bài viết trong chuyên mục "chuyện phong thủy"

Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện phong thủy. Hiển thị tất cả bài đăng

Chọn màu sắc sơn, nội thất cho không gian Thủy theo phong thủy
Màu sắc sơn trang trí nội thất thuộc hành Thủy gồm xanh biển, đen. Chất liệu trong trang trí nội thất bao gồm kính, hồ cá, vòi phun nước nhỏ, tranh ảnh, poster có hình ảnh về nước.
Thủy tượng trưng cho trí tưởng tượng, thích hợp với các ngành viễn thông, quảng cáo, tin học điện toán, điện lực, công nghiệp rượu, bia, xăng dầu…
Theo quan niệm phong thủy, màu xanh trong hành Thủy là màu lạnh, tỏa sáng và làm không khí chung quanh tươi sáng hẳn lên. Màu xanh làm người ta có cảm giác tươi mát, nhẹ nhàng và sâu lắng, giống như một thác nước làm dịu mắt người xem.
Với màu đen, hấp thụ toàn bộ các màu còn lại, cũng là màu nói lên sự thái quá. Màu đen được dùng trong tang lễ của người phương Tây và cả trong lễ phục của chú rể. Nó có khả năng hấp thụ mọi màu xung quanh, là một dấu hiệu chỉ về trách nhiệm, đồng thời nó cũng mang ý nghĩa ôm tâm tư đau buồn. Theo đúng nghĩa tên gọi, màu đen hoặc các vật thể có màu sẩm tối tạo cảm giác sâu thẳm, thâm trầm về cả bề mặt lẫn chiều sâu. Màu đen chỉ sự tuyệt vọng, tinh thần sa sút, xuống dốc.
Không gian Thủy trong cuộc sống hiện nay là một không gian thể hiện tinh thần mới trong xu hướng nội thất. Đặc trưng của nó là sự tinh tế, sôi nổi và cũng không kém phần lãng mạn bởi những hình ảnh, màu sắc mà nó thể hiện – Thủy.
Nhóm màu Thủy phản ánh tác phong hiện đại, thể hiện sự sôi động của nhịp sống mới, sự hăm hở của quá trình phát triển và tinh thần mới của lối kiến trúc hiện đại. Ở đây có sự nổi trội của gam màu lạnh thể hiện trong kiến trúc là sự phát huy của những vật liệu hiện đại như thủy tinh, kim loại và những vật liệu có tính phản chiếu.
Nhóm màu Thủy không được ưa chuộng trong cộng đồng người Trung Quốc cổ bởi ý nghĩa không tốt của nó. Họ cho rằng màu xanh không tốt, là màu lạnh, và tránh dùng màu xanh trong các công trình kiến trúc của mình. Màu đen là màu của nước biển sâu thì chỉ sự tuyệt vọng, tinh thần sa sút, xuống dốc. Tuy nhiên, theo phong thủy thì màu đen thuộc hành Thủy hợp với cung tiền tài, nếu đặt đúng vị trí hợp với nó – hướng Tây thuộc hành Kim, Kim sinh Thủy – thì màu đen có ý nghĩa tốt, tiền vào như nước.
Vô tình mà có sự gặp gỡ giữa Đông và Tây trong quan niệm về nhóm màu này: với phương Tây, màu xanh (blue) cũng là một màu không có ý nghĩa tốt, nó gợi cảm giác buồn chán, còn màu đen được dùng trong tang chế, mang ý nghĩa ôm tâm tư đau buồn. Tuy nhiên, nhóm màu Thủy dùng trong trang trí nội thất lại tạo được vị trí riêng cho mình bởi sự hấp dẫn ấn tượng trong cái lạnh của nó
Nhóm màu Thủy mang sắc thái lạnh, không thích hợp cho phòng khách, nơi diễn ra những cuộc chuyện trò thân mật, nồng ấm hoặc vui tươi, và cũng không hợp cho việc kích thích vị giác ở phòng ăn. Tuy nhiên nó vẫn hợp với không gian ngủ của những người trẻ trung niên bởi màu xanh là màu của hy vọng, sống có văn hóa. Màu xanh cũng là màu của cung học vấn, vì thế không gian Thủy cũng thích hợp cho phòng học trẻ.
Đồ đạc màu đen bày biện trong phòng rất có lợi cho việc suy tư, nghĩ ngợi trầm ngâm. Màu đen cũng là màu có tác dụng giáo dục rất tốt đối với những trẻ khó dạy bảo vì mang sức mạnh răn đe. Cảm giác sâu thẳm, thâm trầm cả về bề mặt lẫn chiều sâu của màu đen thích hợp cho không khí trầm ngâm nghĩ ngợi của phòng cầu nguyện, thờ tự và cả phòng đọc sách
Bản chất của hành Thủy là ẩn tàng, tĩnh lặng, trầm buồn nên không gian Thủy làm tăng cường về mặt nội tâm, giúp tạo sự tĩnh lặng trong tâm hồn, do đó nó được dùng hỗ trợ chữa bệnh mất ngủ cho người cao tuổi, những người bị tâm thần cần tìm sự tĩnh tâm. Không gian Thủy vì thế không hợp với những người nhiệt tình, năng động và hướng ngoại. Nếu sống lâu trong không gian Thủy, nó quá lạnh dễ gây nên cảm giác cô đơn, lãnh cảm

Bật mí tính cách ẩn giấu trong tư thế ngủ của bạn

Ngủ là một nhu cầu và thói quen mà ai cũng trải qua sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi. Tư thế ngủ không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn thể hiện tính cách đặc trưng của mỗi người.

1. Tư thế ngủ như bào thai

 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 
Đây là tư thế ngủ phổ biến nhất. Với tư thế này, bạn thường nằm nghiêng một bên, hai chân cong lên như hình dáng em bé nằm trong bụng mẹ. 
 
Theo quan điểm nhân tướng học, những người ngủ theo tư thế thai nhi thường cố tỏ ra cứng rắn để che đậy sự nhút nhát và nhạy cảm bên trong. Họ thấy mình cần được bảo vệ, thấu hiểu và đồng cảm. 
 
Đồng thời, người ngủ theo tư thế này luôn cố gắng tránh xa các vấn đề phải đối mặt trong  cuộc sống. 

Có thể bạn chưa biết Những kiểu ngồi “tố” con người và vận mệnh phái đẹp
 

2. Tư thế ngủ khát khao, hi vọng

 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 
Ngủ theo tư thế này, bạn thường nằm nghiêng về một bên, hai tay đưa ra phía trước mặt.
 
Các nghiên cứu cho thấy, những người chọn vị trí ngủ này thường rất cởi mở với mọi người, luôn khát khao cái mới nhưng cũng rất đa nghi.
 
Họ thường mất nhiều thời gian cho một quyết định nào nhưng một khi đã lựa chọn, họ gần như không bao giờ thay đổi hay hối tiếc.
 

4. Tư thế ngủ như khúc gỗ

 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 
Với tư thế này, bạn hay nằm nghiêng về một bên, chân và tay thẳng dọc theo cơ thể.
 
Những người ngủ thế tư thế này thuộc tuýp hòa đồng và luôn thích tham gia vào tất cả các hoạt động của tập thể cũng như cá nhân. Tuy nhiên, họ có một điểm yếu là cả tin nên dễ bị lừa.

Xem thêm: Tư thế ngủ cát tường của Phật giáo - vừa dưỡng sinh vừa tu hành 
 

5. Tư thế ngủ nghiêm trang như người lính trong quân đội

 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 
VDO.AI
Đặc trưng của cách ngủ này là bạn thường nằm ngửa, duỗi thẳng người, cánh tay đặt xuôi thẳng xuống dưới. Tư thế nằm này giống với cách đứng nghiêm trang của những người lính trong quân đội.
 
Đa phần những ai có thói quen ngủ này đều rất trầm tính và kín đáo. Bạn sống nghiêm túc, ít nói, rất quy củ và quyết đoán. 
 
Không những vậy, bạn còn đặt nhiều kỳ vọng cũng như tiêu chuẩn cao cho bản thân và những người xung quanh. Một khi xác định được mục tiêu phấn đấu, họ sẽ cố gắng đến cùng để chinh phục được nó.

Ngoài xem tướng ngủ, chúng ta cũng có thể luận bàn con người qua tướng ngồi.
 

6. Tư thế ngủ tự do

 
Người ngủ theo tư thế này thường nằm úp bụng xuống giường, đầu nghiêng sang một bên và bàn tay đặt gần gối.
 
Nét nổi bật trong tính cách của những người ngủ theo tư thế “rơi tự do” là sự cá tính, thân thiện, cởi mở, thích giao du và vui vẻ.
 
Tuy nhiên, họ cũng rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương vì những lời chỉ trích của mọi người xung quanh.
 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 

7. Tư thế ngủ sao biển

 
Sao biển là thói quen ngủ ít phổ biến nhất, biểu hiện là bạn thường nằm ngửa, hai cánh tay đưa lên đầu và chân đặt xuôi xuống phía dưới.
 
Có phong cách ngủ độc đáo này đa phần là người thuộc tuýp trung thành và tận tâm. Họ thường quan tâm đến người khác vô điều kiện và bạn bè luôn được ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống. Họ luôn sẵn sàng lắng nghe người khác và thường giúp đỡ khi cần. 
 
Đồng thời, người có thói quen này cũng không thích là trung tâm của sự chú ý.
 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 

 

8. Tư thế ngủ kết hợp giữa quân đội và sao biển

 
Tính cách đặc trưng của người nằm ngủ theo tư thế này là linh hoạt, mềm dẻo. 
 
Tuy nhiên, họ cũng thuộc tuýp người không có lập trường kiên định, có khuynh hướng dễ bị thuyết phục bởi những người khác.

Có thể bạn quan tâm: Tiết lộ vận mệnh cuộc sống qua dáng đi

 

9. Ôm chặt gối khi ngủ

 
Dù ngủ ở bất kì vị trí nào, bạn cũng ôm chặt chiếc gối trong tay.
 
Chủ nhân của thói quen ngủ này luôn đề cao các mối quan hệ về tình bạn, gia đình cũng như xã hội. Họ có xu hướng  trở thành những người vui nhộn và luôn cố gắng giúp đỡ người khác thay vì bản thân mình.
 
Tuy nhiên họ dễ bị hoảng hốt, buồn bực, khó chịu và oán trách lung tung. Họ không biết cách giải tỏa tinh thần cho thoải mái nên thần kinh thường hay căng thẳng và có phản ứng thái quá khi đối mặt với những việc nhỏ nhặt trong cuộc sống.
 

11. Ngủ hay ngáy

 
Đây không phải là một tư thế ngủ nhưng nó cũng có thể tiết lộ đôi điều về bạn. 
 
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người ngủ hay ngáy thường hay có những cảm xúc cực đoan, biểu hiện trong sự hiếu động, hung hăng, hoặc trầm cảm. Tuy nhiên, họ luôn có niềm đam mê và sống trọn vẹn với từng khoảnh khắc có trong cuộc đời
tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829


Tháp cổ và tác dụng trong phong thủy

Phong thủy có ảnh hưởng đến tính tình, lành dữ, giàu nghèo của con người. Người ta đã xây dựng những ngọn tháp theo phong thủy để đuổi tà ma đồng thời cũng có thể tạo ra những nhân tài.
Ngũ tinh và cửu tinh

Phong thủy chia địa hình thành 5 loại chính theo ngũ hành, gọi là ngũ tinh. Kim tinh là miếng đất ngay ngắn, đầu tròn chân rộng; Mộc tinh là miếng đất hình dài, thẳng; Thủy tinh là thế đất thấp, nhấp nhô không đều; Hỏa tinh là thế đất nhọn, nhô cao, chân rộng; Thổ tinh là thế đất hình vuông vắn, vững chắc. Kim tinh thuộc Võ tinh, Mộc tinh thuộc văn tinh, Thủy tinh thuộc Tú tinh, Hỏa tinh thuộc Lộc tinh, Thổ tinh thuộc Tài tinh. Ngũ tinh tương ứng với 5 hạng người trong xã hội là quân nhân, văn sĩ, nghệ nhân, quan lại và nông dân.

Theo môn Kỷ hà học thì Kim tinh tương ứng hình bán cầu, Mộc tinh hình chữ nhật, Thủy tinh hình gấp khúc, Hỏa tinh hình nón, Thổ tinh hình lập thể. Nếu địa thế hình tròn mà trong có hình vuông thì gọi là cuộc đất "thổ phù kim"; Miếng đất dài mà chia nhánh thì gọi là "mộc sinh nha"...




                                                     Tháp Bút bên Hồ Gươm

Vì trên thực tế rất khó có một địa cuộc thuần, mà thường pha tạp hai ba loại, vừa giống thổ, vừa giống kim, hoặc thổ không thành thổ, kim không thành kim... nên các nhà Kham dư học lại đặt ra phép Cửu tinh từ hình thái căn bản của Ngũ tinh. Cửu tinh phân theo 9 loại, lấy tên của 9 vì sao (Cửu diệu) là Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Võ khúc, Phá quân, Tả phù, Hữu bật.

Quy về ngũ hành thì Tham lang thuộc Mộc tinh; Cự môn, Lộc tồn thuộc Thổ tinh; Văn khúc, Hữu bật thuộc Thuỷ tinh; Liêm trinh thuộc Hoả tinh; Vũ khúc, Phá quân, Tả phù thuộc Thổ tinh.

Như vậy, trong biến thể địa hình của Cửu tinh thì Tham lang thuộc Văn tinh (sao Khuê), thuộc hành Mộc, khí màu tía, hình nhô thẳng cao vút, hình tượng giống như cái hốt (thẻ bài để các quan cầm vào chầu), lại giống như cây bút nên Tham lang biểu trưng cho văn chương, quý nhân. Phong thủy cho rằng, cuộc đất ấy thường tạo ra nhiều nhân tài văn học.


Tháp trấn tà

Một điều thú vị là hình thể Tham lang lại giống như kiến trúc toà tháp 7 hoặc 9 tầng trong Phật giáo, gọi là "phù đồ", vừa để thờ Phật vừa có nghĩa là chỉ phương hướng, có tác dụng trấn áp yêu tà, bảo vệ dân chúng. Chính vì sự tương hợp này mà tại những xứ sở chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ thường kiến tạo nhiều toà bảo tháp. Ở Trung Quốc, "tháp phong thủy" xuất hiện rất nhiều.

Những nơi tận cùng sơn mạch, trên đỉnh núi, bên nguồn nước... thường xây dựng tháp để "trấn sơn, áp thủy, trấn tà", đồng thời bổ sung khiếm khuyết của địa thế nơi ấy.

Các tháp nổi tiếng ở Trung Quốc như Song Tháp ở Thái Nguyên, Lôi Phong ở Tây Hồ, Văn Xương ở Hồ Bắc... ngoài biểu trưng Phật giáo thì đều gắn liền với yếu tố phong thủy. Toà Song Tháp gồm 2 ngọn tháp đôi 13 tầng, hình bát giác, cao 54,7m là một kiến trúc cao nhất của Trung Hoa, trải qua gần 500 năm vẫn sừng sững như xưa. Tháp được xây vào năm Vạn Lịch thứ 27 đời Minh (1599) do các thân sĩ địa phương cầu mong đất Thái Nguyên được "hưng thịnh văn phong", nên tháp còn có tên là Văn Phong hay Tuyên Văn, được xưng là "Kỳ quan đất Tấn Dương".

Cổ nhất là toà Văn Phong tháp ở huyện Chung Dương, tỉnh Hồ Bắc, xây dựng từ năm 880 đời Đường. Tháp cao 16m, có 22 cấp, hình dạng như một cây bút khổng lồ, là nơi để văn sĩ bốn phương lên du ngoạn, tìm tứ lạ.

Đến biểu tượng của văn hiến

Người xưa tin rằng tạo tháp làm hưng khởi việc học, khoa cử đỗ đạt. Thường những địa phương nào kém đường học vấn, lâu năm không có người đỗ đạt thì chọn đất dựng Văn bút tháp tại các hướng Chấn (đông), Tốn (đông nam), Ly (nam) để cải tạo phong thủy.




                                                  Chùa Bút Tháp, Bắc Ninh

Một toà tháp nổi tiếng của Trung Quốc là Sùng Văn tháp ở huyện Kinh Dương tỉnh Thiểm Tây, xây dựng từ đời Minh. Truyền thuyết kể rằng, vùng Kinh Dương có núi che nước bọc, phong thuỷ cực tốt, nhưng bao năm việc học không phát, không có người đỗ đạt.

Quan Thượng thư Lý Đạt thỉnh thầy phong thủy đến xem, thấy phía tây bắc có núi Bút Gia, hình như giá bút mà không có bút; Phía nam có sông Kinh như dòng mực lớn, chỉ chờ bút chấm vào, bèn chọn hướng đông nam lập toà Sùng Văn tháp. Cũng kỳ lạ là từ đó trở về sau, đất Kinh Dương xuất hiện văn tài rất nhiều, nổi tiếng có Vu Hựu Nhậm, Phùng Nhuận Chương, Ngô Mật... Hiện nay, các nhà văn Lý Nhược Băng, Lôi Trữ Ưng, Bạch Miêu, nhà thư pháp Mông Chí Quân... đều xuất thân từ Kinh Dương.
Văn bút tháp và Khuê văn các

"Dương trạch tam yếu" nói rằng: "Phàm các tỉnh, phủ, huyện, thị mà đường học hành bất lợi, đường khoa cử không phát thì nên chọn tại các hướng giáp, tốn, bính, đinh mà dựng văn bút tháp, chỉ cần cao hơn núi thì khoa giáp sẽ phát. Hoặc lập tháp trên núi, hoặc dựng tháp cao ở đất bằng, đều gọi là văn bút tháp".

Trong các kinh thành xưa, thường thì Văn bút tháp và Khuê văn các được dựng ở phương Tốn, tức hướng đông nam. Khuê tức sao Khuê thuộc chòm Bạch Hổ, là một trong "Nhị thập bát tú" - 28 ngôi sao trên đường hoàng đạo, người xưa tin rằng sao Khuê là chủ tể về văn vận.

Theo phong thủy học, hướng đông nam trũng, đất nhẹ, địa khí tràn ra, khó có nhân tài, vì thế dựng tháp để trấn địa. Kinh Dịch lại nói: "Tượng của Tốn là gió, gió thì theo, không vật gì mà không lợi". Người xưa xem hướng Tốn là "phủ của văn chương" nên dựng tháp hình ngọn bút như là biểu tượng của giáo hoá, học hành. Hình dạng tháp bút đã trở thành tên gọi của nhiều ngọn tháp cổ nước ta.

Đài Nghiên - Tháp Bút

Đài Nghiên - Tháp Bút đã trở thành biểu tượng văn hiến của đất Thăng Long ngàn năm văn vật. Được kiến tạo từ năm 1865 nhờ công của "Thần Siêu" Nguyễn Văn Siêu và án sát Đặng Huy Tá, toà tháp Bút cao 7 tầng này có đỉnh là hình ngọn bút phóng thẳng lên trời như thể hiện khí thế ba chữ "Tả thanh thiên" khắc ở thân tháp. Thân đài Nghiên có khắc bài minh 64 chữ của "Thần Siêu", ý tứ sâu xa: "Xưa lấy hốc đất làm nghiên, chú giải Đạo Đức kinh, nghiền ngẫm bên nghiên lớn, viết sách Hán Xuân Thu. Từ đá tách ra làm nghiên, chẳng có hình dáng. Không vuông không tròn, dùng vào mọi việc thật kỳ diệu. Không cao không thấp, ngôi ở chính giữa. Cúi soi hồ Hoàn Kiếm, ngửa trông ngọn Bút đá, ứng vào sao Thai mà làm ra mọi biến đổi. Ngậm nguyên khí mà mài hư không". Nguyễn Vinh Phúc (dịch)

Chùa Bút Tháp

Ở Bắc Ninh có chùa Bút Tháp tức Ninh Phúc tự ở Đình Tổ, Thuận Thành, được xây dựng từ thời Hậu Lê, thế kỷ XVII. Vùng đất nổi tiếng "địa linh nhân kiệt" Nghệ An có tháp bút Kim Nhan cùng nhiều địa danh thể hiện sự khát khao học vấn, tôn kính văn chương của người dân như Bút Trận, Cát Văn, Bút Điền, Nho Lâm, Văn Tập... Về khía cạnh tâm lý, khi đứng trên toà tháp cao vút, tầm mắt mở ra muôn trùng, khiến con người khoáng đạt, tâm tình thoải mái, sáng suốt, dễ nảy sinh nhiều ý tưởng lạ.

Tháp Chăm

Từ đèo Hải Vân trở vào, hầu hết tháp cổ mang màu sắc tôn giáo. Các quần thể tháp Mỹ Sơn (Quảng Nam), tháp Nhạn Tuy Hoà (Phú Yên), tháp Hoà Lai, tháp Pô Klông Garai, tháp Pôrômê (Ninh Thuận)... đều thuần tuý là kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo của người Chăm (Champa). Các đền tháp này theo tiếng Chăm gọi là"kalan", nghĩa là "lăng", hướng về phía đông được xây dựng để thờ cúng các vị thần tiêu biểu của đạo Bà la môn như Shiva, Ganesha..


Tấm thảm chùi chân trong phong thủy


Khi cửa chính nhà bạn không nằm ở hướng lành xét theo phong thủy, vẫn có những cách hóa giải. Thêm cửa trong nhà và sử dụng thảm có màu sắc phù hợp theo mệnh cung của gia chủ là hai giải pháp.

Phong thủy một căn nhà tốt hay xấu do nhiều yếu tố cấu thành. Cửa chính là một yếu tố tương đối quan trọng nhưng không phải duy nhất. Tuy nhiên, một khi tâm lý của người cư ngụ bị ám ảnh về sự tốt xấu của phong thủy thì sẽ khó có thể yên tâm.Rất nhiều người khi xây nhà quan tâm đến hướng cửa chính

Với trường hợp thêm cửa trong nhà, thường thì vì những nguyên tắc của xây dựng mà cửa chính phải đặt ở nơi không thể thay đổi được. Thế nhưng, với không gian bên trong nhà thì bạn sẽ có toàn quyền xử lý. Thêm một hệ khung cửa phạm vi trong nhà hoàn toàn không có gì khó khăn. Và tất nhiên, cửa được tạo thêm này phải nằm ở hướng lành.

Với trường hợp thứ hai, dùng loại thảm nhỏ có màu sắc khác nhau để hóa giả tà khí ở cửa chính. Cần chú ý, thảm phải được trải ở phía trong cửa chính. Thông thường, thảm được đặt ở bất cứ chỗ nào trong nhà có thể không gây ảnh hưởng gì, nhưng nếu đặt ở cửa chính, nơi mọi người ra vào buộc phải bước qua thì ảnh hưởng của nó tương đối lớn.

Việc lựa chọn màu cho thảm cũng rất quan trọng, dựa vào sự vận động trong nguyên lý tương sinh tương khắc của ngũ hành, phù hợp với quy luật phong thủy.

Cần chú ý, thảm phải được trải ở phía trong cửa chính.

Với trường hợp người Đông tứ mệnh gặp phải cửa Tây tứ, người có mệnh cung thuộc ngũ hành Mộc (Chấn, Tốn), Hỏa (Ly), Thủy (Khảm) là mệnh Đông tứ, nếu như cửa mở hướng Tây tứ trạch, tức là hướng Tây, Tây Bắc, Tây Nam hoặc Đông Bắc thì không được lý tưởng vì sẽ gặp phải tà khí khắc.

Ở hướng Tây và Tây Bắc gặp tà khí của Kim. Hướng Tây Nam và Đông Bắc gặp tà khí của Thổ. Cửa hướng Tây và Tây Bắc gặp tà khí của Kim. Vì vậy người có mệnh cung thuộc Thủy (Khảm), Mộc (Chấn, Tốn) cần trải thảm màu lam hoặc màu xám, màu đen, màu xanh biển sẫm ở cửa chính để hóa giải, còn người có mệnh cung thuộc Hỏa (Ly) thì cần trải thảm màu đỏ hoặc màu hồng, màu cam, màu tím.

Cửa hướng Tây Nam và cửa hướng Đông Bắc gặp tà khí của Thổ, vì vậy người có mệnh cung thuộc Thủy (Khảm) cần trải thảm màu trắng, màu bạc, màu kem hoặc màu vàng, màu nâu ở cửa chính để hóa giải, còn người có mệnh cung thuộc Mộc (Chấn, Tốn) và Hỏa (Ly) thì cần trải thảm màu xanh da trời, hoặc màu xanh lục.

Với trường hợp Tây tứ mệnh gặp phải cửa Đông tứ trạch, người có mệnh cung ngũ hành thuộc Thổ (Khôn, Cấn) hoặc Kim (Đoài, Càn) là thuộc “mệnh Tây tứ”, nếu như cửa chính mở hướng Đông tứ trạch, tức là hướng Đông, Đông Nam, Nam hoặc Bắc sẽ gặp phải các tà khí khắc.

Cửa hướng Đông và Đông Nam gặp tà khí của Mộc, cho nên người có mệnh cung thuộc hành Thổ (Khôn, Cấn) thì trải thảm màu đỏ, màu hồng hoặc màu cam, màu tím ở cửa để hóa giải, còn người có mệnh cung thuộc Kim (Đoài, Càn) thì cần trải thảm màu trắng, màu bạc, màu kem hoặc màu vàng, màu nâu ở cửa để hóa giải.

Cửa hướng Nam gặp tà khí của Hỏa, cho nên người có mệnh cung thuộc Thổ (Khôn, Cấn) và Kim (Đoài, Càn) cần trải thảm màu vàng hoặc màu nâu để hóa giải. Cửa phía Bắc gặp tà khí của Thủy, cho nên người có mệnh cung thuộc Thổ (Khôn, Cấn) và Kim (Đoài, Càn) cần trải thảm màu vàng hoặc màu nâu để hóa giải.

Vì sao người xưa đều cầm tinh các con vật ?

Từ xưa đến nay, người ta vẫn thích bàn luận về việc cầm tinh các con vật. Một con người sinh vào năm đó, thì cầm tinh con vật nào ? May mắn rủi ro hoạ phúc sẽ như thế nào vv……Việc cầm tinh các con vật liên quan đến gì số mệnh của người đó ?
Tương truyền thời xa xưa người ta lấy Mặt trời làm chuẩn cho một ngày lao động “Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ”. Nhưng gặp hôm trời đầy mưa khuất Mặt trời thì con người không biết dựa vào đâu.Có một người tên là Đại Nhiêu sáng tạo ra thập niên can (10 can) : giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý và thập nhị địa chi (12 địa chi) là tý, sửu, dần, mẹo, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi, dùng để tính thời gian, một ngày chia ra làm 12 giờ, dùng một địa chi để biểu thị một giờ, lại dùng thiên can phối hợp với nó để tính năm, như năm : Giáp tý, Ất sửu, bính dần………Nghe nói thời đó đã có văn tự, thế là dùng biện pháp này trọn thành bộ lịch đơn giản.
Nhưng văn tự vừa mới xuất hiện trong bộ lạc rất nhiều người không hiểu. Hoàng đế anh minh biết việc này liền dùng 12 con vật để chia năm.
Năm giáp tý dùng con chuột để biểu thị. Năm ất sửu dùng con trâu để biểu thị ………ngày này qua tháng khác mọi người ghép năm giáp tý, năm ất sửu khó nhớ, nên gọi luôn là “năm chuột”, “năm trâu”…………Thế là những người sinh năm chuột gọi là “thuộc chuột” hay cầm tinh con chuột, người sinh năm trâu là cầm tinh con trâu. Như vậy mỗi người đều cầm tinh một con vật.
Việc cầm tinh 12 con vật là sự kết hợp lẫn nhau của cách tính năm người xưa. Theo Triệu Dực, một người học giả nổi tiếng đời Thanh, thì cách động vật để nhớ năm lưu hành sớm nhất trong các dân tộc du mục ở miền Bắc Trung Quốc. Người xưa khi quan sát sao đã biết được Tuế tinh (Mộc tinh – sao mộc) vận hành một vòng hết khoảng 12 năm, thế là lấy phương vị của nó để tính năm, nhớ năm và dùng tên gọi những con vật quen thuộc nhất để cho dễ tính năm. Như vậy xuất hiện lịch 12 con thú.Về sau kết hợp với phương tính năm theo can chi của người xưa thế là có cách nói “cầm tinh 12 con vật ”. Người sinh năm nào thì sẽ có một con vật tương ứng. Vương Sung người Đông Hán trong: “Luận hành” viết rằng “ngọ là ngựa, tý là chuột, dậu là gà”, chứng tỏ 12 địa chi phối hợp với 12 con vật đã lưu hành từ đời Hán.
Cổ nhân căn cứ vào các quy luật thời gian các con vật xuất hiện hoạt động để chọn ra 12 con vật là chuột, trâu, bò, hổ, thỏ (ở Việt Nam gọi là mèo ), rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn để tính 12 giờ trong ngày. Cho rằng :
-Giờ tý chuột hoạt động mạnh nhất và hoạt bát nhất.
-Giờ sửu là lúc trâu bò ăn đã no cỏ, vẫn còn nhai lại chuẩn bị trời sáng để đi cày ruộng.
-Giờ dần là lúc hổ sẽ sung mãnh nhất.
-Còn từ 5 giờ sáng trở đi trăng vẫn còn chiếu sáng trên mặt đất cho nên giờ mão lấy con thỏ để đặt cho giờ này, dựa vào thỏ trên mặt trăng (ở Việt Nam gọi là mèo);
-Giờ thìn chính là lúc đàn rồng quây mưa (quần long thành vũ);
-Giờ tỵ là lúc rắn không còn đi lại trên lối người đi, không làm hại người nữa.
-Giờ ngọ là lúc dương khí đạt mức cao nhất, mà ngựa thuộc loại tính dương.
-Giờ mùi nghe nói dê ăn cỏ vào giờ này không hề ảnh hưởng đến việc cây cỏ mọc lại.
-Giờ thân là lúc khỉ thích thú hú kêu.
-Giờ dậu là lúc gà bắt đầu lên chuồng.
-Giờ tuất chính là lúc chó phải trông nhà.
-Giờ hợi là lúc mọi thứ đều trở nên yên lặng, tĩnh mịch, lợn ngủ say nhất.
-Có thể thấy những loại động vật khác nhau , phối hợp với địa chi chẳng qua chỉ là theo sự phối hợp của các nhà âm dương đời Hán. Cả hai đều không tồn tại mối liên hệ tất yếu nào. Còn đến việc kỵ, tránh trong mệnh (như trong cưới xin, hợp nhau, xung nhau) hoặc cát hung họa phúc, tính cách hợp, xung ……..đều là do các thầy bói đặt ra từ xưa đến nay mà thôi. 


Ảnh hưởng của Lý Quang Diệu với phong thủy Singapore

Lý Quang Diệu không chỉ là một nhà chính trị tài ba mà còn rất coi trọng vấn đề phong thủy. Nếu ai có dịp đến Singapore sẽ thấy rằng: tất cả các đồng tiền xu khác đều có hình tròn, nhưng riêng đồng 1$ thì lại có hình bát quái. Đây chính là ý tưởng "trấn yểm" để xây dựng hệ thống tàu điện ngầm của ông.

Thời ông Lý Quang Diệu làm Thủ tướng, đất nước Singapore bắt đầu có những bước phát triển rất mạnh liên quan tới các chính sách quản lý đất nước của ông. Khi đó nảy sinh nhu cầu phải xây dựng đường tầu điện ngầm thì mới giải quyết được vấn đề giao thông. Nhà thầu xây dựng là một tập đoàn xây dựng quốc tế có năng lực tài chính và kỹ thuật vào loại siêu mạnh. Nhưng thật kỳ lạ là công trình này không thể thi công được qua một khu vực có điều kiện địa chất phức tạp.



Ngày nay, hệ thống tàu điện ngầm trở thành phương tiện giao thống chủ yếu ở Singapore

Các kỹ thuật hiện đại nhất đã được đưa ra áp dụng nhưng vẫn hoàn toàn thất bại. Nhà thầu bó tay và báo cáo Chính phủ. Do đất nước Singapore rất hẹp, cho nên việc lái tuyến thi công sang hướng khác là không thực hiện được (có nghĩa là chỉ có thể đi qua khu vực đó thôi). Mặt khác đất nước Singapore đang trên đà phát triển rất mạnh như thế cho nên không thể thiếu đường tầu điện ngầm.

Lý Quang Diệu là một nhà chính trị tài ba, nhưng ông cũng rất coi trọng vấn đề phong thủy. Trước tình hình đó ông đã cho mời một thầy phong thủy người gốc Hoa từ Mỹ về để hỏi ý kiến. Sau khi xem xét ông thầy phong thủy phán rằng: Khu vực thi công có điều kiện địa chất phức tạp đó chính là cái lưng của một con rồng lớn. Khi con rồng nằm yên thì thi công được, nhưng khi nó cựa mình thì công trình lại đổ vỡ. Vì vậy mà công tác thi công ở đây không thể tiến triển được cho dù có áp dụng các kiểu kỹ thuật hiện đại. Muốn thi công được qua và đảm bảo an toàn cho công trình trong quá trình sử dụng thì phải dùng biện pháp trấn yểm sao cho con rồng ấy chịu nằm yên không cựa quậy nữa.

Ông thầy này đưa ra biện pháp sau: Toàn dân Singapore khi đi ra ngoài đường đều phải đeo hình bát quái trên người. Biện pháp này mới nghe tưởng là đơn giản nhưng làm thế nào mà thuyết phục để dân chúng chịu làm cái việc kỳ dị nói trên? Thật là quá khó phải không? Ông Thủ tướng cùng nội các mất rất nhiều công luận bàn mà vẫn chưa tìm được cách nào để thuyết phục dân chúng.

Thấy chồng lo lắng buồn phiền về việc đó, Bà vợ của Thủ tướng Lý Quang Diệu hiến một kế là: Đúc loại tiền xu 1$ có hình bát quái cho lưu hành thay thế đồng 1$ hiện tại. Đúng là một sáng kiến tuyệt vời phải không các vị! Ngay hôm sau Ông Lý Quang Diệu cho thực thi biện pháp này ngay. Toàn dân từ kẻ nghèo nhất đến người giàu có vương giả khi đi ra đường ai mà không có ít nhất 1$ trong người (vả lại do kỹ thuật thanh toán phát triển nên người dân Singapore tiêu tiền xu rất phổ biến).

Quả nhiên khi đồng 1$ có hình bát quái được lưu hành, sau đó một thời gian thì tuyến đường tuynel ngầm đó cũng được xây dựng xong và sử dụng ổn định cho đến ngày nay.

Nếu ai có dịp đến Singapore sẽ thấy rằng: tất cả các đồng tiền xu khác đều có hình tròn, nhưng riêng đồng 1$ thì lại có hình bát quái. 
PTTBST

Bí ẩn 72 ngôi mộ của Tào Tháo: Đâu là mộ thật?

Dân trong thành, thậm chí lính khênh quan tài cũng không biết quan tài nào là thật và trong 72 ngôi mộ, ngôi mộ nào là thật. 
   Không chỉ được coi là người lập ra vương quốc hùng mạnh nhất trong thời kì Tam Quốc với tài năng quân sự, chính trị, thơ ca lừng danh, Tào Tháo còn nổi tiếng là một người đa nghi và quyền biến.
   Cũng bởi cái tính đa nghi và quyền biến nên lúc còn sống ông được coi là người có nhiều kẻ thù nhất, và trước khi chết, Tào Tháo đã cho làm rất nhiều mộ giả của chính mình để kẻ thù không biết đâu là thực, đâu là hư, vì thế mộ của Tào Tháo cho đến nay vẫn còn là bí ẩn.
Bí ẩn thiên cổ
   Tương truyền, Tào Tháo là người cả đời tiết kiệm. Ông yêu cầu người nhà và các quan chức rất nghiêm. Vợ của Tào Thực con trai ông vì mặc quần áo lĩnh the mà bị ông theo gia quy hạ chiếu “tự trừng phạt”. Các đồ vải vóc dùng trong cung nếu rách rồi thì vá lại dùng tiếp, không được thay mới.
   Có thời kỳ thiên hạ bị thiên tai đói kém, đời sống khó khăn, vật dụng thiếu thốn, Tào Tháo không mặc triều phục da, các quan trong triều cũng không ai dám đội mũ da. Việc trước khi mất Tào Tháo yêu cầu cho xây thật nhiều mộ giả xuất phát từ tính đa nghi của ông.
   Chuyện kể rằng lúc còn nhỏ, trong một lần tham gia cùng với nhóm đào trộm mồ mả, tận mắt thấy chúng lấy hết của cải tùy táng với người chết, Tào Tháo liên hệ ngay đến bản thân mình sau này sau khi chết. Vì vậy, để đề phòng bản thân sau khi chết không rơi vào thảm cảnh ấy, ông đã nhiều lần yêu cầu “chôn cất đơn giản”.
   Còn về tính đa nghi, khi còn sống, vì đa nghi nên Tào Tháo đã giết nhầm rất nhiều người nên có khá nhiều kẻ thù, Tào Tháo muốn sau khi chết không bị những kẻ thù kia lật mộ lên mà trả thù. Bởi vậy ngày an táng Tào Tháo, có tới 72 cỗ quan tài từ hướng Đông, Tây, Nam và Bắc cùng một lúc được khênh ra các cổng thành. Dân trong thành, thậm chí lính khênh quan tài cũng không biết quan tài nào là thật và trong 72 ngôi mộ, ngôi mộ nào là thật. 
   Bí ẩn thiên cổ về 72 ngôi mộ Tào Tháo đến nay vẫn chưa có lời giải. Điều này đã thu hút sự chú ý của những kẻ đào trộm mồ mả song chưa có ai đào được mộ thật của Tào Tháo. Tương truyền trong những năm quân liệt hỗn chiến, một nhà buôn đồ cổ người Ấn Độ đã thuê nhân công đào mười mấy ngôi mộ giả để tìm cho ra ngôi mộ thật của Tào Tháo.
   Nhưng khi đào những ngôi mộ này, ngoài một số đồ gốm sứ ra không thu được thứ gì khác. Hài cốt thực của Tào Tháo chôn ở đâu vẫn là một bí ẩn. Có người căn cứ vào “thơ mộ Tào Tháo” suy đoán mộ ông ở đáy sông Chương. Theo cuốn “Chương Đức phủ chí”, lăng Ngụy Vũ Đế Tào Tháo ở thông Linh Chi, cách đài Đồng Tước 5km về phía chính Nam. Tuy nhiên khi tiến hành khảo sát, điều này chỉ là giả thiết.
   Mộ Tào Tháo có thể ở đâu? Có một ý kiến cho rằng, mộ ông ở “Cô Đôi Tào Gia” (tức mộ phận họ Tào) thuộc huyện Tiều - quê hương của Tào Tháo. Theo ghi chép “Văn Đế” trong cuốn “Ngụy Thư”: “Năm Giáp ngọ (năm 220) mở tiệc chiêu đãi quân lính và dân chúng ở Ấp Đông (thuộc huyện Tiều). Văn Đế đến huyện Tiều, thiết đãi phụ lão ở đây. Lập đàn trước nhà lập bia được gọi là bia thết đãi lớn”.

 Tào Tháo trên phim.

   Tào Tháo mất tháng Giêng năm Giáp Ngọ, ngày hai chôn cất. Nếu chôn ở Thành Nghiệp, Ngụy Văn Đế Tào Phi vì sao không đi Thành Nghiệp mà lại quay về quê hương? Mục đích chuyến đi này của Tào Phi là để kỷ niệm ngày mất của Tào Tháo? Sách “Ngụy Thư” còn nói: “Năm Bính Thân, Tào Phi đích thân đến ở lăng Tiều”.
   Lăng Tiều chính là “Cô Đôi Tào Gia” nằm cách thành Đông 20km. Nơi này từng là nhà ở của Tào Tháo, cũng là nơi Tào Phi ra đời. Ngoài ra, sách còn chép: “Bột Châu có quần thể mộ thân tộc Tào Tháo. Trong đó có mộ ông nội, cha, con cái của Tào Tháo”. Từ đó suy đoán, mộ Tào Tháo cũng chôn ở đó. Tuy nhiên, cách giải thích này cũng không có bằng chứng xác đáng.
Mộ Tào Tháo được khám phá?
   Vào ngày 3 tháng 4 năm 2009, hơn 11 nhà khoa học hàng đầu của Trung Quốc về giai đoạn lịch sử Tần Hán và Ngụy Tấn Nam Bắc Triều đã mở một cuộc hội nghị thảo luận về ngôi mộ cổ phát hiện ở An Dương, Hà Nam được cho là mộ Tào Tháo hồi cuối năm 2008.
   Trong hội nghị này, các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng, từ những di vật khai quật được, cho đến quy cách, hình dáng và hoàn cảnh địa lý xung quanh của ngôi mộ, có thể kết luận đây chính là ngôi mộ của Tào Tháo. Sau đó tỉnh Hà Nam sẽ tiến hành quy hoạch phạm vi bảo vệ cho đến xây dựng cơ quan bảo vệ di tích này. Việc khẳng định ngôi mộ ở An Dương là mộ Tào Tháo cũng dẫn đến rất nhiều những vấn đề khác. Chẳng hạn, xung quanh mộ Tào Tháo liệu có còn mộ huyệt của người nhà ông không? Và lăng của Tào Tháo nằm ở đâu?
   Khi những tranh luận về chuyện thật giả của ngôi mộ Tào Tháo được phát hiện ở An Dương cũng là lúc người ta chuyển sự chú ý đến bản thân Tào Tháo. Trước đây, trong quan niệm truyền thống, người ta luôn cho rằng Tào Tháo là kẻ gian hùng, thậm chí là gian tặc. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XX, các nhà lịch sử bắt đầu lật lại “nghi án” này.
   Vào tháng 2 năm 1959, Quách Mạt Nhược liên tiếp viết “Thái Văn Cơ” rồi “Thay Tào Tháo phản án” minh oan cho Tào Tháo, cho rằng ông là nhà chính trị, quân sự, văn học có tài. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cách mạng văn hóa, “bản án” của Tào Tháo đã bị xếp lại. Nhà sử học Chu Thiệu Hầu nói, việc khai quật mộ Tào Tháo cùng những di vật được tìm sẽ cung cấp những chứng cứ quan trọng cho việc lật lại “nghi án” Tào Tháo.
   Chu Thiệu Hầu cho biết ngôi mộ được phát hiện ở An Dương chỉ vẻn vẹn hai gian với diện tích hơn 740m2, các vật tùy táng phần nhiều là đồ bằng đá, chỉ có ba đồng tiền. Cách chôn cất tiết kiệm này hoàn toàn phù hợp với chủ trương mai táng đơn giản được Tào Tháo ghi trong “Di lệnh”.
   Điều này cho thấy, Tào Tháo cả đời sống cần kiệm, quan tâm đến cuộc sống của dân. Từ đó, Chu Thiệu Hầu nói rằng, đã đến lúc các nhà sử học phải liên kết với các nhà kiến trúc xây dựng lại hình tượng chính diện cho Tào Tháo, rửa án oan suốt hàng ngàn năm nay cho nhà chính trị tài ba này.
   Tuy nhiên có nhiều ý kiến trái ngược đầy nghi vấn về ngôi mộ được phát hiện ở An Dương. Giáo sư Vương Hâm Nghĩa ở khoa Lịch sử thuộc Đại học An Huy cho rằng, những thứ vũ khí trong mộ như hổ đại kích, hổ đại đao hay chùy đá không phù hợp với ghi chép lịch sử vì khi sinh thời, Tào Tháo chủ yếu sử dụng kiếm.
   Giáo sư Trương Tử Hiệp, Chủ nhiệm khoa Lịch sử ở Đại học An Huy, đã nêu ra 4 nghi vấn: Thứ nhất, trong dân gian lưu truyền nhiều giai thoại về mộ Tào Tháo nhưng đều có điểm chung là lăng mộ này được xây dựng ở khu vực đồi núi. Bởi khi cử hành lễ tang thì Tào Phi, con cả của Tào Tháo, ghi rõ: “Linh cữu rời cung đình, đi tới Sơn Nga”. Trong khi đó, khu mộ vừa được tìm thấy lại nằm ở vùng đồng bằng.
   Thứ hai, lúc sinh thời, Tào Tháo chủ trương sau khi mất, các đại thần, tướng lĩnh trong triều có công sẽ được mai táng xung quanh mộ ông. Tuy nhiên, khu mộ nói trên dù được xây với quy mô lớn nhưng cạnh đó không có mộ của đại thần hoặc tướng lĩnh nào.

   Thứ ba, những phiến đã có khắc chữ “Ngụy Vũ Vương” là danh xưng chỉ được phong cho Tào Tháo sau khi ông qua đời một thời gian, Hơn nữa những phiến đá này không phải được lấy từ mộ ra mà do thu hồi của những kẻ trộm cắp. Thứ tư, trong mộ không có ấn tín, đây lại là vật không thể thiếu ở lăng mộ của các bậc vua chúa Trung Hoa. Bốn nghi vấn trên hiện chưa được giải đáp thỏa đáng. Vì vậy, mộ thực của Tào Tháo hiện ở đâu vẫn chờ khoa học giải đáp chính xác.


Ngôi mộ phát 18 đời thượng thư: Những thăng trầm của dòng họ Trần Đình làng Hà Trung
Tác giả : GS Nguyễn Lý-Tưởng 






  Địa lý phong thổ là một trong những môn học của Đông Phương, đặc biệt, người Trung Hoa thường nghiên cứu và tin tưởng vào sự ứng nghiệm của phong thổ, địa thế, hướng nhà, mồ mả người chết... Họ cho rằng những yếu tố đó có ảnh hưởng đến sự hưng thịnh của những người liên hệ: Chủ nhà, chủ đất hoặc con cháu người chết...


   Tôi thường đi đó đây, nghe được nhiều chuyện về địa lý, phong thổ, đọc được những tài liệu về các dòng họ có tên tuổi trong lịch sử, hoặc được ghi chép qua gia phả, sử sách. Dòng họ nào cũng có nơi phát tích, cũng có những câu chuyện được truyền tụng trong con cháu, trong nhân dân, nơi sinh quán của mình. Những câu chuyện đó có mục đích chứng minh rằng các nhân vật nổi tiếng trong sử sách và mồ mả của họ hoặc “chính” hoặc “tà” đều chịu ảnh hưởng bởi địa lý, phong thổ và mồ mả tổ tiên của họ.


   Địa lý phong thổ đúng hay không là do niềm tin của mỗi người. Nhưng đối với người Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam... từ vua chúa đến thường dân, người ta vẫn tin điều đó. Dòng họ nào từ bình dân mà phát lên vương hầu cũng đều có một huyền thoại về địa lý phong thổ.

1333445915ff87e416c21x

TỌA KHÔN, HƯỚNG CẤN THÌ PHÁT VỀ VĂN ...


Đời thứ nhất của dòng họ bắt nguồn từ một đôi vợ chồng thuần phác, không biết từ đâu đến lập nghiệp ở một làng ven đô Thăng Long (tức Hà Nội bây giờ) lấy nghề nông làm nghề sinh nhai. Ngoài ra, thỉnh thoảng cụ bà, một người con gái có nghề buôn thuốc Bắc, còn lên Thăng Long cất hàng mang về cho các thầy lang trong vùng. Mỗi bận đi về như thế mất hai ngày.
Một hôm, hai cụ đi cất lọ hỏa dược (diêm sinh) có đôi tai hoa tai vàng chạm trổ óng ánh, mỗi góc cạnh một vẻ, càng nhìn càng ưa, đẹp ngẩn ngơ cả người. Các cụ bàn tính: của quý này tự dưng vào tay ta, ta cất giấu đi chả ai biết đấy là đâu. Nhưng nó không phải của ta. Đã không phải của ta mà ta cứ dùng thì nó là đồ phi nghĩa. Vợ chồng ta tuy một chữ bẻ đôi không biết nhưng thi thoảng được hầu chuyện các thầy lang, được hay trên đời có hai hạng quân tử với lại tiểu nhân. Ta muốn làm bậc quan tử sao lại dùng của phi nghĩa? Thôi thôi cứ mang trả là hơn. Nghĩ vậy hai cụ bèn cứ cất công ra Thăng Long mang trả đôi hoa tai vàng cho chủ hiệu.
Cả nhà ông chủ hiệu người Tàu đều giật mình kinh ngạc, vì cứ nghĩ rằng báu vật đã không cánh mà bay mất. Họ hết lời cảm tạ, mang bao nhiêu là của ngon vật lạ ra biếu hai cụ, nhưng hai cụ nhất định không chịu nhận, nói rằng còn để phúc cho con cháu về sau. Người chủ hiệu không biết làm thế nào, chỉ còn dặn với, khi hai cụ ra về: Thôi thế chúng tôi đội ơn hai bác, để khi nào có thầy địa lý hay bên nhà sang, chúng tôi sẽ nói tìm cho các cụ nhà ta một ngôi đất phát phúc. Hai cụ miễn cưỡng  vâng.
Chuyện ấy lâu dần quên đi. Mãi đến đời cụ tổ thứ ba, lúc bấy giờ vào triều vua Lê Chân Tôn, một hôm hai mẹ con vừa đi đồng về, đang băm bèo thái rau. Bỗng thấy các viên chức dịch dẫn quân lính vào nhà mời cả ba mẹ con ra ngoài cánh đồng có việc hệ trọng. Cụ bà và hai con đều giật mình, nửa mừng nửa sợ. Mừng vì thấy chức dịch và quân lính lễ phép chào mời, sợ vì không hiểu có việc gì, đành phải đi ra.
Ra khỏi cổng làng thì thấy có cờ xí rợp một quãng đồng, quân Tàu, quân ta đứng xúm xít dưới gốc gạo Mã Nàng, tiếng chiêng tiếng trống như ngày hội. Các quan chức khăn đóng áo dài chững chạc. Ngồi giữa chiếu là một viên quan Tàu mũ, áo, lọng, biển sáng trưng. Ba mẹ con sụp lạy xong, người thông ngôn mới dẫn dụ một hồi cho biết đầu đuôi câu chuyện. Số là ba đời trước có chuyện cụ tổ đem trả lại đôi hoa tai vàng. Đó là đôi hoa tai của chính cung Hoàng hậu bên Tàu. Cô em gái người chủ hiệu thuốc ở Thăng Long mới được tuyển vào làm đệ nhị cung phi có mượn của Hoàng hậu đôi hoa tai ấy, giao cho ông anh kén loại vàng mười của nước Nam, theo mẫu đó kéo hai đôi nữa làm đồ tiển. Chủ tiệm vàng chưa kịp tìm thợ khởi công thì đôi hoa tai đã biến mất. Thì ra cậu con trai quý tử có lần lén lấy chơi, tiện tai bỏ vào lọ hỏa dược rùi quên béng mất. Cả hiệu đang lo cuống lo cuồng về chuyện tày trời thì được người khách quê mang trả báu vật. Ơn ấy, người nhà quên đi nhưng ông chủ hiệu thì nhớ. Trước khi qua đời, ông chủ hiệu già có di chúc lại cho con cháu thế nào cũng phải thực hiện lời hứa đón thầy địa lý hay về làng để trả ơn. Nay người cháu của ông chủ hiệu làm quan bên Bắc triều, tuân theo lời di chúc, nhân sang dự lễ phong vương nước Nam, có mang theo thầy địa lý chính tông đến cánh đồng đây đặt cho con cháu người một ngôi đất phát phúc.
Ông thông ngôn nói xong, quan Tàu bèn gọi hai người con cụ đến gần để hỏi ý kiến. Thầy địa lý nói: Cũng ngôi đất này xoay hướng nọ thì phát phú gia địch quốc, nhưng chỉ được một đời, còn về đường văn học thì một chữ cũng không. Xoay về hướng kia, tọa Khôn hướng Cấn (*) thì phát về văn, đời đời chỉhọc đổ tới mức cử nhân, tú tài, có hơn kém cũng chỉ chút ít, nhưng văn mạch thì lưu truyền mãi mãi không bao giờ hết. Vậy nhà ta muốn chọn hướng nào?
Hai người con xin phép lui ra để bàn với mẹ. Ba người bàn tính một hồi, người con cả mạnh bạo thưa với quan Tàu: Đất phát cư phú mà văn lại khảo bảy ngày không biết một chữ thì của dẫu nhiều chẳng khác gì người giữ của, huống chi của lạikhông bến. Đất phát văn dẫu rằng chỉ đỗ đạt nho nhỏ nhưng được lâu dài, hưởng phúc không bao giờ hết. Ăn dè được lâu cầy sâu lúa tốt. Chúng tôi xin thuận về đường phát văn”.
Quan sứ Tàu và hai vị địa sư tấm tắc khen ba mẹ con biết nghĩ xa. Bèn truyền lệnh đào chính giữa một gò đất, sâu hơn hai dài thừng, rồi phân kim táng mộ cụ tổ đời thứ ba chính giữa mắt con phượng, kiểu đất Phượng hoàng hàm thư.
Đoạn quân trẩy về kinh. Ba mẹ con về nhà tâm niệm con đường khoa cử, bèn rước thầy về rèn cặp ngày đêm. Quả nhiên, người con trưởng đã khai khẩn rừng Nho cho cả gia tộc. Năm 17 tuổi cụ thi đỗ Tú tài. Sau này cả họ tôn vinh cụ là Khai khoa triệu tổ, vị tổ mở đầu dòng khoa bảng cho cả họ. Các tổ đời thứ tư thứ năm đều có người đỗ tứ tài, cử nhân. Rồi đến đời thứ sáu, có một nhánh phát triển rực rỡ rồi đột ngột rơi xuống vực thẳm. Một cụ tổ thông minh, học giỏi đậu đến Tiến sĩ được bổ làm Đốc đồng một tỉnh miền núi, làm vẻ vang cho cả họ. Do những xung đột nội bộ giữa các quan cai trị ở địa phương – cuộc xung đột này phản ánh cuộc xung đột giữa vua Lê và chúa Trịnh đã dẫn tới những âm mưu hãm hại lẫn nhau. Cụ tổ có học vị Tiến sị duy nhất của gia tộc đã cầm gương tự sát để tỏ lòng trung với vua. Và tất cả những người trong gia đình, các thân nhân đi theo đã tự vẫn theo, cả thảy hơn 20 người. Trên bản đồ cây gia tộc, nhánh ấy bị cụt.
Vị đại diện dòng họ buồn rầu kể tiếp:
Sau vụ bi thảm đó, họ chúng tôi rút ra một kinh nghiệm lịch sự và truyền lại cho đến hôm nay. Là khí thiêng của địa lý đã định ra thế, thì người trong gia tộc phải biết cái hành lang số phận của mình. Có thể do mật mã di truyền, ngày nay người ta hiểu như thế, đến một đời nào đó đột xuất có người thông minh kiệt xuất đường công danh phú quý vượt trội hẳn lên. Nhưng xin hãy nhớ một tổ táng ở đâu và biết dừng lại khi chưa là quá muộn. Đây, ông chỉ vào cây gia tộc, hiện nay họ chúng tôi có hai nhánh khá là sum suê. Một nhánh biết kinh doanh, giàu lên trông thấy, con cháu đều ăn nên làm ra, nhưng không thể ở quê nhà, phải ly hương ít nhất ba đời nay, hiện có người lập nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh, có người trôi dạt sang Mỹ … Một nhánh khác vươn lên tỏa bóng, sau này thành một cụm lớn , trung tâm của gia tộc, trong đó có một chú phát triển về đường quan chức cách mạng cũng khá là nhanh, tới hàm thứ trưởng. Nhưng chú ta cũng biết phận mình, vừa đúng tuổi hưu làm đơn xin rút liền, may được Trung ương đồng ý. Chú ta bảo: Trong nội bộ cơ quan em, đã xuất hiện triệu chứng bất hòa, tính em lại thẳng, em mà ở lại chỉ mo năm nữa thôi là có thể ngu to. Sau một ngày xuân về viếng mộ tổ, em chợt nhớ ra gương cụ tổ đời thứ sáu, em quyết định dừng luôn, tự đình chỉ luôn, không ham hố nữa, để phúc cho con cháu. Như vậy đấy, con người phải biết điều với số phận của mình, trong họ chúng tôi không còn ai có học vị cao nữa. học đều đều, cử nhân, tú tài là cao nhất. Nhà nhà đều vừa đủ để mát mặt với hàng xóm, chúng tôi không có gì để ân hận. Anh thấy vấn đề địa linh có ghê không?

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Follow by Email

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.