bài viết trong chuyên mục "THẦN TÍCH VỊ THÁNH TRONG TAM TỨ PHỦ"

Hiển thị các bài đăng có nhãn THẦN TÍCH VỊ THÁNH TRONG TAM TỨ PHỦ. Hiển thị tất cả bài đăng

        Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của du lịch Tam Đảo. Ngoài Đền Bà Chúa Thượng Ngàn nơi đây còn có đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ, chùa Vàng tạo thành một cụm tâm linh Phật - Thánh đầy linh thiêng giữa chồn núi rừng đầy mộng mơ, quanh năm sương trắng. Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo còn gọi là Đền Mẫu Thượng Tam Đảo


        Để đến được cụm tâm linh Phật - Thánh linh thiêng này, ngay dưới chân núi Tam Đảo, km 18, chúng ta còn được chiêm bái ngôi đền thờ Nhị Vị Vương Cô Nhà Trần. Trước khi đến thị trấn Tam Đảo mù sương chừng 2 cây số, chúng ta có thể vảo dâng hương tại đền thờ Trần Hưng Đạo.

        Thần tích đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo

        Vào những năm khoảng đầu thế kỉ 20, chính quyền Pháp đã quyết định cho xây dựng Tam Đảo trở thành một trong những điểm nghỉ mát dành cho những vị quan chức Pháp ở Việt Nam. Bên cạnh việc xây lên những căn biệt thự lộng lẫy, Pháp cũng cho làm những con đường để đi lại được dễ dàng hơn. Vào khoảng thời gian ấy, có một nhà thầu phụ là người Việt Nam đã bỏ tiền của ra để xây dựng lên ngôi đền này. Trải qua các bước thăng trầm của lịch sử, thời gian ngôi đền hiện nay đã tố hảo, tráng lệ giữa bạt ngàn rừng xanh.

Đường lên đền Bà Chúa Thượng Ngàn

       Nơi đây, Bà Chúa Thượng Ngàn được coi là con gái đầu của Quốc  Mẫu Âu Cơ. Đây là một dị biệt về thân thế Mẫu Thượng Ngàn.

        Vài nét về Đền Bà Chúa Thượng Ngàn,  Đền Mẫu Âu Cơ và  Chùa Vàng.

        Sau khi du ngoạn cảnh đẹp của núi rừng Tam Đảo, chúng ta sẽ bước thêm 300 bậc lên lưng chừng đỉnh núi Thiên Thị cao chót vót nơi tọa lạc của cụm du lịch tâm linh. Lối đi có hai hàng tay vịn bê tông cốt thép uốn lượn với những bậc đá quanh co giữa cánh rừng trúc thẳng cao bạt ngàn, thơ mộng, phủ trùm bóng mát khiến ta như lạc vào một cõi thần tiên.


      Đền Bà Chúa Thượng Ngàn có kiến trúc phương Đông ước lệ, mái lợp ngói miểng Thổ Hà, phía trên ngay cửa chánh điện có đắp phù điêu cặp rồng xanh đang giương nanh múa vuốt (lưỡng long tranh chầu). Các cột trụ vuông bốn mặt giả đăng đỉnh (trụ đèn), dọc cột có những hàng chữ Nho.
        Phía sau đền Bà Chúa Thượng Ngàn là đền Quốc Mẫu Âu Cơ. Trước đây, đền Mẫu Âu Cơ nằm ở Phố Đình, trung tâm thị trấn, bị nhà nước phá, một số người dân đem tượng Bà giấu trong đền Chúa. Năm 1992, một bà thương gia giàu có mua mảnh đất nầy, xây đền, đưa tượng Bà qua thờ. Từ đó, với sự phù hộ linh thiêng của Mẫu Âu Cơ người phụ nữ giàu tâm đức ấy ngày càng thêm phát đạt. Đây là câu chuyện tóm tắt về bà thương gia: Bà vốn ở số nhà 11 Hàng Ngang, năm cải tạo bị nhà nước thu gần hết của cải, nhà cửa. Thế rồi một hôm bà nằm mộng thấy Thánh hiện về sai đi tìm lại đền cũ. Khăn gói bí mật bà ra đi một mình, cứ theo mộng mà đi.  Thế nào loanh quanh mò lên tận đất Tam Đảo. Đến 1992 thì bà mua được khu đất này vốn là nền cũ của đền. Bà đã bỏ tiền đứng ra xây dựng lại ngôi đền".


       Đền Quốc Mẫu có bàn thờ vị Đệ nhất vương cô – Đệ nhị vương cô, là hai hầu cận của Bà khi xưa. Bên phải thờ Ngũ vị Tôn Ông. Bên trái thờ Tứ Phủ Thánh Bà, là những người trông coi núi vàng của đất nước. Hậu cung thờ Quốc Mẫu Vua Bà. 
      Giữa sân đền có một cây cột vuông màu trắng cao vút, một mặt khắc dòng chữ: “Nguyện xin hòa bình đến với toàn thể nhân loại trên thế giới”. Ba mặt kia khắc các dòng chữ Nhật, Anh và Pháp cùng một nội dung. Cột nầy do vợ chồng một người Ấn Độ xây tạ ơn Bà đã cho họ một đứa con hằng mong mỏi. Từ đó người ta đồn rằng đền Quốc Mẫu Vua Bà linh thiêng, là nơi cầu xin tình duyên và con cái. Hiện nay, với sự cúng hiến tiền của người hảo tâm, đền đang được xây dựng thêm, khang trang hơn.
     Phía sau đền Quốc Mẫu Vua Bà là Chùa Vàng. Nơi đây có một khoảng sân rộng, nơi trang trọng đặt rất nhiều pho tượng phật đá trắng. Mỗi vị đứng hoặc tọa thiền trong một tư thế khác nhau, vị vui vẻ hiền từ, vị trầm tư ưu sầu cho nhân loại… 

     
       Từ đây có một cầu thang dài 121 bậc đá xanh, hai hàng tay vịn cũng bằng đá xanh chạm khắc hoa văn đẹp mắt dẫn lên. Bốn góc chùa là bốn mái hình đao cong vút, được xây mới vào năm 2010. Đáng chú ý là pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng nặng cả tấn, đội mão dát vàng, tĩnh tọa trên đài sen bằng bạc. Do khúc xạ của ánh sáng nên khách hành hương thấy tượng phật lúc màu vàng, khi màu tím, rồi màu xanh thẫm… 

       Du lịch Tam Đảo

       Quả thực nếu hành hương về Tam Đảo với chốn tâm linh kỳ diệu mà chúng ta không có đôi chút khám phá thiên nhiên, cảnh vật kỳ vĩ nơi đây thì thật là đáng tiếc. 


        Nơi đây có nhà thờ cổ Tam Đảo bằng đá từ thời Pháp hết sức cổ kính mang dáng kiến trúc Gothic nổi tiếng;


        Nơi đây, còn có Thác Bạc mộng mơ luôn tung bọt trắng xóa; tháp truyền hình chót vót trên đỉnh Thiên Thị.


        Cô Bơ Bông là một thánh cô nổi tiếng trong Tứ Phủ Thánh Cô. Đền chính của Cô hiện nay là Đền Ba Bông tại xã Hàn Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa. Cô Bơ Bông còn gọi là Cô Ba Hàn Sơn, Cô Bơ Thác Hàn...
        Người viết xin cung cấp cho bạn đọc nhưng điều chưa từng kể về đền Cô để các bạn biết thêm về thần tích, sự linh thiêng của đền Cô và sự hy sinh cao cả của những thủ nhang đồng đền nơi đây.

Cô Bơ Thác Hàn
Tượng Cô Bơ Bông Hàn Sơn

        Sự tích về Đền Cô Bơ Bông

        Vào khoảng năm 1939 - 1940, Đền Bơ Bông đã bị giặc Nhật phá đổ, đốt tượng. Lúc đó, cụ Nguyễn Trọng Khanh là thủ nhang của đền đã bí mật cứu gỡ được một số bài vị, bát hương, đỉnh thờ và pho tượng cô đem giấu đi. Sau đó ít ngày, Cụ đã xin giặc Nhật cho lập đền thờ Trần Hưng Đạo ở khu bãi bồi bên sông cách đền cũ chừng 200 m.  Cụ nói tránh là lập đền thờ Trần Hưng Đạo chứ thực chất là lập dựng lại đền Cô. Nơi dựng đền cô lúc đó chỉ toàn lau lách. Dưới sự quyết tâm của Cụ và bà con làng xóm, một ngôi đền 3 gian bằng tre nứa lá đơn giản đã được xây dựng.

Cô Bơ Hàn Sơn
Phối cảnh đền cô Bơ Bông đang được xây dựng hiện nay
        Sau đời cụ Nguyễn Trọng Khanh là cụ Nụ làm thủ nhang. Cụ Nụ có công rất lớn trong việc tôn tạo lại đền. Nghe nói quê cụ tận Khoái Châu, để có kinh phí xây dựng lại đền cụ đã về quê bán hết nhà cửa ruộng đất để xây dựng được ngôi đền gạch, lợp ngói 5 gian. Cụ mất vào khoảng năm 1994 - 1995. Cụ đã được nhân dân quanh vùng đưa rước rất lớn. Hiện ngôi mộ cụ được nhân dân, xây dựng tu bổ rất hoành tráng ngay tại nghĩ trang Hàn Sơn.
        Năm 1996, ngôi đền được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc Gia. Như vậy, ngôi đền được như ngày nay là công sức đóng góp, sự hy sinh cao cả của hai cụ thủ nhang: Cụ Trọng và cụ Nụ. 
       Hiện nay, khu đất cũ của đền Cô mà đã bị giặc Nhật phá đã có người dân xây dựng 3 gian nhà ngói để ở. Nhưng nghe đâu, miếng đất nơi đền cũ linh thiêng không ở được. Người ở đó đã bỏ lại ngôi nhà chỉ để dành thắp hương cho cô và đi kiếm ăn nơi xa.

        Thần tích về Cô Bơ Bông

        Theo cuốn "Lê Triều Thần Phả Ngoại Biên" được lưu giữ tại Thái Miếu họ Lê có ghi chép về thần tích cô Bơ Bông tóm tắt như sau:
        Vào khoảng năm 1432, vua Lê Lợi có một đêm mộng thấy một nữ thủy thần báo mộng: "Ta là con gái vua Thủy tề đây. Nhà vua còn nhớ là nợ ta một lời hẹn ước hay không? Bây giờ nghiệp đế vương đã thành sao chưa thấy trả". Vua Lê Lợi giật mình tỉnh dậy mới nhớ lại chuyện cũ. Ngày xưa, vào những năm đầu khởi nghĩa, Lê Lợi bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp cô gái xinh đẹp, đoan trang đang tỉa ngô được cô cứu thoát.
        Vua Lê Lợi để tỏ biết ơn cô, có nói với cô rằng: " Ta có một cháu trai tuấn tú, khôi ngô, văn võ song toàn. Sau này kháng chiến thành công ta sẽ gả cháu ta cho cô." Người mà Lê Lợi nhắc đến chính là tướng quân Lê Khôi, cháu trai của Lê Lợi (Tướng Lê Khôi chính là một trong các hiện thân của Quan Hoàng Mười được thờ tại đền Củi ngày nay). Cô gái ấy chính là hiện thân của Cô Bơ.
       Tương truyền rằng, sau thắng lợi, Vua Lê Lợi có quay lại tìm cô gái nhưng không thấy. Như vậy lời hứa gả cô cho tướng Lê Khôi đã không được thực hiện.
        Sau giấc mơ, biết cô gái tỉa ngô nơi xưa chính là con gái vua thủy tề, hiện thân lên cõi trần để giúp vua xây dựng nghiệp lớn, vua Lê Lợi đã phong cô là "Thượng Đằng Thần" và cho xây dựng đền Cô, để tưởng nhớ công lao của Cô.

        Thần tích về Cô Bơ Bông đã công bố

         Người viết cũng xin cung cấp thêm với bạn đọc một số thần tích đã công bố để bạn đọc tham khảo:

       Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.
        Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn".
      
      Một huyền tích khác về Cô Ba Thoải Cung Hàn Sơn

      "Theo huyền sử, vào khoảng những năm đầu đại Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông (1460- 1497), thái úy Lê Thọ Vực sau khi lập được nhiều công trạng được vua phong chức “Bình Trương Quân Quốc Trọng Sự”, rồi đến chức “Sùng Quốc Công”, giao chấn giữ biên ải Ba Bông “Rừng thiêng nước độc”. Trong một trận giao tranh ác liệt kéo dài, không phân thắng bại mà tình thế rất nguy cấp. Đêm hôm ấy, danh tướng đã mơ thấy một người con gái mặc xiêm y trắng trên mây giáng xuống ngã Ba Bông, rẽ nước bước lên kiệu võng mà nói rằng: “Hãy lui quân về Nhị Sơn hạ thủy mà vây hãm, lên núi Thạch Bàn mà cầu Mẫu thoải tất ứng linh”. Theo lời, danh tướng dẫn quân xuôi về Chí Thủy (Thác Hàn Sơn bây giờ) dâng lễ cầu Mẫu rồi bố trí quân binh mai phục. Ứng báo của Mẫu cho kế phá giặc là lấp đá chặn dòng, lấy thủy triều dâng, làm nghi binh nhử giặc vượt qua bãi đá ngầm, khi nước thủy triều xuống thì tổng lực phản công, thuyền giặc rút chạy bị vấp vào bãi đá ngầm, lật nhào chìm đắm rất nhiều, quân mai phục đổ ra đánh úp, quân giặc chết nhiều vô kể và thất bại thảm hại, không còn dám quấy nhiễu nữa. (Dấu tích bãi đá ở Thác Hàn vẫn còn cho đến ngày nay).
      "Thác Hàn Sơn lừng lẫy chiến công, nức tiếng muôn phương, oanh liệt một thời. Người con gái trong kiệu võng về báo mộng cho tướng quân Lê Thọ Vực đêm hôm ấy chính là con gái Ngọc Hồng thượng đế (Công chúa Mai Hoa) mà nay gọi là Cô Ba hay Cô Bơ thoải phủ đền Ba Bông. Còn người báo mộng hiến kế để tướng quân Lê Thọ Vực phá giặc là “Đệ Tam Thủy Tiên Thánh Mẫu Bạch Ngọc Hồ Trung Xích Thủy Tinh Xích Lân Long Nữ” hay còn gọi là Mẫu Đệ Tam, Mẫu Thoải, Mẫu Hàn Sơn đều là một. Để đáp lại ân đức của thánh thần, tướng quân Lê Thọ Vực tâu vua, vua Lê cho lập đền thờ Cô Ba ở bờ bãi bồi Ba Bông hiện nay. Đền thờ Đệ Tam Thánh Mẫu ở non cao Thạch Bàn thác Hàn Chí Thủy (về sau mới di dời xuống bên sông để nhân dân thuận lợi việc thăm viếng). Nhớ ơn công đức của tướng quân Lê Thọ Vực, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ngay phía dưới trước đền Mẫu, được tách rời bởi sân Đại Bái (Từ đó đến nay vẫn giữ nguyên sự sắp xếp đó).

     Ngày tiệc Cô

     Ngày 12.6 âm lịch là ngày rước Cô lên đền Mẫu. Nhưng ngày mất của Cô tương truyền là ngày 8/2. Nhiều nơi vẫn làm ngày tiệc Cô vào 8/2. Tuy vậy, để kỷ niệm ngày rước Cô lên đền Mẫu được coi là chính tiệc của Cô.

    ( Xin cảm ơn bạn Lê Văn Sĩ - phụng thánh tại thành phố Thanh Hóa, một đệ tử của Cô Bơ Bông đã cung cấp tư liệu cho bài viết này).
       
   

      Đền Rõm thuộc thôn Thanh Hà, xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đền Rõm được coi là ngôi đền thờ Mẫu và thờ quan quân nhà Mạc. Cạnh Đền Rõm là Đền Quan Quận thờ 18 vị Quan Quận. Có thể coi nơi đây là quần thể di tích tâm linh thờ nhà Mạc trong cuộc dời đô.

Cổng Đền Rõm

 Sự tích Đền Rõm

     Năm 1592, sau khi thất thủ Thăng Long, nhà Mạc quyết định dời đô lên Cao Bằng, để sẵn sàng tiến hành một cuộc chiến đấu lâu dài. Đoàn  thiên đô bao gồm cả triều đình, trong đó lại có hoàng hậu công chúa, người già, trẻ em là bộ phận khó cơ động. Ngoài ra còn có thư tịch, ấn tín, bảo vật,…Triều đình không thể đi đường quan lộ lên Cao Bằng, mà một bộ phận phải đi đường tắt, bí mật, vượt qua đỉnh núi Hàm Lợn (bây giờ thuộc thôn Thanh Hà, xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội - Nơi có Đền Rõm ngày nay) qua Thái Nguyên. 

Cảnh đền Rõm
      Cách đây 5 thế kỷ, đường sá, xe ngựa tất nhiên nghèo nàn thiếu thốn, lại qua núi rừng, hiểm trở, xa xôi (300 km) Đặc biệt, thêm một cản trở lớn là phong kiến Trịnh-Lê tìm cách truy sát tiêu diệt. Nhưng bằng mọi giá nhà Mạc phải bảo vệ đoàn thiên đô. Nhiệm vụ nặng nề này đặt trên vai một đoàn chiến  binh khoảng 500 người, dưới sự chỉ huy của 18 vị quận công.
       Tại khu vực Đền Rõm và Đền Quan Quận, tương truyền là nơi đã xẩy ra một cuộc chiến đẫm máu giữa quan quân Lê - Trịnh và quan quân nhà Mạc. Đáng mừng thay, cuối cùng đoàn thiên đô được bảo toàn. Nhưng đáng tiếc là đội thiên vệ hy sinh gần hết, còn lại một ít hẹn cùng nhau tuẫn tiết vào ngày 20 tháng Tám, trước thời gian Thái Tổ Mạc Đăng Dung băng hà 2 ngày.
     
Nội Cung Đền Rõm
      Nơi đây, Đền Rõm được coi là nơi thờ Mẫu và các quan quân nhà Mạc. Còn Đền Quan Quận thờ 18 vị Quận Công, là nơi tưởng niệm chiến công vinh quang và hy sinh oanh liệt của đơn vị bảo vệ đoàn thiên đô  nhà Mạc năm 1592. Đền Quan Quận, ngày nay là nơi con cháu họ Mạc hay thường tổ chức họp họ tại đây để làm giỗ họ và 18 vị Quận Công. 

Đền Quan Quận hay còn gọi là Mạc Gia Từ

      Đền Rõm và Đền Quan Quận được coi là trung tâm giữa các di tích nhà Mạc như: Bãi quần ngựa nhà Mạc; Đá mài gươm nhà Mạc; Cột cờ nhà Mạc; Bàn cờ nhà Mạc; Đấu đong quân nhà Mạc.

Di tích đường nhà Mạc
        Hiện nay, tại Đền Rõm còn có đôi câu đối: 
       “Tây phương hữu lộ cao gia Mạc
     Đông hướng mã hồi Đổng thăng Thiên”
        Dịch:
“Phía Tây, có đường họ Mạc cao quý
Phía Đông, là nơi ngựa Gióng về trời”

        Đền Rõm có từ bao giờ

        Theo bà thủ từ hiện nay, bà Thiêm, thì gia đình bà liên tục coi sóc đền 7 đời (ước tính 210 năm) Lúc đầu cũng như nhiều di tích đương thời, chỉ làm bằng tranh tre, đến năm Duy Tân thứ 7 (1913), cụ Vũ Bá Kỷ, nhà hào phú địa phương, đứng lên xây đền bằng đá ong. Khoảng  2001, do nhu cầu xây đập thuỷ lợi, các cụ chuyển đền đến địa điểm bây giờ, cách chỗ cũ khoảng 200m. 

Ban Quan Hoàng đền Rõm
        Nội Cung Đền Rõm hiện có các Ban Cô với tượng ba cô: Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín; ban thờ Sơn Trang, Ban Ngũ Vị Tôn Ông, Ban Trần Triều, Ban Quan Hoàng với tượng Quan Hoàng Bơ, Hoàng bảy, Hoàng Mười. Trong hậu cung là Ban Mẫu. Ngoại cung là Ban Cộng Đồng, Ban Mẫu bán Thiên, Ban các anh hùng liệt sĩ thời nhà Mạc và các anh hùng liệt sĩ thời nay.

        Để giúp các bạn tìm hiểu về Công đồng Trần Triều, người viết xin trích dẫn một bài viết về Công đồng Trần Triều để các bạn tham khảo:
      Nhà Trần không phải là một phủ, sự sắp xếp nhà Trần theo gia đình chứ không theo quan tước, hàng bậc như trong Tứ phủ ( Có Vua, Mẫu,  Các Quan, Chúa, Chầu , Ông Hoàng, Thánh Cô, Thánh Cậu ). Tất cả nhà Trần, Lục Bộ thánh Ông đều được phong tước,  ngự áo đỏ, riêng cô Đôi Đại Hoàng ngự áo vàng, cô Thái Bình ngự áo xanh.  Đức Đại Vương tuyệt đối không lên đai thượng, không múa long đao, đi cờ kiếm từ vào hè trở đi, còn mùa xuân khai đền Ngài đi cờ hồng bằng khăn phủ diện. Đức Đại Vương không xuyên lình lấy dấu mặn. Người thủ nhang đồng đền có căn mới được hầu Ngài.


        Hiện nay có người nói là chỉ có sáu vị hầu mà thôi là Đức Đại Vương, Đức Ông Đệ Tam, Cô Đệ Nhất, Cô Đệ Nhị Đại Hoàng, Cô Cửa Suốt, Cậu Cửa Suốt . Điều này là không đúng và rất tác hại cho tục thờ nhà Trần . Nhiều người nghĩ rằng lục bộ là sáu giá, nhưng lục bộ ở đây là lục bộ Đức Thánh Ông, sáu tướng phù giúp Đức Đại Vương.
       Hầu nhà Trần riêng biệt,  không tráng bóng như hầu Tam Tòa Thánh Mẫu. Hầu nhà Trần đều đi cờ kiếm gọi là cờ kiếm lệnh vua ban ” đánh đông dẹp bắc cho yên nước nhà ”.  Chỉ có mình Đức Ông Phò Mã là Điện tiền tướng quân, tức tướng tiên phong. Ngài mới đi chấp kích hoặc đao.
       Ở Đền Kiếp Bạc sau khi hầu nhà Trần phải sang bên Nam Tào – Bắc Đẩu để hầu Tứ phủ, còn ở Bảo Lộc thì ra hầu ở ngoài


      Nhà Trần không phải mở phủ, người có căn nhà Trần chỉ cần làm lễ đội lệnh nhà Trần là hầu được, trước nhất chỉ hầu Cô Đệ Nhị Đại hoàng mà thôi. Người đội lệnh nhà Trần trước khi mở phủ phải được đội lệnh tại điện thờ nhà Trân, hầu tráng bóng các vị sau đó mới xuống phủ hầu,  đến khi hầu tạ là được hầu Vương Cô Đệ nhị Đại Hoàng. Từ đó trở đi được hầu Đức Thánh Ông khác trong Công Đồng Trần Triều nhưng không được hầu Đức Đại Vương Trần Hưng Đạo.


       Các quy định mà trở thành buôn bán như bây giờ ở các Đền Bảo Lộc,  Kiếp Bạc là cấp sắc thanh đồng , người nào cũng đến xin sắc. Trước đây các vị nào muốn được thờ nhà Trần , muốn hầu nhà Trần thì phải mời pháp sư thảo sắc để vào trong 1000 vàng địa thiếc, Đạo trưởng hầu chư vị đức ông về lấy tay đạp nát 1000 vàng lấy sắc, pháp sư tuyên độc sau đó Ngài phê sắc, đặt tên đền điện , đóng dấu cất ấn.
   
               (Trích bài viết của Nguyễn Hữu Hạ đăng trên Tín ngưỡng Tứ Phủ Việt Nam)

        Vài nét về Công Đồng Trần Triều

        Để giúp mọi người hiểu sâu hơn về Công Đồng Trần Triều, xin mọi người có thể tìm hiểu bài viết cũng của Nguyễn Hữu Hạ dưới đây:

        Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần là tín ngưỡng dân gian Việt nam, được hình thành từ quá trình thánh hóa, thần hóa một nhân vật có thật trong lịch sử, anh hùng dân tộc Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, ông là vị thánh phù hộ cho sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, hộ quốc an dân, diệt trừ tà ma và chữa bệnh.
        Đức Thánh Trần tên thật là Trần Quốc Tuấn, mất ngày 20/8, ông là con trai thứ của Trần Liễu, anh trai vua Trần Thái Tông ( Trần Cảnh), về gốc tích ra đời của ông dân gian truyền lại, ông chính là Thanh tiên đồng từ trên Thiên Đình phụng lệnh Ngọc Hoàng đầu thai xuống hạ giới mang theo phi thân kiếm, cờ ấn, tam bảo của Lão Tử, Ngũ Tài của Thái Công .Như vậy xét về nguồn gốc nhà Trần cũng xuất phát từ dòng tu tiên Đạo giáo, gốc của pháp Tứ Phủ (Đạo Mẫu) chính là Tam Phủ (Đạo Tiên). Nhà Trần không thuộc Tứ Phủ có lối thờ phụng riêng và phép tắc khác bên Tứ Phủ - nhưng Thần Chủ của Tứ Phủ và của bên Nhà Trần đều thuộc dòng Thiên Tiên - tuân chỉ Ngọc Hoàng Thượng Đế mà giáng phàm để cứu dân độ thế, khuyến Thiện phạt Ác - tuy xuất xứ khác nhau nhưng nhiệm vụ thì là một, vì vậy hiện nay có sự phối thờ Trần triều và tứ phủ.
        Tương truyền khi Đức Thánh Trần mất, để tránh sự trả thù của quân Nguyên ông truyền lệnh lập mộ giả ở vườn An Lạc, Bảo Lộc ( Hiện nay tại Bảo Lộc có 1 lăng mộ ghi tên Hưng Đạo Đại Vương nhưng thực chất đó là mộ của 1 viên bộ tướng).
        Khi hóa Đức thánh đã về thiên đình nhận chỉ của Ngọc Hoàng phong là Cửu Thiên Vũ Đế, với sứ mệnh diệt trừ yêu ma ở cả 3 cõi thiên đình, trần gian, âm phủ.Theo như vị hiệu thì Đức Thánh ngài Cửu Thiên Vũ Đế - Là Thiên Tinh nên tả Nam Tào, hữu Bắc Đẩu phù cho Thiên Tinh. Dân gian đã gắn hình ảnh hai vị tướng tâm phúc nhất của Đức Thánh Trần là ông Yết Kiêu và ông Dã Tượng vào vị trí phò tà của Đức Thánh Trần , khi sang thế giới bên kia họ sẽ trở thành quan Nam Tào, Bắc Đẩu tiếp tục giúp việc Đức Thánh Trần trong việc cứu dân giúp đời
       Trong hàng thánh nhà Trần có thầy dậy Văn và thầy dậy Võ thể hiện Triều đình nhà Trần trọng tài nên có phối Tự chứ từ thời đức Khổng Tử truyền Đạo Nho cho tới triều Trần thì biết bao nhiêu triều đại Vương Hầu Công Tử đều phải có Thầy dạy mới nên bậc hiền tài chứ không chỉ có triều Trần
      Nét đặc sắc khi hầu nhà Trần là phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn, Đức ông khi thượng đồng xiên lình hai tai và hai lình quân, Tứ vị vương tử ngự đồng lên đai thượng, xiên lình, Vương cô đệ nhị về đồng mang theo cờ kiếm,lấy dấu mặn, Đức ông về chứng. Dấu mặn dùng để chữa bệnh, trị tà, chữa điên, trấn yểm....thường là trấn yểm cho Đền to phủ lớn, trấn những vùng long mạch lớn, nếu dùng máu Thánh để trấn thì khó mà phá được. Phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn thường chỉ những người căn cao nặng mới hầu được, vì khi lên đai thượng hai người đứng hai bên kéo dây thít chặt vào cổ, mắt ngầu đỏ lộn tròng, mặt hổ phù, nhiều người không phải căn cao mà lên đai thượng chết ngay trên sập hầu. Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng chỉ Đức ông đệ tam mới lên đai thượng vì giống gông xiềng khi bị oan, tuy vậy ý nghĩa thực sự của lên đai thượng là khi lên đai thượng mặt của người hầu sẽ thành mặt hổ phù thể hiện sư uy linh, thần oai của Thánh, vì vậy không chỉ đức ông đệ tam mà tứ vị vương tử khi ngự đồng làm việc đều lên đai thượng, xiên lình. Xiên lình là hình thức của Sa man giáo, ở Việt Nam xiên lình tượng trưng cho những hiện tượng siêu nhiên, thần thông của bề trên, một số người cho rằng xiên lình do đâm vào huyệt đạo nên không chảy máu, nhưng sự thực khi hầu là xiên lung tung trên má, miệng, tai, không cứ vào huyệt đạo mà không chảy một giọt máu, tương tự như vậy, việc lấy dấu mặn, sau khi đạp vỡ, lấy mảnh sành rạch lưỡi phun máu vào bùa, nhưng khi thư hương vào chén rượu ngậm vào máu lập tức ngừng chảy
       Các vị thánh nhà Trần bao gồm:
      1.Vương phụ - vương mẫu (Vương phụ Khải thánh An Sinh, tặng phong Hiển Hoàng Khâm Minh - Đại vương. Vương mẫu An Sinh phu nhân Thiện Đạo Quốc mẫu )
      2. Đức đại vương chính cung (Cửu thiên vũ đế Trần Triều hiển thánh Thái Sư Thượng Phụ Quốc Công bình bắc đại nguyên suý Nhân Vũ Hưng Đạo đại vương thượng thượng thượng đẳng thần ): Khi ngự đồng ông mặc áo đỏ thêu rồng, hổ phù, ông làm phép sát quỷ trừ tinh, bóng đức ông khá nặng không phải đồng cựu đội lệnh nhà Trần thì không hầu được.
       3. Vương phi phu nhân (Vương Phi Thiên Thành công chúa Nguyên Từ Quốc Mẫu ).Bà mất ngày 28/9
       4. Thày dạy văn
       5. Thày dạy võ
       6. Quan Nam Tào
       7. Quan Bắc Đẩu
    8. Đức Thánh Cả (Trần triều thượng tướng. Khai quốc công Hưng Vũ đại vương Trần Quốc Nghiễn,ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, ngài ngự đồng lấy dấu máu làm bùa trừ tà sát quỷ chữa bệnh)
     9. Đức Phó Tằng (Trần triều thượng tướng. Tiết độ sứ Hưng Hiến đại vương Trần Quốc Uất, ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, ngài chuyên bắt tà ma, cắm đất tìm cốt và trị trùng)
    10. Đức Thánh Tam (Trần triều thượng tướng. Khai quốc công Hưng Hiến đại vương, Đệ tam Ông cửa suốt Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, ngài ngự đồng sát quỷ trừ tà, chữa bệnh)
     11. Đức Thánh Đệ Tứ (Trần triều thượng tướng. Khai quốc công Hưng Trí đại vương Trần Quốc Hiện, ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm )
    12. Đức Tiên cô Đệ nhất Quốc Mẫu (Trần triều Vương nữ đệ nhất Quyên Thanh công chúa Trần Thị Trinh, là vợ Vua Trần Nhân Tông, sau này cô theo vua Trần Nhân Tông tu tại Chùa Yên Tử, khi ngự đồng cô mặc áo màu đỏ, đầu đội khăn đóng, dùng khăn đỏ thắt dải buộc lên)
    13. Đức Tiên cô Đệ nhị Đại Hoàng (Trần triều Vương nữ đệ nhị Đại Hoàng công chúa Điện Súy phu nhân Trần Thị Tĩnh, khi ngự đồng cô mặc áo màu vàng, một số nơi hầu cô mặc áo màu xanh, cô làm phép trừ linh tróc tà )
    14. Lục Bộ Đức Thánh Ông ( đây là các danh tướng không mang họ Trần nhưng thuộc về công đồng Trần triều, và luôn được phối tự ở các Đền Trần Triều, các hàng lục bộ đều mặc áo đỏ, về bắt tà, đi trên than lửa, lười cày nung nóng) Gồm :
       - Điện Tiền Phò Mã Phạm Tướng Quân (Trần Triều vương tế điện suý thượng tướng quân quan nội hầu Phạm sắc phong Chiêu Cảm Hùng Văn đại vương, ngài ngự đồng khăn áo đỏ, ngài về tiễn đàn nhà Trần )
       - Tả Yết Kiêu tướng quân ( Tên thật là Phạm Hữu Thế, là tùy tướng của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn, ông có tài bơi lội như loài thủy tộc, Trần Hưng Đạo trọng dụng và đặt tên là Yết Kiêu, ông được vua Trần phong tước Trần triều Hữu tướng đệ nhất bộ đô soái thủy quân tước hầu, lễ hội của ông ngày 15/1)
       - Hữu Dã Tượng tướng quân ( ông rất giỏi huấn luyện voi, là tướng giỏi lục quân
       - Nghi Xuyên tướng quân
       - Hùng Thắng tướng quân (Vi Hùng Thắng, được sắc phong tước Quận Công
     - Huyền Do tướng quân ( Đặng Huyền Quang, tài ba võ nghệ hơn người, được vua Trần thăng tướng quân Thái úy, ông mất ngày 10/10)
       15 - Trần Triều Vương nữ tôn Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng Hậu (Bà là con gái trưởng của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Là vợ vua Trần Anh Tông. Mẹ đích của vua Trần Minh Tông)
     16 - Trần Triều Khống Bắc tướng quân An Nghĩa đại vương ( Nguyễn Chế Nghĩa, ngài văn võ song toàn, đứng đầu ban võ, ngài mất ngày 28/8).
       17. Đức Thái Bình công chúa ( Cô là con nuôi của Đức Thánh Trần, có công phục vụ nhà Trần ở vùng Thái Bình, khi ngự đồng cô mặc áo màu xanh
       18. Đức Trần Bình Trọng
      19. Cô bé Cửa Suốt (Trần triều Vương ngoại nữ tôn Tịnh Huệ công chúa, là con gái của Phạm Ngũ Lão và là thứ phi của vua Trần Anh Tông, Anh Tông hoàng đế thứ phi. Cô cùng Đức ông Đệ Tam trấn thống lĩnh ba quân thủy binh trấn giữ ngoài Cửa suốt nên gọi là cô bé cửa suốt. Khi ngự đồng cô mặc trang phục màu trắng, múa kiếm và cờ lệnh, ngày tiệc của cô là ngày 2/3 âm lịch)
      20. Cậu bé Cửa Đông ( Hiển thánh vương tôn chủ bộ tướng): Trong hệ thống thờ các vị thánh Trần triều cổ không hề có Cậu bé cửa Đông, khoảng những năm 1990 một số đồng thầy hầu giá cậu bé cửa đông theo lối hầu mới, ghép Tứ phủ với Trần triều trong một buổi ( trước đây Tú phủ và Trần Triều hầu tách các buổi khác nhau), 1 số tài liệu nói cậu là Thánh cậu trấn giữ Cửa đông, 1 số tài liệu nói Cậu là Cậu bé Quận bản Đền trong Đền cửa ông được Đức ông Đệ Tam trao quyền trấn giữ Cửa Đông, cậu được thờ ở 1 ngôi đền Mẫu gần đền cửa ông. 1 số sách cho là cậu là cháu trai của Hưng Đạo Đại Vương, bằng Cô bé Cửa Suốt, tuy vậy tài liệu không nói rõ đó là vị cháu nào của Hưng Đạo Đại Vương.Có giả thiết cho rằng cậu là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản ( là cháu nội vua Trần Thái Tông). Khi ngự đồng cậu mặc áo vàng hoặc trắng, đầu vấn khăn ngang, múa cờ và kiếm
       - Ngoài ra còn các vị tướng khác như Trần Sầm, Đỗ Hựu, Đỗ Vỹ, Đỗ Hưng, Nguyễn An, Trần Bách, Đoàn Thại, Nông Thị Tâm, Lâm Văn Cường, Trần Nhật Duật….
        - Cùng chư quan tướng hạ ban Ngũ hổ tướng quân, gồm
        Đông phương lưu diện Đại tướng thanh hổ đại thần
        Nam phương lưu chỉ Đại tướng xích hổ đại thần
       Tây phương lưu tất Đại tướng bạch hổ đại thần
       Bắc phương lưu thị Đại tướng khắc hổ đại thần
       Trung phương lưu phòng Đại tướng hoàng hổ đại thần.


         Hiện nay, tại Bảo Hà có hai Đền Cô Tân An và đều thờ bà Nguyễn Hoàng Bà Xa. Một ngôi đền nằm sâu trong rừng (thôn Tân An I) và một ngôi đền nằm sát bờ sông đối diện với đền Quan Hoàng Bảy ( Thôn Tân An 2) . Vậy lịch sử của 2 ngôi đền này ra sao, đâu là đền chính, đó là câu hỏi nhiều người muốn biết.

        Bà Nguyễn Hoàng Bà Xa là ai

        Theo sử sách chép lại, cuối đời nhà Lê (1740 - 1786), các châu Thuỷ Vĩ, Văn Bàn và nhiều nơi khác thuộc phủ Quy Hoá luôn bị giặc tràn sang cướp phá. Trước tình hình đó, triều đình cử danh tướng họ Nguyễn đưa đội quân tiến dọc sông Thao đánh đuổi bọn giặc cỏ, giải phóng Khau Bàn và xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. 


        Tương truyền rằng, khi Tướng Quân họ Nguyễn lên trấn ải vùng biên cương này đã mang theo con gái là Nguyễn Hoàng Bà Xa đi theo. Trong cuộc chiến đánh giặc, giữ gìn biên cương bà Nguyễn Hoàng Bà Xa luôn được coi là cánh tay đắc lực sát cánh cùng cha chiêu dụ các thổ ty, tộc trưởng, luyện tập binh sỹ, rèn giũa khí giới, dự trữ lương thảo, chữa bệnh cho dân lành… và sau khi vắng bóng quân giặc thì Bà lại có công lớn trong việc khẩn điền khai mỏ, xây dựng quê hương. Với lòng yêu nước, thương dân ấy, khi bà mất đi "Hương thơm còn lẫy lừng ánh hào quang sáng tỏ muôn nơi", để tưởng nhớ công lao của Bà, nhân dân trong vùng lập đền thờ tạc dạ ghi ơn.


         Bà Nguyễn Hoàng Bà Xa còn được gọi là Cô Tân An hay Cô Bảy Tân An. Như vậy, Cô Bảy Tân An là cô hầu cận Quan Hoàng Bảy chứ không phải là Cô Bảy trong Tứ Phủ Thánh Cô. Cô Bảy Tân An nơi đây còn được coi là Cô Bé Thượng Ngàn. Với quan niệm này, Cô Bảy Tân An được coi là một trong các hóa thân của Cô Bé Thượng Ngàn.

         Lịch sử của hai Đền Cô Tân An

         Trước đây, đền Cô Tân An nằm bên bờ sông đối diện với đền Quan Hoàng Bảy (tức thôn Tân An II). Đây là một ngôi đền có từ lâu, nhưng nhỏ và đơn sơ dạng nứa lá. Tuy nhiên, cơn lũ to lịch sử năm 1971 đã cuốn trôi ngôi đền. Một số người dân đã vớt được một số tượng của đền và mang về gia đình bà Nguyễn Thị Dóc (thôn Tân An I). Bà Nguyễn Thị Dóc cho rằng mình có duyên với Cô nên đã tiến hành lập đền thờ. Đền Cô Tân An tại thôn Tân An I đã ra đời là vì thế. 
        Cuối năm 2006, UBND tỉnh Lào Cai có Quyết định số 3299/QĐ-UBND công nhận Đền Cô Tân An (thôn Tân An I) là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Ngay sau khi ngôi đền được xếp hạng, UBND xã Tân An lại có "sáng kiến" xây dựng thêm một Đền Cô Tân An mới (thôn Tân An II) và đã đưa quyết định công nhận di tích cho ngôi đền tại thôn Tân An I về ngôi đền mới xây dựng Tân An II như một việc "Râu ông nọ cắm cằm bà kia".


        Như vậy, tại Tân An đã xuất hiện 2 ngôi đền Cô Tân An. Một ngôi được xây dựng tại đất mới với một số pho tượng cổ do bà con vớt được dưới sông từ ngôi đền cổ. Một ngôi được xây trên nền đất đền cũ nhưng lại toàn tượng mới. Một đền của tư nhân quản lý ( Đền Cô Tân An ở Tân An I), một đền do UBND xã quản lý ( Đền tại Tân An II). Do đó hai đền đã có sự tranh chấp về tính lịch sử và sự thừa kế sự linh thiêng của ngôi đền. Do sự tranh chấp này, năm 2009, quyết định công nhận di tích cấp tỉnh cho đền Cô Tân An I đã bị Sở Văn Hóa Lao Cai thu hồi. 


         Sau đó, các cơ quan có trách nhiệm từ tỉnh, huyện, đến xã, đã tiến hành nhiều hội thảo, hội nghị, nhiều công trình nghiên cứu khoa học và phải giải quyết những rắc rối của sự tranh chấp, những phức tạp của sự khiếu kiện, rồi cuối cùng, Đền Cô cũng được xây dựng lại bề thế, khang trang đúng vị trí, địa điểm thủa ban đầu, đúng tầm của một di tích lịch sử văn hóa. Ngày 19/3/2010 UBND tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định số 655/QĐ - UBND v/v: "Công nhận Di tích lịch sử cấp tỉnh "đối với Đền Cô Tan An tại vị trí "thôn Tân An 2", chấm dứt sự long đong nhiều năm nơi thờ tự Cô Bé Thượng Ngàn linh thiêng. 

        Đâu là đền chính của Cô Tân An

      Hiện nay, Đền Cô Tân An II (đối diện với đền Quan Hoàng Bảy qua dòng sông) và Đền Quan Hoàng Bảy có chung một Ban Quản lý của UBND xã cử và hai đền đều được tổ chức chung một lễ hội. Như vậy, nhìn theo khía cạnh này, thì đền Cô Tân An II có tính chính tắc hơn bởi tính pháp lý của chính quyền. Đền Bảo Hà hợp cùng Đền Cô Tân An II đã  trở thành "Quần thể di tích Thần vệ quốc Hoàng Bảy" là địa chỉ du lịch tâm linh của hàng vạn lượt du khách mỗi năm.



Đền Cô Tân An

         Như vậy, đền Cô Tân An II sẽ được coi là đền chính của Cô Tân An bởi đây là ngôi đền được xây dựng trên nền đất cũ của đền và được chính quyền công nhận và chịu sự quản lý của nhà nước.

       Một khảo dị khác về đền Cô Tân An
Cảnh đền Cô Tân An

       Cũng còn một tương truyền khác về Đền Cô Tân An như sau: Có một số cụ đồng cựu cho rằng đền Cô Tân An có từ trước khi cha con Ông Hoàng Bảy lên trần giữ vùng biên cương này. Ngày đó nơi đây chỉ là một miếu nhỏ thờ Mẫu Thượng Ngàn với hiện thân là La Bình Công Chúa. Đây là nơi cha con Quan Hoàng Bảy thường xuyên đến lễ mỗi khi xuất quân chiến đấu. Sau khi cha con Quan Hoàng Bảy mất, nhớ công ơn cô con gái của Quan Hoàng Bảy Nguyễn Hoàng Bà Xa nên nhân dân đã đưa bà vào phối thờ vào đền. Trải qua các thăng trầm của lịch sử, ngôi đền trở thành ngôi đền thờ chính của Nguyễn Hoàng Bà Xa.

        Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang nằm ở  xóm 14, xã Tràng Đà - Tuyên Quang, đền còn có tên khác như: Đền Thượng, đền Sâm Sơn, đền nằm dưới chân núi Dùm nên còn gọi là đền Núi Dùm, đền Mẫu Dùm....
Trước đền Mẫu Thượng là con sông Lô thơ mộng
        Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang cùng với Đền Hạ, đền Ỷ La tạo thành một cụm di tích thờ hai cô công chúa của vua Hùng là Phương Dung Công Chúa và Ngọc Lân Công Chúa tại thành phố Tuyên Quang.

        Sự tích về Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang

       Theo sách "Đại Nam nhất thống chí": Xưa có hai nàng công chúa con vua Hùng là Phương Dung và Ngọc Lân, một hôm theo xa giá đến bên bờ sông Lô (thuộc thôn Hiệp Thuận) đỗ thuyền. Nửa đêm trời mưa to, gió lớn, hai nàng đều hoá, nhân dân trong vùng lấy làm linh dị bèn lập đền thờ"… Nơi con thuyền dừng đỗ đã được bà con xây dựng thành đền Hạ. Sau này, có giặc giã, nhân dân đã mang tượng các công chúa sơ tán vào đất Ỷ La. Sau khi tan giặc giã, nhân dân khôi phục đền Hạ, đồng thời tại nơi sơ tán tượng công chúa được xây dựng thành đền Ỷ La. Còn đền Thượng ra đời sau khi có đền Hạ và đền Ỷ La. Đền Hạ được coi là đền gốc thờ chung của cả hai cô công chúa. Sau khi chia tách, đền Ỷ La thờ Phương Dung Công Chúa (cô chị) và đền Thượng thờ Ngọc Lân Công Chúa (cô em). Vì thế, ngày nay cả ba đền cùng chung lễ hội.

Một gian thờ trong đền Mẫu Thượng
       Theo các tài liệu, đền Hạ được xây dựng vào năm 1738, đền Ỷ La 1747 còn đền Thượng vào năm 1767 (có tài liệu cho rằng năm 1801). Hiện ngôi đền còn giữ được nhiều cổ vật: Một quả chuông đúc năm 1820, một chiếc khánh năm 1835, một số bức hoành phi năm 1866, 1943...
       Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang được coi là một đền thiêng và được các đời vua triều Lê,  triều Nguyễn sắc phong các mỹ tự. Hiện nay, nhà đền còn lưu giữ các đạo sắc phong vào các năm 1743, 1787, 1796, 1821, 1844,  1835, 1850, 1880, 1887, 1890, 1923 ứng với các đời vua Cảnh Hưng, Chiêu Thống, Cảnh Thịnh, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định.

Cảnh Núi Dùm
        Đền Thượng còn được coi là một trong các đền thờ chính của Mẫu Thoải. Nơi đây còn lưu truyền một sự tích về Mẫu Thoải: 
          " Mẫu Đệ Tam vốn là con gái Vua Thủy Tề, ở chốn Long Cung.  Bà kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Khi Kính Xuyên đi vắng, bà ở nhà khâu vá, chẳng may kim đâm vào tay chảy máu, lấy tấm vải lụa trắng để thấm máu. Thảo Mai, tiểu thiếp của Kinh Xuyên, vốn đã sinh lòng đố kị từ lâu, nhân cơ hội đó giấu tấm lụa đi, đến khi Kính Xuyên về, Thảo Mai lấy ra rồi vu oan cho bà ở nhà đã cắt máu thề nguyền để tư thông cùng kẻ khác. Kính Xuyên không nghe lời thanh minh, ghen tuông mù quáng, một mực bắt đóng cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà được muôn loài quý mến, dâng hoa quả nước uống cho bà. Đến một ngày kia thì bà gặp được Liễu Nghị, vốn là thư sinh quê đất Thanh Miện nhờ tập ấm cha mẹ để lại nên đèn sách chuyên cần. Hôm đó trên đường đi thi thì chẳng may bị lạc vào nơi bà bị đày ải. Thấy bà vậy, Liễu Nghị đến hỏi han, sau khi biết rõ sự tình, Liễu Nghị nhận giúp đỡ bà.  Bà đã viết thư nhờ Liễu Nghị mang về đến chốn Long Cung để vua cha thấu hêt sự tình rồi sẽ định liệu sau. Theo lời bà, Liễu Nghị ra đến sông Ngân Hán, là mái Long Giai ngoài biển Đông, thấy có cây ngô đồng, Liễu Nghị rút cây kim thoa, gõ vào cây ba lần. Tức thì gió giật mưa sa, biển động ầm ầm, giữa dòng thấy hiện lên đôi bạch xà, Liễu Nghị bèn trình bày mọi việc, đôi bạch xà vâng lệnh đưa Liễu Nghị xuống Thủy Cung. Tại đây, Liễu Nghị trao cho Vua Thủy Tề bức thư và kể hết mọi chuyện. Vua cha tức giận, sai người đi bắt Kính Xuyên và Thảo Mai, còn truyền cho Trưởng Tử Xích Lân lên đón bà về. Sau đó bà được rước về Thoải Phủ, kết duyên cùng Liễu Nghị, người được giao cho chức Quốc Tế Thủy Quan. ( Theo Bodetam.vn)"

       Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang thờ ai

      Như vậy, thần tích về các công chúa con của vua Hùng và Mẫu Thoải có sự khác nhau. Tuy nhiên, các cô công chúa Phương Dung và Ngọc Lân đã được nhân dân phong là các vị Thánh Mẫu. Do đó có thể coi hai vị công chúa của vua Hùng là hiện thân của Mẫu Thoải. Vì vậy, chúng ta có thể coi đền Thượng là đền thờ Mẫu Thoải. Như vậy, với cái tên Đền Mẫu Thượng chỉ là tên gọi phân biệt với Đền Mẫu Hạ chứ không phải đền thờ Mẫu Thượng mà thờ Mẫu Thoải các bạn nhé.

Lễ hội Đền Mẫu Thượng 

        Lễ hội rước Mẫu của ba ngôi đền: Đền Hạ, Đền Ỷ La và Đền Thượng

        Lễ hội được tiến hành hai đợt vào tháng Hai và tháng Bẩy. Lễ rước Mẫu Đền Thượng, bắt nguồn từ truyền thuyết về các Thánh Mẫu vốn là công chúa du ngoạn sông Lô mà hiển hóa về trời. Đền Hạ thờ chung, Đền Ỷ La thờ chị và đền Thượng thờ em.  Hàng năm, họ gặp nhau hai lần và cùng cáo lên trời. Khi rước bài vị Mẫu từ đền Thượng và đền Ỷ La về đền Hạ vào ngày 12-2 là một sự gặp gỡ gia đình. Trước ngày lễ trọng, cả ba đền Thượng, Hạ, Ỷ La phải sắm lễ chay, lễ mặn và làm lễ mộc dục bài vị, kiệu (tắm sạch trước khi hành lễ), chuẩn bị kiệu rước (kiệu bát cống và kiệu võng); các đồ cờ, quạt, bát biểu; thủ từ chuẩn bị giá văn, bảng văn quán tẩy cho chủ tế.
      Tối ngày 11 tháng 2 khi mọi việc chuẩn bị chu tất, chủ tế xin âm dương để xin phép được rước Mẫu đi. Khi kiệu đền Thượng và đền Ỷ La gặp nhau ở cổng đền Hạ, hai bên cúi chào nhau, rồi cùng tiến vào đền. Chủ tế ở đền Hạ ra nghênh đón. Theo thứ tự kiệu bà chị (đền Ỷ La) vào trước rồi đến bà em (đền Thượng). Lễ hợp tế diễn ra trong đêm 12. Sau đó là các trò chơi dân gian: Cờ vua, đu quay, múa lân, sư tử, hát xướng, thả đèn trời. 

       Sự linh thiêng của Đền Mẫu Thượng

      Trong sử sách còn ghi lại: Trước cuộc đánh dẹp khởi nghĩa của Nùng Văn Vân, Tổng đốc Lê Văn Đức đã làm lễ cầu đảo ở đền Thượng và đền Hạ. Chính thế, sau khi dẹp loạn xong, nhà vua ban cấp sắc phong cho hai ngôi đền và dùng những mỹ từ cao quý nhất phong tặng cho các nương thần.


( Xin cảm ơn tác giá Phù Ninh và các bạn yêu thích đền Thượng đã giúp đỡ tài liệu để tôi viết bài viết này)

        Đền Mẫu Ỷ La thuộc phường Ỷ La, thành phố Tuyên Quang được xây dựng từ triều vua Cảnh Hưng năm 1747 thờ Công Chúa Phương Dung con gái Vua Hùng. Đền Mẫu Ỷ La được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 18.3.2016.



        Sự tích về Đền Mẫu Ỷ La

       Đền Mẫu Ỷ La và Đền Hạ (Đền Tam Cờ, hay đôi khi còn gọi là đền Hiệp Thuận), Đền Thượng (Đền Mẫu Dùm) tạo thành một cụm di tích thờ 2 công chúa của Vua Hùng là Phương Dung Công Chúa và Ngọc Lân Công Chúa. 
        Theo sách "Đại Nam nhất thống chí", Thần tích về hai công chúa như sau: Xưa có hai nàng công chúa con vua Hùng là Phương Dung và Ngọc Lân, một hôm theo xa giá đến bên bờ sông Lô (thuộc thôn Hiệp Thuận) đỗ thuyền. Nửa đêm trời mưa to, gió lớn, hai nàng đều hoá, nhân dân trong vùng lấy làm linh dị bèn lập đền thờ… Tại nơi đây một ngôi đền được xây dựng đó là Đền Hạ (xây dựng năm 1738). Cũng lưu ý thêm là Ngọc Lân Công Chúa đôi khi còn gọi là Ngọc Lan Công Chúa hay  là Mai Hoa Công Chúa, Phương Dung Công Chúa  còn có tên là Quỳnh Hoa Công Chúa). Hai công chúa này được suy tôn là các Thánh Mẫu. Nhưng cũng có tài liệu cho rằng hai cô công chúa trên chính là hiện thân của con gái vua Long Vương.
       Vào triều Nguyễn, nghe tin có một đảng loạn sắp tràn vào tỉnh lỵ, dân chúng đã vác tượng Mẫu từ Đền Hạ chạy vào thôn Gốc Đa xã Ỷ La lánh nạn.  Sáng hôm sau, thay vào chỗ bức tượng là một đống mối đùn lớn, dân làng cho là điềm báo ứng. Giặc tan, họ cùng nhau xây một ngôi đền mới thờ Thánh Mẫu ngay trên mảnh đất đó. Đó chính là Đền Ỷ La ngày nay (xây dựng năm 1747). Chừng 20 năm sau, năm 1767 (có tài liệu nói 1801), đền Thượng mới bắt đầu được xây dựng từ hương nhang của Đền Hạ.


       Như vậy, sự hình thành Đền Mẫu Ỷ La và Đền Thượng đều bắt nguồn từ Đền Hạ (còn gọi là đền Hiệp Thuận), cùng thờ hai công chúa của Vua Hùng. Trong quan niệm dân gian, Đền Mẫu Ỷ La là nơi “lánh nạn” của các công chúa, là nơi có địa thế linh thiêng chở che Thánh Mẫu, là nơi có khả năng bảo toàn cái Thiện, cho nên lễ hội Đền Thượng và Đền Hạ không tách rời Đền Mẫu Ỷ La. Hai vị Thánh Mẫu đều được thờ phụng ở 3 ngôi đền. Nhưng Đền Mẫu Ỷ La được chọn là nơi khởi kiệu, Đền Hạ là nơi hợp tế đều có những nguyên do lịch sử và tín ngưỡng dân gian.


        Hàng năm, xuân thu nhị kỳ vào trung tuần tháng 2 và tháng 7 (âm lịch), lễ rước Kiệu Mẫu bắt đầu từ Đền Mẫu Ỷ La ra Đền Hạ, rồi tiếp đến lễ rước Kiệu Mẫu từ Đền Thượng qua sông về Đền Hạ để cùng hợp tế. Nghi thức uy nghi, có đầy đủ già trẻ gái trai và khách thập phương tham dự. Người rước Kiệu Mẫu phải là những nam thanh, nữ tú xứ Tuyên. Kèm theo lễ rước là múa lân, kết hợp dàn nhạc với lời ca. Những năm Đền được vua ban cấp sắc phong, nhân dân tổ chức lễ đón nhận long trọng, đông vui.


         Đền Thượng, Đền Mẫu Ỷ La tạo nên một không gian văn hóa độc đáo của xứ sở lâm tuyền. Song nghi thức lễ hội Đền Mẫu Ỷ La cũng có những nét riêng, ngoài việc thờ cúng Thánh Mẫu còn thờ cúng Thổ công, thờ Thành Hoàng Làng, tế các danh nhân và nạn nhân lịch sử ở địa phương, lễ cầu tự, cầu mưa... Chẳng hạn như lễ Giỗ Trận vào ngày 16 tháng Chạp hàng năm của nhân dân xã Ỷ La tưởng nhớ 86 người thiệt mạng trong một vụ thảm sát của giặc Cờ Đen ở thôn Đồng Khán cuối thế kỷ XIX. Ngoài lễ thờ Thánh Mẫu, người xưa cũng dành phần hương hoả cho hai ông họ Nguyễn có công sáng lập đền, đó là Nguyễn Thứ và Nguyễn Huy Côn.


        Đền Mẫu Ỷ La còn để lại nhiều di sản vô giá. Trong đền hiện còn giữ được 2 quả chuông cổ và 16 tượng cũ, các đồ tế khí bằng đồng, sành sứ, các hoành phi câu đối, đề từ, sắc phong và thần phả. Nhưng đáng chú ý nhất là những di sản văn hóa phi vật thể. Đền còn lưu giữ được 6 bản sắc phong của 4 ông vua Triều Nguyễn như Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định phong cho Đền Mẫu Ỷ La. Nội dung các sắc phong đều đề cao công đức của Thần đã giúp nước, trợ dân sống an lành hạnh phúc và ban tặng cho các Mẫu những mỹ tự cao quí. Chẳng hạn:
      - Sắc phong của vua Đồng Khánh năm 1887 là “Dực Bảo Trung Hưng”;
      - Sắc phong của vua Thành Thái năm 1890 là “Tề Thục Trung Đẳng Thần”;
      - Sắc phong vua Duy Tân năm 1909 là " Hiệp Thuận Trinh Ý Minh Khiết Tĩnh Quyên Nhàn Uyển Trai Thục Dực Bảo Trung Hưng Phương Anh Phu nhân trung đẳng Thần"; 
     - Sắc phong của vua Khải Định năm 1923 là: “Linh Thuý Trung Đẳng Thần”.

      Lưu ý thêm về các đền Mẫu Tuyên Quang

      Như vậy, Đền Mẫu Ỷ La cùng với Đền Hạ, Đền Thượng tạo thành một cụm di tích cùng thờ hai chị em công chúa của vua Hùng là Phương Dung Công Chúa và Ngọc Lân Công Chúa. Hai công chúa này được coi là Thánh Mẫu và trở thành thần chủ của các ngôi đền trên. Ngoài ra, Đền Mẫu Ỷ la còn được coi là nơi thờ chính của Cô Tư Ỷ La. Cô Tư Ỷ là được coi là thánh cô hầu cận Mẫu Thượng Ngàn. Đền Thượng còn được coi là một trong các nơi thờ chính của Mẫu Đệ Tam (Mẫu Thoải). Sự tích Mẫu Thoải tại đền Thượng như sau:
       " Mẫu Đệ Tam vốn là con gái Vua Thủy Tề, ở chốn Long Cung.  Bà kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Khi Kính Xuyên đi vắng, bà ở nhà khâu vá, chẳng may kim đâm vào tay chảy máu, lấy tấm vải lụa trắng để thấm máu. Thảo Mai, tiểu thiếp của Kinh Xuyên, vốn đã sinh lòng đố kị từ lâu, nhân cơ hội đó giấu tấm lụa đi, đến khi Kính Xuyên về, Thảo Mai lấy ra rồi vu oan cho bà ở nhà đã cắt máu thề nguyền để tư thông cùng kẻ khác. Kính Xuyên không nghe lời thanh minh, ghen tuông mù quáng, một mực bắt đóng cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà được muôn loài quý mến, dâng hoa quả nước uống cho bà. Đến một ngày kia thì bà gặp được Liễu Nghị, vốn là thư sinh quê đất Thanh Miện nhờ tập ấm cha mẹ để lại nên đèn sách chuyên cần. Hôm đó trên đường đi thi thì chẳng may bị lạc vào nơi bà bị đày ải. Thấy bà vậy, Liễu Nghị đến hỏi han, sau khi biết rõ sự tình, Liễu Nghị nhận giúp đỡ bà.  Bà đã viết thư nhờ Liễu Nghị mang về đến chốn Long Cung để vua cha thấu hêt sự tình rồi sẽ định liệu sau. Theo lời bà, Liễu Nghị ra đến sông Ngân Hán, là mái Long Giai ngoài biển Đông, thấy có cây ngô đồng, Liễu Nghị rút cây kim thoa, gõ vào cây ba lần. Tức thì gió giật mưa sa, biển động ầm ầm, giữa dòng thấy hiện lên đôi bạch xà, Liễu Nghị bèn trình bày mọi việc, đôi bạch xà vâng lệnh đưa Liễu Nghị xuống Thủy Cung. Tại đây, Liễu Nghị trao cho Vua Thủy Tề bức thư và kể hết mọi chuyện. Vua cha tức giận, sai người đi bắt Kính Xuyên và Thảo Mai, còn truyền cho Trưởng Tử Xích Lân lên đón bà về. Sau đó bà được rước về Thoải Phủ, kết duyên cùng Liễu Nghị, người được giao cho chức Quốc Tế Thủy Quan. ( Theo Bodetam.vn)"
        Theo truyền thuyết này thì Mẫu Thoải đã được phát tích ở vùng đất Tuyên Quang linh thiêng. Đền Thượng đã trở thành một trong các nơi thờ chính của Mẫu Thoải.

    (Bài viết có sử dụng tài liệu của các nhà nghiên cứu Trương Đức Tiến và Trần Mạnh Tiến và các tài liệu khác)



        Mẫu Đệ Tam còn gọi là Mẫu Thoải. Chữ Thoải là đọc chệch của chữ Thủy. Mẫu Thoải tức là Mẫu Thủy hay còn gọi là Thủy Cung Thánh Mẫu. Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn đã ra đời từ rất lâu trước cả Mẫu Liễu Hạnh. Trong Tam Tòa Thánh mẫu, Mẫu Thoải đứng thứ ba. Vậy Mẫu Thoải là ai, đây là câu hỏi rất nhiều người quan tâm.

Đền Mẫu Thoải - Lạng Sơn

       Mẫu Thoải cùng như Mẫu Thượng Ngàn có nhiều thần tích khá khác nhau, không được thống nhất như Mẫu Liễu Hạnh. Dưới đây người viết liệt kê một số truyền thuyết về thân thế của Mẫu Thoải để các bạn tham khảo.

     1. Các truyền thuyết Mẫu Thoải là con gái vua Thủy Tề (Long Vương)

       Có hai truyền thuyết Mẫu Thoải xuất thân là con gái của Long Vương:

            Truyền thuyết từ vùng Thái Bình, Nghệ An: Từ thủa hồng hoang, thời mở mang đất nước, vua Kinh Dương Vương đi chu du khắp nơi. Rồi một ngày kia, nhà vua gặp một người con gái nhan sắc tuyệt trần và đã lấy nàng làm vợ. Nàng chính là con gái của Long Vương. Sau này bà đã sinh ra Sùng Lãm chính là vua Lạc Long Quân.  Vì nàng là con gái Long Vương nên được làm nhiệm vụ cai quản vùng sông biển, ao hồ. 
         Truyền thuyết tại vùng Nghệ An cho biết thêm hai người đã gặp nhau bên bờ sông Lam ngày nay, ngày xưa gọi là sông Thanh Long.

Đền Mẫu Sòng Sơn - Thanh Hóa

         Truyền thuyết Mẫu Thoải ở đền Dùm - Tuyên Quang:  Theo  truyền thuyết này thì Mẫu Thoải cũng xuất thân là con gái của Vua Thủy Tề, nhưng không thấy nhắc đến hai vợ chồng sinh ra Lạc Long Quân:

    Mẫu Đệ Tam vốn là con gái Vua Thủy Tề, ở chốn Long Cung.  Bà kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Khi Kính Xuyên đi vắng, bà ở nhà khâu vá, chẳng may kim đâm vào tay chảy máu, lấy tấm vải lụa trắng để thấm máu. Thảo Mai, tiểu thiếp của Kinh Xuyên, vốn đã sinh lòng đố kị từ lâu, nhân cơ hội đó giấu tấm lụa đi, đến khi Kính Xuyên về, Thảo Mai lấy ra rồi vu oan cho bà ở nhà đã cắt máu thề nguyền để tư thông cùng kẻ khác. Kính Xuyên không nghe lời thanh minh, ghen tuông mù quáng, một mực bắt đóng cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà được muôn loài quý mến, dâng hoa quả nước uống cho bà. Đến một ngày kia thì bà gặp được Liễu Nghị, vốn là thư sinh quê đất Thanh Miện nhờ tập ấm cha mẹ để lại nên đèn sách chuyên cần. Hôm đó trên đường đi thi thì chẳng may bị lạc vào nơi bà bị đày ải. Thấy bà vậy, Liễu Nghị đến hỏi han, sau khi biết rõ sự tình, Liễu Nghị nhận giúp đỡ bà.  Bà đã viết thư nhờ Liễu Nghị mang về đến chốn Long Cung để vua cha thấu hêt sự tình rồi sẽ định liệu sau. Theo lời bà, Liễu Nghị ra đến sông Ngân Hán, là mái Long Giai ngoài biển Đông, thấy có cây ngô đồng, Liễu Nghị rút cây kim thoa, gõ vào cây ba lần. Tức thì gió giật mưa sa, biển động ầm ầm, giữa dòng thấy hiện lên đôi bạch xà, Liễu Nghị bèn trình bày mọi việc, đôi bạch xà vâng lệnh đưa Liễu Nghị xuống Thủy Cung. Tại đây, Liễu Nghị trao cho Vua Thủy Tề bức thư và kể hết mọi chuyện. Vua cha tức giận, sai người đi bắt Kính Xuyên và Thảo Mai, còn truyền cho Trưởng Tử Xích Lân lên đón bà về. Sau đó bà được rước về Thoải Phủ, kết duyên cùng Liễu Nghị, người được giao cho chức Quốc Tế Thủy Quan. ( Theo Bodetam.vn)

       Trong văn thỉnh Mẫu Thoải cũng có một đoạn nhắc đến giai thoại này:

“Thỉnh mời Đệ Tam ThánhTiên 
Xích Lân Long Nữ ngự miền Thoải Cung 
Kính Xuyên sớm kết loan phòng 
Thảo Mai tiểu thiếp ra lòng gieo oan 
Kinh Xuyên chẳng xét ngay gian 
Vàng mười nỡ để lầm than sao đành 
Lòng trời thương kẻ ngay lành 
Xui quan Liễu Nghị nho sinh tìm vào…” 

      Theo truyền thuyết này, có lẽ dân gian vẫn nói người con gái gian giảo là "thảo mai" chắc là xuất xứ từ sự gian giảo của nàng Thảo Mai trong câu chuyện này.

     2. Truyền thuyết Mẫu Thoải là vợ của Vua Thủy Tề

        Ở làng Viêm Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Mẫu Thoải được thờ là Thành hoàng và có sắc thượng phong đề "Nhữ Nương Nam nữ Nam Hải Đại Vương".Theo thần phả của làng: Mẫu Thoải là vợ của vua Thủy Tề, là Hoàng hậu ở dưới Thủy cung. Vua Thủy Tề trông coi các việc ở biển, còn Mẫu trông coi các việc ở sông, suối. Do sông suối có ở khắp nơi nên Mẫu cũng có mặt ở khắp nơi, nhất là tại các bến sông lớn. 

      3. Truyền thuyết Mẫu Thoải là hóa thân của 3 công chúa của Lạc Long Quân và Âu Cơ

     Theo thuyết này, Lạc Long Quân đã giao cho 3 công chúa cai quản sông biển nước nam là:Thủy tinh Động đình Ngọc nữ Công chúa, Hoàng Bà Đoan khiết Phu nhân và Tam giang Công chúa. Ba bà đóng dinh cơ ở sông Nguyệt Đức và có nhiệm vụ coi sóc các sông nước, luồng lạch, dạy dân chế tạo thuyền bè và đan các thứ lưới bắt cá, chế ngự các vị thần mưa, thần gió mỗi khi các vị này xâm hại đến hạ giới. Các Mẫu còn làm mưa và giúp dân chống lụt.

      Bình luận thêm của người viết: Truyền thuyết Mẫu thoải là Công chúa của Vua Thủy Tề được lưu truyền rộng rãi khắp nước hơn, còn truyền thuyết Mẫu Thoải là hoàng hậu thì chỉ giới hạn ở một làng. Truyền thuyết Mẫu Thoải là hóa thân của 3 công chúa của Lạc Long Quân không phải là thuyết thuyết phục lắm bởi cai quản sông biển ao hồ là của Hoàng cung Thủy Tề.
       Nếu vậy, truyền thuyết về Mẫu Thoải là con gái của Vua Thủy Tề ( Long Vương) có lẽ hợp với tục thờ Mẹ Sông Nước trong tín ngưỡng thờ Mẫu của dân tộc Việt Nam từ muôn đời nay,

      Các đền thờ Mẫu Thoải nổi tiếng: Đền Mẫu Sòng Sơn - Thanh Hóa, Đền Mẫu Thoải - Lạng Sơn, Đền Mẫu Thoải ( Đền Ghềnh ) - Gia Lâm - Hà Nội, Đền Mẫu Thác Hàn Sơn - Hà Trung, Thanh Hóa; đền Thượng - Tuyên Quang....


      Mẫu Thượng Ngàn còn gọi là Mẫu Đệ Nhị hay Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn bởi Mẫu đứng thứ hai trong Tam Tòa Thánh Mẫu. Mẫu Thượng Ngàn là ai, nguồn gốc của Mẫu thế nào chắc chắn là điều rất nhiều người quan tâm.

      Với Mẫu Liễu Hạnh thì thần tích khá rõ ràng, còn với Mẫu Thượng Ngàn với mỗi tên gọi thường đi kèm một sự tích khác nhau. Mẫu Thượng Ngàn có rất nhiều tên gọi như: Diệu Tín Thiền sư, Lê Mại Đại Vương, Đông Cuông Công chúa, Lâm Cung Thánh mẫu, Mẫu Đệ nhị Nhạc Phủ, Sơn Tinh công chúa... 


Đền Thượng Suối Mỡ thờ Mẫu Thượng Ngàn
       Mẫu Thượng Ngàn được thờ chủ yếu tại vùng rừng núi.  Có thể nói, ở đâu có rừng núi thì ở đó có đền thờ Mẫu Thượng Ngàn. Có ba nơi được coi là nơi thờ chính là Bắc Lệ (Lạng Sơn), Suối Mỡ (Bắc Giang) và Đông Cuông (Yên Bái). Tuy vậy, ba nơi nàylại lưu giữ những truyền thuyết có phần khác nhau về Mẫu Thượng Ngàn.

        Lý giải về tên gọi khác nhau của Mẫu Thượng Ngàn

       Mẫu Thượng Ngàn có nhiều tên gọi khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc của Mẫu, địa danh đền của Mẫu, sắc phong của các triều đại phong kiến:
      -  Mẫu Đông Cuông được gọi theo địa danh Đông Cuông nơi ngôi đền ngự.
      -  Diệu Tín Thiền sư là cách gọi khi Mẫu đã đắc đạo chân như nhà Phật.
      -  Lê Mại Đại Vương theo sắc phong của vua Lê.
     -  Mỵ Nương Quế Hoa Công chúa, La Bình công Chúa theo tên gọi của nguồn gốc xuất thân.
      - Lâm Cung Thánh Mẫu có thể là tên gọi khi hiển thánh tại đền Đông Cuông.

      Đâu là đền chính của Mẫu Thượng Ngàn

      Trong các ngôi đền thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn như: Đền Đông Cuông, đền Suối Mỡ, đền Bắc Lệ thì đền Đông Cuông là nơi Mẫu được vua Lê sắc phong Lê Mại Đại Vương.  Nếu đặt trong tương quan so sánh với đền Bắc Lệ và Suối Mỡ thì đền Đông Cuông rõ ràng có vị trí quan trọng nhất, là nơi thờ chính Mẫu Thượng ngàn. Tuy nhiên, điều kì lạ là khi nhắc đến các nơi thờ Chúa Sơn trang, người ta lại biết đến đền Bắc Lệ và đền Suối Mỡ nhiều hơn. 


Đền Trung Suối Mỡ 
        Như vậy, căn cứ theo truyền thuyết và các bản văn chầu thì đền Bắc Lệ chính là nơi Lâm Cung Thánh Mẫu hiển linh, âm phù; đền Suối Mỡ là thắng tích lưu lại dấu vết bà tu tiên luyện đạo còn đền Đông Cuông (Yên Bái) là nơi bà giáng sinh và ngự.
      

         Sự tích về Mẫu Thượng Ngàn tại đền Suối Mỡ

        Mẫu Thượng Ngàn được thờ ở Suối Mỡ là Mỵ Nương Quế Hoa công chúa, con của Vua Hùng Định Vương và hoàng hậu An Nương. Hoàng hậu sinh ra nàng bên gốc quế rồi mất. Lớn lên, Quế Hoa luôn nhớ thương mẹ nên đã đi vào rừng sâu để tìm dấu vết người mẹ hiền. Nàng được tiên ông ban cho phép thuật nên đã cùng 12 thị nữ ra sức tu tiên luyện đạo, cứu giúp dân lành. Khi nhân dân các bản mường đã có cuộc sống no ấm, Mỵ Nương Quế Hoa cùng 12 thị nữ bay về trời trên đám mây ngũ sắc. 


Đền Hạ Suối Mỡ nơi thờ Quế Hoa Công Chúa
        Tại khu du lịch tâm linh Suối Mỡ có 3 ngôi đền Đền Hạ - còn gọi là đền Công Đồng Suối Mỡ, đền Trung và đền Thượng đều là nơi thờ của Quế Hoa Công Chúa.

        Sự tích Mẫu Thượng Ngàn ở đền Bắc Lệ

         Ở đền Bắc Lệ lại lưu truyền câu chuyện Mẫu Thượng ngàn là công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh, cháu ngoại vua Hùng. Nàng thường cùng với cha đi chu du các bản mường, hang động, giúp cho cuộc sống dân lành được sung túc. . Vào thời Lê, bà đã hiển linh, âm phù, hóa thành bó đuốc dẫn quan quân Lê Lợi thoát khỏi sự truy kích của quân giặc. Công cuộc bình Ngô đại thắng, Lê lợi lên làm vua và cho dựng đền Bắc Lệ để ghi nhớ công ơn của bà. 


Đền Bắc Lệ
        Dưới đây là tóm tắt về thân thế của La Bình Công Chúa:

      La Bình Công chúa là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và Mỵ Nương. Tức La Bình là cháu ngoại của Vua Hùng. Lúc còn nhỏ, La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng để dậy dân săn bắn, chăn nuôi, trồng cây, cấy lúa, làm nhà, làm thuốc chữa bệnh... Đó luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều. Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Tinh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc. Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh. 
     Khi Tản Viên và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là Công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.

      Sự tích Mẫu Thượng Ngàn ở đền Đông Cuông

        Ở đền Đông Cuông, hình tượng Chúa Thượng ngàn cai quản 81 cửa rừng có sự pha trộn, chồng lớp bởi rất nhiều truyền thuyết ở các thời đại khác nhau. Theo truyền tụng, đây vốn là một ngôi miếu nhỏ thờ thần núi thần rừng có từ thời Đường. Ngôi miếu này trở thành đình vào thời Lê và đến triều Nguyễn thì đổi thành đền. Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” thì ngôi miếu này thờ Đông Quang công chúa nổi tiếng anh linh. Bà là vợ đại vương núi Sơn Vi nay thuộc Lâm Thao- Phú Thọ. 
      Thần tích của họ Hà giải thích tường tận, chi tiết hơn về nhân vật được phụng thờ ở đây: Đông Quang Công chúa là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ của ông Hà Văn Thiên, người Tày Đông Cuông được triều đình giao cho cai quản Đông Cuông. Ông Thiên, hậu duệ của Hà Đặc Hà Bổng (trại chủ Quy Hóa) bị hi sinh trong chiến tranh chống quân Nguyên. Ông bà sinh hạ được 1 đứa con trai. Khi ông tạ thế, bà Kiểm cùng con trai ở lại Đông Cuông rồi mất tại đấy. Dân lập miếu thờ ông bên Ghềnh Ngai (hữu ngạn sông Hồng) và thờ hai mẹ con bên tả ngạn, đối diện với miếu. Người mẹ Rừng chung chung, đến đây đã được lịch sử hóa, gắn với lai lịch cụ thể của một con người trần thế. 
       Những người họ Hà cho rằng ông Hà Văn Thiên- người được vua cử lên quản lí vùng Đông Cuông là ông tổ của họ. Vậy thì việc thờ ông Hà Văn Thiên (tức Đức Ông) ở Ghềnh Nhai và thờ bà Lê Thị Thiết cùng con trai ở đền Đông Cuông chính là biểu hiện của tín ngưỡng thờ thành hoàng, thờ tổ tiên đã hòa nhập vào với tín ngưỡng thờ Mẫu. 
      Ngoài phần hậu cung đã có sự phối thờ Vua Me- Vua Báo (Vua Mẹ- Vua Con) các phần khác trong kiến trúc điện thờ của bản đền cũng có sự pha trộn rõ nét: Ngũ vị tôn ông không chỉ là năm vị quan Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ và Đệ Ngũ mà đã được đồng nhất với năm người Tày họ Hà, Hoàng, Lương, Nguyễn quê ở Đông Cuông đã nổi dậy chống Pháp năm Giáp Dần (1914) nhưng thất bại. Hai anh em Hà Bặc, Hà Chương- những anh hùng có công lớn trong cuộc chiến đấu chống quân Nguyên Mông cũng được thờ ở đây. Chính vì vậy đền Đông Cuông còn có tên là Đền Thần Vệ quốc theo sắc phong của triều đình Nguyễn. Rõ ràng, xuất xứ của bản đền là thờ nhiên thần trong đó có Mẹ Rừng nhưng theo thời gian lớp tín ngưỡng này đã có sự pha trộn, thậm chí là bị che phủ bởi các tín ngưỡng khác nhau. Huyền tích về Lâm Cung Thánh Mẫu được lịch sử hóa, địa phương hóa để thỏa mãn nhu cầu tình cảm của nhân dân. 
       Như vậy, nếu Mẫu Thượng Ngàn ở Bắc Lệ (Lạng Sơn) là công chúa Quế Hoa, ở Suối Mỡ (Bắc Giang) là Công Chúa La Bình thì ở Đông Cuông, Mẫu Thượng ngàn là Lâm Cung Thánh Mâu  vừa là bậc tôi tú anh linh, quyền cao tối thượng vừa gần gũi, bình dị trong hình hài một người vợ, người mẹ trần thế có lai lịch, gốc tích rõ ràng. 
    Trong niềm tin tâm linh của những con nhanh đệ tử đạo Mẫu thì đền Đông Cuông có vị trí vô cùng quan trọng, là nơi ngự chính và nơi giáng sinh của Mẫu Thượng ngàn.

        Sự linh thiêng của Mẫu Thượng Ngàn

      Người ta cho rằng chiến công của nhiều triều đại Việt Nam có sự phù hộ của Mẫu Thượng Ngàn. 
     Truyền thuyết về sự sắc phong của Vua Lê Lợi: Thời đầu khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn bị vây khốn ở Phản Ẩm. Khi tình thế nguy cấp. Mẫu Thượng Ngàn đã hóa thành ngọn đuốc lớn, soi đường quân sĩ thoát vây. Với sự che chở của Mẫu Thượng Ngàn, sau này nghĩa quân của Vua Lê Lợi ngày càng lớn mạnh. Chính vì thế, sau này vua Lê Lợi đã phong bà là Lê Mại Đại vương.
        
        (Bài viết có tham khảo và lược trích tài liệu của ThS. Nguyễn Thị Hường)

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Follow by Email

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.