ra chú ý các bộ Can Chi tại cung Tật Ách, lưu tại cung Mệnh thường đem lại những tai ách. Một sao thuộc hàng Can thiên về việc làm và 1 sao thuộc hàng Chi thiên về trạng thái. Kể cả các trường hợp lưu tại Đại Hạn, Tiểu Hạn cũng là xấu vì nó đại diện cho tai ách.
              Cũng thế các bộ Can Chi tại các cung, lưu động tại Mệnh hay đai Tiểu Hạn tất nhiên có việc liên quan đến cung đó. Ví dụ bộ Can Chi của cung huynh đệ lưu tại Mệnh hay đại, Tiểu Hạn tất nhiên có vấn đề liên quan, tốt xấu còn tùy thuộc vào hung cát tinh để luận đoán.
              sen hong
              6.Cách tính Can Chi của tháng
              Dựa trên cơ sở Can của năm theo lịch kiến dần (nguyên tắc ngũ dần)
              Trước hết tháng giêng là tháng Dần, tháng Hai là tháng Mão…, mỗi tháng đi với một Chi nhất định
              Muốn biết Can của tháng thì áp dụng phương pháp sau gọi là phương pháp Ngũ Dần:
              Năm Giáp và Kỷ tháng giêng là tháng Bính Dần
              Năm Ất và Canh tháng giêng là tháng Mậu Dần
              Năm Bính và Tân tháng giêng là tháng Canh Dần
              Năm Đinh và Nhâm tháng giêng là tháng Nhâm Dần
              Năm Mậu và Quí tháng giêng là tháng Giáp Dần
              7.Cách tính Can Chi của ngày
              Dựa trên Can Chi của tháng. Theo nguyên tắc tháng giêng là tháng Giáp Tí thì ngày mùng một sẽ là ngày Giáp
              Tí, mùng hai sẽ là Ất Sửu…Vì số ngày trong năm không chia chẵn cho 60, nên ta không thể có qui tắc tính Can Chi của ngày dựa trên Can Chi tháng được mà phải
              tra lịch.
              8.Cách tính Can Chi của giờ
              Căn cứ vào Can Chi của ngày theo nguyên tắc ngũ Tý
              Ngày Giáp và Kỷ giờ Tý là Giáp Tý;
              Ngày Ất và Canh giờ Tý là Bính Tý;
              Ngày Bính và Tan giờ Tý là Mậu Tý;
              Ngày Đinh và Nhâm giờ Tý là Canh Tý;
              Ngày Mậu và Qui giờ Tí là Nhâm Tý.

              Những người sinh cùng Năm, Tháng, Ngày, Giờ, Phút, Giây
              MỆNH VẬN CÓ GIỐNG NHAU KHÔNG?

              Có người bạn nói chuyện với tôi về mệnh vận. Anh ta nói: tôi cực lực phản đối thuyết con người có mệnh vận và nêu ra một số lý do để chứng minh quan điểm của mình là đúng. Ví dụ, nếu có người nói con người có mệnh vận, thế thì những người sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây vì sao chỉ có một người làm vua. Nước ta có rất nhiều người giờ sinh như nhau, mệnh vận của họ nên giống nhau mới đúng, tại sao lại không giống? Luận điểm của anh ta rất rõ ràng, chỉ cần cùng thời gian sinh thì mệnh vận sẽ như nhau, không thể khác nhau tí nào hoặc phân thành suy vượng được. 


              Tôi hỏi anh ta: ngày cùng là ngày cả thế tại sao còn có xuân hạ thu đông, có nóng lạnh khác nhau ? Ðất cũng là cùng một quả đất, vì sao có chỗ nước, chỗ không, chỗ cao, chỗ thấp? Cùng một mảnh đất, cùng một hạt lúa, cùng trồng sáu tháng vì sao có cây cao, cây thấp? Cũng một cành cây, tại sao có quả to, quả nhỏ. Nhân thể là một khối thống nhất, tại sao công năng của lục phủ, ngũ tạng lại có cái mạnh, cái yếu, có cái tốt, cái xấu? Vì sao có người chỉ có gan mộc khối u, còn các phủ tạng khác thì lại tốt? Tôi lại nói cơ thể con người là thống nhất, lục phủ ngũ tạng ở trong mình là tự người mẹ sinh ra, tất cả cùng giờ sinh thế mà chỉ có gan mọc khối u còn những tạng phủ khác thì không bị. Vậy giữa chúng quả thực có sự khác nhau rất lớn.
              Ông bạn ấy nghe tôi nói đã hiểu được vấn đề và nói lại là: "Ừ, đúng nhỉ! Lục phủ ngũ tạng đều cùng một giờ sinh, thế mà lại khác nhau rất lớn, thật đáng nghiên cứu.". Tôi nói với anh ta: "Tổ tiên chúng ta từ lâu đã nghiên cứu ra rồi, đó là lục phủ ngũ tạng đều có âm dương, có ngũ hành tương sinh tương khắc, mỗi cái chủ suy vượng của 4 mùa, cho nên cùng một giờ sinh, nhưng khác nhau rất lớn".
              Những người cùng giờ sinh, vì sao mệnh lại không giống nhau? Nguyên nhân rất nhiều, không có cách nào để giải thích cho rõ ràng, tỉ mỉ được. Tôi chỉ nói vắn tắt như sau:
              1) Phương vị khác nhau, như phương nam là hỏa, phương đông là mộc, phương bắc là thủy, phương tây là kim. Người mệnh hỏa nhưng sinh ở phương nam hay phương bắc sẽ khác nhau. Phương nam là đất hỏa vượng, phương bắc bị thủy khắc cho nên không như người sinh ở phương nam.
              2) Năm mệnh của phụ mẫu khác nhau.
              3) Năm mệnh của anh chị em khác nhau.
              4) Năm mệnh hôn nhân khác nhau.
              5) Năm mệnh của con cái và số con đều khác nhau.
              Vì năm mệnh của những người trong gia đình khác nhau, mức độ ngũ hành sinh khắc sẽ khác nhau, do đó ảnh hưởng đối với con người cũng sẽ khác nhau. Ví dụ có một người mệnh Mộc, cha mẹ đều là mệnh Kim, đều khắc anh ta. Có người tuy cũng là mệnh Mộc, nhưng cha mẹ đều là mệnh Thủy, thủy sinh mộc. Người bị khắc cuộc sống sẽ không thuận, người được tương sinh cuộc sống sẽ thuận.
              6) Nam nữ khác nhau, do đó mà có sự vận hành thuận, nghịch khác nhau.
              7) Tướng mặt, vân tay không giống nhau cho nên việc nó làm chủ cũng khác nhau.
              8) Cốt tướng của người khác nhau.
              9) Mộ tổ, nhà ở khác nhau, phương vị khác nhau. Ngày xưa đã có câu "Nhất mộ, nhì phòng (nhà ở), tam bát tự", tức là nói mệnh vận tốt, xấu của một người, thứ nhất quyết định ở phong thủy phần mộ ông cha tốt hay xấu; thứ hai quyết định ở phong thủy của nhà ở; thứ ba quyết định ở sự sắp xếp tổ hợp của tứ trụ. Cho nên, cho dù ngày giờ sinh giống nhau, nhưng phần mộ tổ tiên và nhà ở không hoàn toàn giống nhau được.
              10) Gen di truyền của mỗi người khác nhau.
              11) Hoàn cảnh, điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.
              12) Ðiểm sáng của sao chỉ có một. Tuy có hàng nghìn, hàng vạn người cùng giờ sinh, nhưng điểm sáng của sao trực ban quyết không phải người nào cũng nhận được. Nếu điểm sáng này chiếu đúng vào nhà một người nào đó, hoặc đúng lúc người mang thai đang sinh, người đó có thể sẽ là hoàng đế, còn những người khác thì không làm nổi hoàng đế. Nếu có một tạp chí nào đấy đã thông báo: bố mẹ Mao Trạch Ðông đều không đồng thời nhìn thấy vầng đỏ phía đông phòng họ rồi sau đó mang thai Mao Trạch Ðông, đương nhiên vầng đỏ này không phải là tất cả các bậc bố mẹ của những người cùng giờ sinh đều thấy được.
              Có một câu chuyện như sau:
              Chu Nguyên Chương đời Minh sau khi đã làm Hoàng đế nghĩ rằng, mình đã làm vua và những người cùng giờ sinh với mình cũng là "mệnh Hoàng đế" cả, nếu không giết hết họ sau này sẽ có người tranh ngôi. Do đó ông đã ra lệnh giết, giết loạn mà không thương tiếc. Khi giết đến nửa chừng, Chu Nguyên Chương lại nghĩ nên bắt mấy người cùng giờ sinh với ông đến để hỏi xem họ làm nghề gì, sau đó giết cũng chưa muộn. Chu Nguyên Chương hỏi một người trong số đó: "Ông làm gì?" - "Nuôi ong" - "Nuôi bao nhiêu ong?" "Nuôi 9 tổ", tất cả mấy vạn con".
              Chu Nguyên Chương sau khi nghe, vừa sợ vừa mừng: mình làm Hoàng đế thống trị cả 9 châu, 9 chư hầu. Ông ấy nuôi 9 tổ ong, có 9 ong chúa. Số ong của ông ấy nuôi và số người của mình cai trị đại thể giống nhau. Xem ra mình và ông ta không đều là Hoàng đế của người cả, làm hoàng đế của người chỉ có một mình, còn người khác, có người làm vua của ong, có người làm vua của tằm, có ngừơi làm vua của cá... Do đó Chu Nguyên Chương cảm thấy yên tâm và ngừng lệnh giết những người cùng ngày sinh.
              Về vấn đề vận mệnh của những người sinh đôi có giống nhau hay không ?, có thể nói không hoàn toàn khác nhau. Vì cho dù cùng sinh trong một giờ, nhưng có trước có sau. Nếu không cùng sinh trong một giờ thì khác biệt còn rõ hơn nữa. Tôi đã sơ bộ điều tra thấy rõ, những người sinh đôi sau khi kết hôn thì sai lệch rất rõ, nguyên nhân là vì những người bạn đời họ chưa ít khi đều cùng một năm mệnh, cũng không thể cùng giờ sinh. Như vậy các thành viên tổ thành gia đình này phát sinh ra biến hóa, ngũ hành sinh khắc cũng đồng thời phát sinh biến hóa, cho nên mệnh vận của hai người sẽ khác nhau.
              Vạn vật trong tự nhiên, thậm chí là trong cùng một sự vật, sự phát triển biến hóa còn không đồng đều, huống hồ những người cùng một ngày sinh làm sao mệnh vận lại giống nhau được.
              Do đó sự tổ hợp thiên can địa chi trong năm, tháng, ngày, giờ sinh của mỗi người là nhân tố nội tại của mệnh vận tốt hay xấu, là căn cứ của sự biến hóa, nhân tố bên ngoài chỉ là điều kiện để biến hóa. Sự sắp xếp của thiên can địa chi, khí âm dương ngũ hành có mối quan hệ rất mật thiết với con người, đương nhiên chúng ta không phủ định sự nỗ lực chủ quan. Ví dụ trong tứ trụ có tiêu chí thông tin học đến đại học, nhưng không đọc sách, không nỗ lực học tập, chắc chắn là không tốt nghiệp đại học. Do đó muốn đạt được mục đích dự tính, ngoài nhân tố tiên thiên còn phải cộng thêm sự nỗ lực của hậu thiên.

              Trong phong thủy, sự tương tác của ngũ hành được sử dụng rộng rãi để tăng dương khí và điều chỉnh âm khí nhưng liệu chúng ta đã thực sự hiểu ngũ hành là gì?

              >> Tra cứu Lịch vạn niênLịch vạn niên 2018  Lịch âm nhanh và chuẩn xác để chủ động tiến hành mọi việc <<

              Sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới những nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình thành thuyết âm dương. Đi cùng theo đó, dựa trên sự chấp nhận cách vận hành của thế giới, nguyên lý ngũ hành đã đưa ra một giải pháp hệ thống, mang tính dự báo về cách thức khí vận động thông qua những thay đổi mang tính chu trình của âm và dương.

              Vậy ngũ hành là gì? là thuyết vật chất sớm nhất của nhân loại, tồn tại độc lập với ý thức của con người. Ngũ hành là Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ từ "dương biến âm hợp" sinh ra.  Ngũ hành vô hình ở dạng khí, hữu hình ở dạng hình thể của các vật các loại.
               
              Thuyết Ngũ hành theo thuyết duy vật cổ đại có 5 vật chất tạo nên thế giới, có sự tương sinh, tương khắc với nhau bao gồm: Nước (hành Thủy), đất (hành Thổ), lửa (hành Hỏa), cây (hành Mộc), Kim loại (hành Kim).

              Tham khảo thêm bài viết: Âm dương ngũ hành và câu chuyện nhân sinh quan của cổ nhân
               
               
               

              Đặc tính của ngũ hành


              Ngoài việc hiểu ngũ hành là gì thì chúng ta cần biết thêm những đặc tính của nó như: lưu hành, luân chuyển và biến đổi không ngừng. Ngũ hành không bao giờ mất đi, nó cứ tồn tại mãi theo không gian và thời gian, nó là nền tảng là động lực để vũ trụ vận động và vạn vật được sinh thành.
               
              - Lưu hành nghĩa là 5 vật chất lưu hành tự nhiên trong vạn vật trong không gian và thời gian. Ví như lửa khi lưu hành sẽ đốt cháy mọi thứ nó đi qua.
               
              - Luân chuyển nghĩa là 5 vật chất luân chuyển tự nhiên ví như hành mộc cây sẽ từ bé mà lớn lên.
               
              - Biến đổi nghĩa là 5 vật chất sẽ biến đổi ví như lửa đốt cháy mộc hóa thành than, hay mộc lớn lên có thể lấy gỗ làm nhà, hay kim trong lòng đất được khai thác và chế biến thành công cụ có ích....

              1. Kim


              Hành Kim trong ngũ hành tương sinh tương khắc chỉ về mùa Thu và sức mạnh. Đại diện cho thể rắn và khả năng chứa đựng. Mặt khác, Kim còn là vật dẫn.
               
              Tích cực: Kim là sự truyền đạt thông tin, ý tưởng sắc sảo và sự công minh.

              Tiêu cực: Kim có thể là sự hủy hoại, là hiểm họa và phiền muộn. Kim có thể là một món hàng xinh xắn và quý giá mà cũng có thể là đao kiếm.
               

              Tính cách người thuộc hành Kim

               
              Người mạng Kim có tính độc đoán và cương quyết. Họ dốc lòng dốc sức theo đuổi cao vọng. Là những nhà tổ chức giỏi, họ độc lập và vui sướng với thành quả riêng của họ. Tin vào khả năng bản thân nên họ kém linh động mặc dù họ thăng tiến là nhờ vào sự thay đổi. Đây là loại người nghiêm túc và không dễ nhận sự giúp đỡ.
               
              Tích cực: Mạnh mẽ, có trực giác và lôi cuốn.
               
              Tiêu cực: Cứng nhắc, sầu muộn và nghiêm nghị.
               
              Hành Kim: Chủ về nghĩa, tính tình cương trực, mãnh liệt. Sự vật có tính chất sạch sẽ thu liêm, túc sát đều có thể quy về Kim.
               
              Màu sắc: màu trắng, xám, bạc và vàng ươm.
               
              Vạn vật thuộc hành này: Tất cả các kim loại, hình dáng tròn bầu, mái vòm, vật dụng kim khí, cửa và bậc cửa, đồ dùng nhà bếp, tiền đồng Đồng hồ.

              Tìm hiểu thêm bài viết: Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm ngũ hành Kim
               

              2. Mộc


              Mộc tượng trưng cho mùa xuân, cây cỏ tốt tươi.
               
              Thuộc khí Âm: Mộc mềm và dễ uốn.
               
              Thuộc khí Dương: Mộc rắn như thân gỗ lim.
               
              Dùng với mục đích lành: Mộc là cây gậy chống.
               
              Với mục đích dữ: Mộc là ngọn giáo.
               

              Tính cách người thuộc hành Mộc


              Người mạng Mộc có tinh thần vị tha và năng nổ, thích tiên phong, nhiều ý tưởng, tính cách hướng ngoại của họ được nhiều người thương, giúp. Vì là người sáng tạo nên họ thích tưởng tượng hơn hoàn thành kế hoạch.

              Yếu tố Mộc liên quan tới sự nhận thức cho cuộc sống cây cỏ và hoa lá, những loại vải có chất liệu tự nhiên, những loại cây và bất cứ thứ gì được làm từ gỗ cũng liên quan tới mệnh này.
               
              Hành Mộc: Chủ về nhân, tính thẳng, tình cảm ôn hòa. Sự vật có tính chất sinh trưởng hướng lên, thông đạt đều có thể quy về Mộc. Mộc là “khúc trực”, “khúc” là cong “trực” là duỗi, do đó Mộc có đặc trưng có thể co duỗi.
               
              Tích cực: Có bản tính nghệ sỹ, làm việc nhiệt thành.
               
              Tiêu cực: Thiếu kiên nhẫn, dễ nổi giận, thường bỏ ngang công việc.

              Màu sắc: màu xanh lục, màu xanh dương và màu ngọc lam

              Vạn vật thuộc hành này: Các loài thảo mộc, đồ đạc bằng gỗ, giấy, cột trụ, sự trang hoàng, tranh phong cảnh.

              Tìm hiểu thêm bài viết: Hiểu hơn ý nghĩa của các nạp âm ngũ hành Mộc

              3. Thủy


              Hành Thủy chỉ về mùa đông và nước nói chung, cơn mưa lất phất hay mưa bão. Chỉ bản ngã, nghệ thuật và vẻ đẹp. Thủy có liên quan đến mọi thứ. 
               
              Tích cực: Có khuynh hướng nghệ thuật, thích kết bạn và biết cảm thông.
               
              Tiêu cực: Nhạy cảm, mau thay đổi và gây phiền nhiễu.
               

              Tính cách người thuộc hành Thủy

               
              Người mạng Thủy giao tiếp tốt. sáng tạo, khôn ngoan, nhạy cảm, biết cách thuyết phục người khác. Do nhạy cảm với tâm trạng người khác, họ sẵn sàng lắng nghe. Có trực giác tốt và giỏi thương lượng. Uyển chuyển và dễ thích nghi với hoàn cảnh. Ngoài ra, họ thường được coi là bí ẩn và có xu hướng có những cảm giác nội tâm và những vấn đề được suy nghĩ quá lên. 
               
              Hành Thủy: Chủ về trí, thông minh, hiền lành. Sự vật có tính chất lạnh mát, làm ẩm hướng xuống dưới đều thuộc Thủy. Thủy là “nhuận hạ”, “nhuận” là làm ẩm ướt “hạ” là hướng xuống. Do đó, Thủy có đặc tính mát lạnh, tính chất nhu thuận, chảy xuống dưới.
               
              Màu sắc: xanh dương và màu đen 
               
              Vạn vật thuộc hành này: Sông suối, ao hồ, gương soi và kính, các đường uốn khúc, đài phun nước, bể cá, tranh về nước.

              Tham khảo thêm bài viết: Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm ngũ hành Thủy
               
               
               

               

              4. Hỏa


              Hành Hỏa chỉ mùa hè, lửa và sức nóng.
               
              Hỏa có thể đem lại ánh sáng, hơi ấm và hạnh phúc, hoặc có thể tuôn trào, bùng nổ và sự bạo tàn.
               
              Tích cực: Người có óc canh tân, khôi hài và đam mê.
               
              Tiêu cực: Nóng vội, lợi dụng người khác và không mấy quan tâm đến cảm xúc.
               

              Tính cách người thuộc hành Hỏa:

               
              Người mạng Hỏa yêu thích hành động, có khả năng lãnh đạo, sự thấu hiểu, khả năng trực giác tố và rất hiểu lẽ phải. Họ thường có tính cách bốc đồng, hay ghen tị, thất vọng, dễ biểu cảm sự hối tiếc và sự chán nản trong các mối quan hệ. Bên cạnh đó, họ thẳng tính, quả quyết và cũng rất hiếu thắng.
               
              Hành Hỏa: Chủ về lễ, nóng tính nhưng biết giữ lễ độ. Sự vật có tính chất ấm nóng bốc lên đều thuộc Hỏa. Hỏa là “viêm thượng”, “viêm” là nóng, “thượng” là hướng lên. Lửa cháy có thể phát nhiệt và ánh sáng, ngọn lửa bốc lên trên, nhiệt tỏa ra ngoài. Do đó Hỏa có tính chất phát nhiệt, hướng lên trên, có tác dụng xua tan giá lạnh giữ ấm rèn kim loại.

              Màu sắc: đỏ, màu tía, màu đỏ tươi, màu hồng đậm và màu cam.
               
              Vạn vật thuộc hành này: Hình tượng mặt trời, nến, đèn các loại, vật dụng thủ công, tranh ảnh về mặt trời, lửa, cùng những đồ vật có ánh sáng như đèn và những ngọn nến đang cháy.

              Mời bạn đọc tham khảo thêm bài viết: Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm ngũ hành Hỏa
               
               
               

              5. Thổ


              Hành Thổ chỉ về môi trường ươm trồng, nuôi dưỡng và phát triển, nơi sinh ký tử quy của mọi sinh vật. Thổ nuôi dưỡng, hỗ trợ và tương tác với từng Hành khác.
               
              Tích cực: Trung thành, nhẫn nại và có thể tin cậy
               
              Tiêu cực: Có khuynh hướng thành kiến.
               

              Tính cách người thuộc hành Thổ

               
              Người mạng Thổ có sức mạnh nội tâm, có tính tương trợ và trung thành. Vì thực tế và kiên trì, họ là chỗ dựa vững chắc trong cơn khủng hoảng. Không những không bị thúc ép bất cứ điều gì nhưng họ lại rất bền bỉ khi giúp đỡ người khác.
               
              Hành Thổ: Chủ về tín, tính tình đôn hậu. Sự vật có tính chất nâng đỡ, sinh hóa thu nạp đều quy về Thổ. Thổ là “giá sắc”, “giá” là gieo trồng, “sắc” là thu hoạch. Thổ có tác dụng gieo trồng, thu hoạch ngũ cốc, sinh trưởng vạn vật. Nghĩa rộng là sinh trưởng nâng đỡ, sinh sôi, nuôi dưỡng. Do đó, Thổ nâng đỡ bốn phương, là mẹ của vạn vật
               
              Màu sắc: Màu vàng, cam, nâu.
               
              Vạn vật thuộc hành này: Đất sét, gạch, sành sứ, bê tông, đá, hình vuông.

              Vậy, sau khi hiểu ngũ hành là gì chúng ta sẽ hiểu hơn từng vai trò của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong vũ trụ bao la này.

              Author Name

              {picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

              Follow by Email

              Biểu mẫu liên hệ

              Tên

              Email *

              Thông báo *

              Được tạo bởi Blogger.