bài viết trong chuyên mục "TỬ VI ĐẨU SỐ PHÚ GIẢI"

Hiển thị các bài đăng có nhãn TỬ VI ĐẨU SỐ PHÚ GIẢI. Hiển thị tất cả bài đăng

2.THIÊN KHÔNG PHÙNG HOẢ LINH DO NHƯ BÁN THIÊN TRIẾT TRIỆU Cung Mệnh an tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu có Thiên Không toạ thủ gặp Hoả, Linh hội hợp là người anh hùng gan góc trầm tĩnh công danh bên như diều gặp gió nhưng thường bị gẫy cánh lưng chừng.
3. MỆNH KHÔNG HẠN KHÔNG VÔ CÁT TÂU CÔNG KHANH TẰNG TRỪNG Cung Mệnh có Thiên Không toạ htủ hạn gặp Địa Không hoặc Mệnh có Địa Không toạ thủ gặp Thiên Không dù được nhiều Cát Tinh hội hợp công danh vẫn trắc trở chẳng được xứng ý toại lòng.
4. KIM LÝ PHÙNG KHÔNG BẤT PHIÊU LƯU TẮC ĐA TẬT KHỔ Cung Mệnh vô chính diệu gặp Thiên Không toạ thủ hay xung chiếu nếu không được đa Quý Tinh hội hợp thời bôn ba nay đây mai đó hoặc phải mang bệnh tật, nghèo khổ.
5. HẠNG VŨ ANH HÙNG HẠN NGỘ THIÊN KHÔNG NHI TÁNG QUỐC Anh hùng như Sở Bá Vương Hạng Vũ hạn gặp Thiên Không sự nghiệp cũng tan vỡ phải tự vận Ô Giang.
6. VẬN NGỘ THIÊN KHÔNG ĐỊA KIẾP NGUYỄN TỊCH HỮU BẦN CÙNG CHI KHỔ Đại, Tiểu Hạn gặp Thiên Không, Địa Kiếp rất xấu như Nguyễn Tịch làm cảnh nghèo nàn đói khổ.
7. THIÊN KHÔNG HOÁ KỴ TỐI KỴ QUAN CUNG NHI PHÙNG ÂM DƯƠNG PHẢN BỐI CÔNG DANH VÂN TUẾ TẤT THÀNH Cung Quan Lộc rất kỵ gặp Thiên Không, Hoá Kỵ, nếu an tại Thìn, Tuất gặp Nhật, Nguyệt, Hãm Địa toạ thủ lại thành sáng sủa tốt đẹp nhưng về già mới thành đạt.
8. RIÊU TẠI HỢI VI MINH MẪN Cung Mệnh an tại Hợi có Riêu toạ thủ là người thông minh sáng suốt.
9. RIÊU ĐÀ KỴ KẾ GIAO HỌA VÔ ĐƠN CHÍ Riêu, Đà, Kỵ ở liền ba cung Tỵ, Ngọ, Mùi mà cung Mệnh Thân an ở mt torng ba cung ấy thì gặp hoạn nạn liên miên.
10. HẠN PHÙNG RIÊU HỔ KHÁ NGỪA NHỮNG LOÀI ÁC THÚ PHẢI XA CHỚ GẦN Hạn gặp Thiên Riêu, Bạch Hổ thì nên đề phòng ác thú.
11. HẠN PHÙNG RIÊU HỶ ĐÀO HỒNG, GÁI TRAI TƠ TƯỞNG NHỮNG LÒNG DÂM PHONG Hạn gặp Đào, Hồng, Hỷ, Riêu tất trai gái đều nghĩa đến sữ đâm cuồng xác thịt.
12. RIÊU TƯỚNG MỘC KÌNH KHOA SÁT Ư LÃO HẠN DĨ TẮC DÂM LOẠN VÔ HẬU Về già Hạn gặp Riêu, Tướng (Tướng Quan hoặc Thiên Tướng) Mộc, Khoa và Sát Tinh hội hợp thời lòng xuân chưa hết còn tơ tưởng đến chuyện ttrai gái dâm đãng như Võ Hậu.
13. THIÊN RIÊU CƯ TÀI BẠCH HOẠ ĐỔ SINH ƯƠNG Cung Tài Bạch có Thiên Riêu toạ thủ  là người ham mê tửu sắc, cờ bạc mà sinh họa.
14. THIÊN RIÊU, THIÊN HỶ ĐA CHIÊU QUÁI DỊ CHÍ TAI Cung Mệnh có Thiên Riêu, Thiên Hỷ toạ thủ đồng cung hay xung chiếu là người bị nhiều tai vạ quái ác.

TỬ VI ĐẨU SỐ PHÚ GIẢI - 32


                              
 Tam hợp Nam phái

1)- Phái Trung Châu

- Khởi nguồn: Khởi nguồn ở Lạc Dương, tổ sư là Bạch Ngọc Thiền và Ngô Cảnh Loan, theo truyền thuyết, phái này mỗi đời chỉ thu nhận một đệ tử và truyền miệng khẩu quyết cho nhau. Mãi cho đến khi Vương Đình Chi công khai sở học, mới gọi là phái Trung Châu. Trước Vương Đình Chi, có một phân chi là Lục Bân Triệu.

Ở Hương Cảng hai chi phái Tử Vi Đẩu Số mà người ta rất quen thuộc, đó là chi phái Lục Bân Triệu và chi phái Vương Đình Chi. Tuy Vương Đình Chi từng phát biểu các nghiên cứu của mình và trước tác khá nhiều, nhưng hiếm ai tự xưng mình là truyền nhân của phái Trung Châu Vương Đình Chi.

Ngược lại, truyền nhân của phân chi Lục Triệu Bân thì có rất nhiều phân chi. Nhưng bất luận thế nào, đối với giới nghiên cứu Tử vi Đẩu Số ở Hương Cảng và Đài Loan, phần lớn đều không xa lạ gì học thuyết của phái Trung Châu Vương Đình Chi.

- Đặc điểm: Lục Bân Triệu thì được chân truyền Khâm Thiên Giáp bí cấp, còn Vương Đình Chi thì nổi danh với Tử Vi tinh quyết. Nhưng vì chưa có ai trực tiếp nhìn thấy hai bản bí kíp được gọi là "khẩu khẩu tương truyền" này, cho nên người ta chỉ có thể lần dấu vết của chúng trong các trước tác của họ.

Phái Trung Châu chú trọng tính chất các sao và cách - cục tình của sao, khi luận vận mệnh yêu cầu người ta phải có năng lực suy lý. Thí dụ như, một hệ thống sao gặp một hệ thống sao khác thì sẽ sinh ra biến hóa; phương pháp luận vận mệnh là phải từ những biến hóa này mà suy diễn ra.

Nói một cách khái quát, lý luận của phái Trung Châu khá gần với lý thuyết trong thư tịch truyền thống là Tử Vi Đẩu Số toàn thưTử Vi Đẩu Số toàn tập. Nhưng phái Vương Đình Chi ngoài việc nghiên cứu sâu cách - cục tình của sao, còn vận dụng Tứ Hóa đa dạng hơn so với phương pháp truyền thống.

Ngoại trừ lý luận "các hệ thống sao liên quan mật thiết với nhau", bộ sao Tứ Hóa của các can Canh, Mậu và Nhâm cũng khác với truyền thống. Còn các sao lưu niên như: Văn xương, Văn khúc, Hồng loan, Kình dương, Đà la và Lộc tồn, Thiên mã, .v.v... cách vận dụng cũng khác nhiều.

2)- Phái Tử Vân

- Khởi nguồn: Tử Vân trước bái lão sư họ Hà làm thầy, về sau dựa vào các thư tịch mà tự nghiên cứu, sau 30 năm nỗ lực nghiền ngẫm, rồi tự lập thành môn phái. Các trước tác nghiên cứu của ông cũng được giới nghiên cứu Đẩu Số hoan nghênh.

- Đặc điểm: Tử Vân tự sáng tạo lý luận như "Tam đại luận", "Thái tuế nhập quái luận", "Thái tuế cung vị luận". Trong đó "Tinh bàn hỗ động" của "Thái tuế nhập quái" là chưa từng xuất hiện trong khoa Tử Vi Đẩu Số truyền thống, nhưng có lưu truyền trong hệ phái Phi tinh. Cho nên, lý luận của hệ phái Tử Vân, có thuyết là do ông tự sáng tạo, có thuyết là do ông mượn bí truyền của phái khác rồi cải biên lại. Bất luận là như thế nào, lý luận của ông đều được xây dựng trên cơ sở của phái Tam Hợp truyền thống, tức là Tử Ví Đẩu Số toàn thưTử Vi Đẩu Số toàn tập.

3)- Phái Hiện Đại

- Khởi nguồn: Nhân vật đại biểu của phái hiện đại là Liễu Vô cư sỹ. Liễu Vô cư sỹ vốn là đệ tử của Tử Vân, nhưng vì ông kiên trì với lý luận của mình, nên tự sáng lập thành một phái riêng. Từ tháng 4/1985, ông cùng với nhóm 8 người, gồm Hứa Hưng Trí, Tuệ Canh thuật sỹ, Lạc Đà Sinh, Quách tiên sinh, Thái Quân Siêu, Phổ Giang Đăng Chi, Nam Ngư, và Phi Vân cư sỹ xuất bản cuốn Hiện Đại Tử Vi, từ đó tiếng tăm của phái Hiện Đại Tử Vi không ngừng lan rộng.

- Đặc điểm: Liễu Vô cư sỹ phản đối phương pháp gộp Tử Vi và Tử Bình lại với nhau để cùng tham chiếu, đề xướng trả Tử Bình về với Tử Bình, trả Tử Vi về với Tử Vi, phản đối mang "Thần sát" và "Quan sát" vào Đẩu Số, rất khác với quan niệm "tập đại thành các nhà" của sư phụ ông là Tử Vân. Do ông giữ vững quan niệm của mình, cho nên được nhiều người ủng hộ. Cũng giống như Vương Đình Chi, Liễu Vô cư sỹ rất thích bình chú cổ tịch, cho rằng Tử Vi Đẩu Số là nằm hết trong các trước tác của tiền nhân.

4)- Phái Thiên Cơ

- Khởi nguồn: Thiên Cơ thượng nhân Hoàng Xuân Lâm là người sáng lập ra tuyệt học của phái Thiên Cơ, đó là thuyết Đẩu Số hỷ kị thần, của Mật Tông Bí Truyền và lý luận về "Hỷ Khí". Chỉ dựa vào tên của môn phái, thì có thể liên quan tới thuật tinh chiêm của Mật Tông đã lưu truyền cả ngàn năm. Nếu quả thật như vậy, thì sự truyền thừa của Thiên cơ thượng nhân có thể nói là đã có một lịch sử lâu đời.

- Đặc điểm: Lấy lý luận Tam hợp truyền thống làm cơ sở, tinh yếu của Đẩu Số hỷ kị thần cũng tương tự như phương pháp dùng Ngũ hành sinh khắc, để lấy dụng thần trong khoa mệnh lý Tử Bình. Ngoại trừ việc xem xét khí của sao, cung vị thiên can, ngũ hành của địa chi ra, phái này còn xét tới Ngũ hành nạp âm của can chi hợp lại. Về điểm này, trong các điển tịch của lý luận Tam hợp truyền thống đều có ghi chép, nhưng rất khó hiểu. Có thể nói phái Thiên Cơ đã giải thích tường tận chỗ thiếu xót này.

5)- Phái Tinh Hóa

- Khởi nguồn: Phái Tinh Hóa do Thẩm Bình Sơn sáng lập, cũng giống như Tử Vân, ông tập đại thành các nhà, rồi sáng tạo ra phương pháp luận mệnh vận độc đáo của riêng mình.

- Đặc điểm: Thẩm Bình Sơn tổng hợp lý thuyết như Phi tinh, Tinh hóa, Quá cung luận, Biến cục, Tam hạn pháp để sáng tạo ra phương pháp luận đoán của riêng mình, khá mới mẻ. Nhưng xét về phương diện nội dung, có thể nói Phi tinh pháp của phái này cũng tương tự như lý luận "các hệ thống sao liên quan mạt thiết với nhau" của Vương Đình Chi. Tinh hoa pháp thì lấy các chính diệu Tứ Hóa mà biến hóa ra. Còn phương pháp luận đoán đại hạn, trung hạn, và tiểu hạn, thì lấy Đại hạn phân chia tỉ mỉ thành các "trung hạn", để tính toán chuẩn xác thời gian và sự việc cát hung ứng nghiệm của các tổ hợp sao. Có thể nói đây là một phái hệ rất đặc biệt trong hệ phái Tam Hợp truyền thống.

6)- Phái Chiêm Nghiệm

- Khởi nguồn: theo truyền thuyết phái Chiêm Nghiệm có hai nhân vật đại biểu: một người là Thiết bản đạo nhân Trần Nhạc Kỳ, tự xưng là truyền nhân duy nhất đời thứ 41 của Trần Hi Di, một người khác là Thiên Ất trượng nhân, được cho là truyền nhân đời thứ 54 của phái Chiêm Nghiệm.

- Đặc điểm: Phái Chiêm Nghiệm có truyền thống vận dụng cách - cục tình sao, lại dung hợp với Kỳ môn Độn Giáp, thêm vào lý luận phi hóa 12 cung của phái Phi tinh, nội dung rất rộng. Về phương diện đoán lưu vận, ngoại trừ bản mệnh cơ bản, địa bàn, Thái tuế bàn, còn thêm Tiểu hạn và Đẩu quân, tổng cộng là 5 bàn.

7)- Phái Thấu Thiên

- Khởi nguồn: Phái Thấu Thiên còn gọi là phái Minh Đăng, xuất phát ở Mân Việt (Phúc kiến), có thời gian chưởng môn các đời của phái Thấu Thiên sang Nhật Bản, về sau lại trở về Đài Loan. Theo truyền thuyết, phái Thấu Thiên truyền thừa cho nhau đến nay đã 13 đời, trưởng môn đương đại là Trương Diệu Văn, từng du học ở Nhật.

- Đặc điểm: Ngoại trừ sự khác biệt về cách an cung Mệnh và cung Thân, thì Mệnh bàn không an cung can, nội dung còn lại so với thư tích cổ đại đồng tiểu dị.

8)- Phái Thiên Vận Hợp Tham

- Khởi nguồn: Sở Hoàng là người sáng lập phái Thiên Vận

- Đặc điểm: Ngoại trừ việc vận dụng lý luận truyền thống theo Tử Vi Đẩu Số toàn thư, đây là người hiện đại đầu tiên của trào lưu mang Tử Vi Đẩu Số dung hợp với Tứ Trụ, lấy "cung khí", "hỷ kị thần", và "Tử Kiếp" để luận đoán.

9)- Phái Tân Thuyên

- Khởi nguồn: Tuệ Tâm Trai chủ là người sáng lập.

- Đặc điểm: Phái Tân Thuyên của Tuệ Tâm trai chủ, cũng là một trong phái hệ trung thành với lý luận truyền thống. Giống như Liễu Vô cư sỹ và Vương Đình Chi, ông trước tác vô số, cống hiến khá nhiều.

10)- Phái Tam Hợp

- Khởi nguồn: Người sáng lập là Cung Giám lão nhân

- Đặc điểm: Thực ra đây là một môn phái Phong thủy. Trên thực tế, phái Trung Châu cũng có Huyền Không tam quyết, nhưng môn phái này có quan hệ với Phong thủy rất mật thiết. Tuy đã thu nhập không ít lý luận phi hóa của phái Phi Tinh, nhưng về kết cấu cơ bản, vẫn không rời lý luận truyền thống và cách - cục tình của sao.


 Phi Tinh Bắc phái

1)- Phái Hà Lạc

- Khởi nguồn
: Phái Hà Lạc do Tăng Quốc Hùng người Đài Loan sáng lập.
- Đặc điểm: Lấy Hà Lạc Lý Số và lý luận Hóa Kị làm cơ sở. Chú trọng nghiệm chứng thực bàn, là một môn phái Phi tinh khá thực tế.

2)- Phái Khâm Thiên môn

-- Khởi nguồn
: Phái Khâm Thiên môn do Mai Huyện Tố Tâm lão nhân người Quảng Đông sáng lập ra.
- Đặc điểm: Bí kíp của môn phái Khâm Thiên môn là Hoa Sơn Khâm thiên Tứ hóa Tử vi Đẩu số Phi tinh bí nghi. Nội dung gồm có

+ "Phi sách",
+ "Phi tinh",
+ "Phi cung",
+ "Phi vận",
+ "Cửu tinh bố thập nhị cung thất tinh quyết"
+ "Tứ phụng Tam kỳ lưỡng nghi tiêu"
+ "Tiên thiên Tứ hóa Phi tinh kỳ phổ"
+ "Thập can bộ thiên quyết"

Đây là một môn phái rất chú trọng lý luận Phi Tinh, có ảnh hưởng sâu xa trong hệ phái Phi tinh Tử vi Đẩu số. Các nhân vật đại biểu kế tục gồm có Phương Ngoại Nhân tiên sinh, Pháp Đường chủ nhân, và Phương Vô Kị

3)- Phái Tiên Tông

- Khởi nguồn
: Người sáng lập phái Tiên tông là Chính Huyền Sơn Nhân, pháp hiệu là Huyền Chân Tử, người Miêu Lật, Đài Loan. Tương truyền ông được thần tiên truyền thụ cho môn Tử Vi Đẩu Số của đạo trưởng Lư Sơn Tiên Tông, trước tác có Thiên Địa Nhân Tử vi Đẩu số gồm 13 tập

- Đặc điểm : Chủ chương Tử vi và Tử bình cung tham chiếu, nạp âm ngũ hành. Phương pháp tính tháng Nhuận cũng rất độc đáo. Tuy hệ thống cơ bản của phái Tiên Tông vẫn không trái với phái Phi Tinh, nhưng về lai lịch chi hệ thì không khảo chứng được, vì do thần tiên truyền thụ!

Các Môn phái khác

1)- Nhất Diệp Tri Thu Thuật

- Khởi nguồn:
Đây là môn phái do Phan Tử Ngư sáng lập, là một đại sư rất nổi tiếng ở Phả Lập, ông sinh năm Dân quốc thứ 19 tại Phúc Châu, lúc còn nhỏ đã bái Hòa thượng Nhất Trần ở chùa Cổ Sơn Dũng Tuyền làm thầy. Các cách luận mệnh số của Nhất Diệp Tri Thu khác với những môn phái khác. Tự nhận tổ sư của Môn phái mình là Tôn Tư Mạc mà không phải là Trần Hi di

-Đặc điểm : Nhật Diệp Tri Thu thuật đề xướng "Thiết khẩu trực đoán" (tức đoán định một cách trực tiếp). Phan Tử Ngư xem trọng hoàn cảnh của từng Cung, có nét hơi giống với Phật môn nhất trưởng Kinh. Thực ra, khi còn trẻ, Phan Tử Ngư đã được học phương pháp "Phi Yến Quỳnh Lâm", cũng chính là "Phi tinh chuyển yến quan quyết", hoặc cũng là "Thập bát Phi tinh Dịch yến quỳnh lâm" trong Bắc phái Phi tinh.

2)- Phái Khoa Kỹ

- Khởi nguồn
: Đổng sự trưởng môn của phái Khoa Kỹ Tử Vi là Trương Thịnh Như
- Đặc điểm: Trương Thịnh Như muốn mang khoa học vào môn Tử vi Đẩu Số, và phổ cập hóa khoa Tử Vi Đẩu Số giống như môn chiêm tinh của Tây phương. Lý tưởng thì rất cao, nhưng phương pháp lại không được mọi người công nhận là truyền thống.

      Vũ trụ là sự tổng hòa các dạng tồn tại vật chất, có thể phân có thể hợp, có đoàn tụ tất có phân ly, có "tích" tất có "phân". Đây là điểm mấu chốt của phương pháp luận.

       Nghiên cứu về Đẩu và Số, nhất thiết phải tham khảo Dịch đồ, theo phương pháp dùng hào âm dương. Long đồ tự - Long đồ tam biến do ngài Trần Đoàn sáng chế, số "0" được gọi là số "Linh kỳ", ngài Trần Đoàn theo nguyên lý Vô sinh Hữu viết "Vô cực sinh Thái cực", người đời sau, ngài Chu Hi sửa lại, thay chữ sinh, viết "Vô cực mà Thái cực". Tư tưởng lập thuyết của ngài Trần Đoàn "Vô cực sinh Thái cực" hay "từ không sinh có", chính là vũ trụ thời gian vô hạn, dựa vào nguyên lý của Dịch "Dịch hữu thái cực, thị phân lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái", coi "0" và "1", "hư" và "thực", "tụ" và "tán", "tích" và "phân", "chính" và "phụ", ... cấu thành cặp ... Số 0 có thể phân thành "chính" và "phụ", có nghĩa là "chính 0" và "phụ 0" - trong đó "tích" là "chính", "phân" là "phụ". Nội hàm các trị số nhỏ hơn 1, sự biến hóa của chính - phụ lấy "0 và 5"của hệ thập phân làm danh giới. Trong đó, số có trị số lớn hơn "0 và 5" là "chính" của 0, số có trị số nhỏ hơn "0 và 5" là "phụ" của 0. Dùng số "0" của hệ thập phân thì "tượng nhuận" là giải pháp tối ưu.


      Chẵn và lẻ, nhỏ và lớn là những cặp tương ứng và đối nhau, số 0 tức là số lẻ, số 1 có trị số thực của nó đã là số chẵn, nhưng khái niệm về số chẵn này, vẫn biến hóa vô cùng, hơn nữa, nó cùng với 0 tương ứng chuyển hóa tùy lúc, tùy thời. 1 và 0, cùng các loại danh số kết hợp với nhau, biểu thị sự khác biệt về số lượng và chất lượng của vạn sự vạn vật, biến hóa vô cùng, không có điểm dừng.

  
      Cấu tạo Long Đồ Tự của ngài Trần Đoàn cho "Khôn" với "Phục" đối nhau ở chính Bắc, nó là do thứ tự từ quẻ Phục tới Càn, sau đó chuyển hướng từ Cấu tới Khôn, tức là chính 0 với phụ 0 đối nhau, biểu thị rõ thời điểm Đông chí âm lạnh đạt đến đỉnh điểm, sau đó chuyển hóa theo hướng "Nhất nhật sinh", đây mới là kết tinh của Dịch học. Chính của "0" và Phụ của "0" còn có thể đồng thời biểu hiện, đó là khi lấy đen biểu thị cho Âm, trắng biểu thị cho Dương, theo thói quen của người xưa, vẽ thành "Âm Dương ngư", đây là tiền thân của Thái Cực đồ vậy.  


       "Bát tiết định 8 phương", theo thứ tự Địa Sơn Thủy Phong Lôi Hỏa Trạch Thiên, ở đây 8 tiết khí này đều là điểm giao tiếp của Thiên và Địa với nhau, được gọi là điểm "Quan khẩu" (điểm chuyển tiếp). Dựa theo nguyên lý âm dương đối ứng, Đông chí đối Hạ chí, Lập xuân đối Lập thu, Xuân phân đối Thu phân, Lập hạ đối Lập đông, 3 hào trong và 3 hào ngoài của 8 đôi, theo thuyết "Nội sinh Ngoại thành",  cũng căn cứ vào thuyết Thiên đối Địa, Sơn đối Trạch, Thủy đối Hỏa, Phong đối Lôi.


       Hình tròn 720 quẻ, 720 quẻ lớn gấp 5 lần 144 quẻ (ứng Khôn sách 144), mật độ của vòng tròn này lấy "một ngày một đêm" phối với 1 độ. Xuất phát điểm của nó dụng nguyên tắc "Nhất nhật lưỡng quái" (hai quẻ phối một ngày), tương ứng Ngày là dương Đêm là âm.

      Nguyên tắc tính bắt đầu từ 0 giờ lúc nửa đêm, tức là giờ Chính Tý, hai đầu là đêm, khoảng giữa là ban ngày, đúng với nguyên tắc định danh "dương kỳ âm ngẫu".

      Ngày thứ nhất qua Đông chí, đặt 2 quẻ 0 và 1, đây chính là "Nhất âm nhất dương chi vị đạo". Dựa theo mức độ khuếch tán tỏa sáng trên mặt đất mà nói, lại đúng là "thiên tam địa nhị". Bởi lẽ, ban ngày có mặt trời tỏa sáng, trái đất nhận ánh sáng. Mỗi sớm mai "thiên số dĩ tam kiêm nhị", trước khi mặt trời lên tới đường chân trời, một số tia khúc xạ trắc diện của ánh mặt trời, đã chiếu sáng lên mặt đất, đây là lúc bình minh. Buổi chiều "Địa số dĩ nhị kiêm tam", sau khi mặt trời đã lặn xuống đường chân trời, những khúc xạ trắc diện của mặt trời vẫn tỏa sáng xuống mặt đất, đây là lúc hoàng hôn. Phía trước một nhóm là "tam kỳ nhị ngẫu", phía sau là một nhóm "tam ngẫu nhị kỳ". Cho nên, ngày sáng đêm tối không thể căn cứ vào sự lên xuống của mặt trời làm chuẩn. Nhưng, sự lên xuống của mặt trời, tức có hoàng hôn và có bình minh, luôn luôn định ra tỷ lệ  "dương cửu âm lục", "thiên tam địa nhị", đây lấy 5 ngày ứng với 5 độ chu kỳ hình tròn, 5 ngày ứng 5 độ, định lệ thành Cục (Ngũ nhật vi cục), nhất thiết tuân thủ phối ứng với sự vận động biến hóa của 5 hành, như ngày Thủy, ngày Hỏa, ngày Mộc, ngày Kim, ngày Thổ. Được như vậy, thì không thể chê trách hậu nhân ngày hôm nay toán sai, khi định ngôi vị cho sao Tử vi.


       Dịch cấu tạo gồm 384 hào, lấy 384 hào làm nguyên tắc để noi theo. Sự khởi nguyên, bắt đầu từ hai chữ hào Sơ của Càn Khôn, đó là Tiềm và Lý.


      1. Khởi pháp:


    CÀN

 
Hào Thượng       11       23       35       47       59
Hào ngũ               9       21       33       45       57
Hào tứ                  7       19       31       43       55
Hào tam               5       17       29       41       53
Hào nhị                3       15       27       39       51
Hào sơ                1       13       25        37       49......................................................................................
                          36     108     180      252      324



    KHÔN


Hào thượng       12       24       36       48       60 (Giáp Tý)
Hào ngũ             10       22       34       46       58
Hào tứ                 8       20       32       44       56
Hào tam              6       18       30       42       54
Hào nhị               4       16       28       40       52
Hào sơ                2       14       26       38       50    ..................................................................................
                         42      114     186      258     330


      2. Định pháp số Đại diễn:


      - Ngày thứ nhất      0       1       2       3      

      - Ngày thứ hai        4       5       6       7      
      - Ngày thứ ba         8       9      10     11       
      - Ngày thứ tư         12     13     14     15
      - Ngày thứ năm     16      17     18     19 (số tính nhuận)
                                ...................................
                                   40      45     50     55 

       3. Thông pháp Tuần số 

     
      - Ngày thứ nhất      0       1       2        3      
      - Ngày thứ hai        4       5       6        7      
      - Ngày thứ ba         8       9      10      11       
      - Ngày thứ         12     13     14      15
      - Ngày thứ năm     16      17     18      19
      - Ngày thứ sáu      20      21      22      23
      - Ngày thứ bảy      24      25      26      27
      - Ngày thứ tám      28      29      30      31
      - Ngày thứ chín     32      33      34      35
      - Ngày thứ mười   36      37      38       39 (luật lữ 78 / 2)
                              .........................................
                                  180    190    200    210 

      4. Toán pháp


      - Ngày thứ nhất và ngày thứ sáu, phối 1 - 6 Hà đồ, định nguyên tắc "2 đích 0 tự phương", số 2 định danh số "cá vị" dụng Lạc thư.

      - Ngày thứ tư và ngày thứ chín, phối 4 - 9 Hà đồ, định Tam biến Cửu dụng Lạc thư.
      - Ngày thứ năm và ngày thứ 10, một 5 một 10 thuận tự Thiên trung, triển khai phối Đẩu với Số. 
     
       Người am tường đã rõ ý của nó, có thể tự suy diễn mối quan hệ giữa Đẩu và Số vậy.
   
      


     

2.THIÊN KHÔNG PHÙNG HOẢ LINH DO NHƯ BÁN THIÊN TRIẾT TRIỆU Cung Mệnh an tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu có Thiên Không toạ thủ gặp Hoả, Linh hội hợp là người anh hùng gan góc trầm tĩnh công danh bên như diều gặp gió nhưng thường bị gẫy cánh lưng chừng.
3. MỆNH KHÔNG HẠN KHÔNG VÔ CÁT TÂU CÔNG KHANH TẰNG TRỪNG Cung Mệnh có Thiên Không toạ htủ hạn gặp Địa Không hoặc Mệnh có Địa Không toạ thủ gặp Thiên Không dù được nhiều Cát Tinh hội hợp công danh vẫn trắc trở chẳng được xứng ý toại lòng.
4. KIM LÝ PHÙNG KHÔNG BẤT PHIÊU LƯU TẮC ĐA TẬT KHỔ Cung Mệnh vô chính diệu gặp Thiên Không toạ thủ hay xung chiếu nếu không được đa Quý Tinh hội hợp thời bôn ba nay đây mai đó hoặc phải mang bệnh tật, nghèo khổ.
5. HẠNG VŨ ANH HÙNG HẠN NGỘ THIÊN KHÔNG NHI TÁNG QUỐC Anh hùng như Sở Bá Vương Hạng Vũ hạn gặp Thiên Không sự nghiệp cũng tan vỡ phải tự vận Ô Giang.
6. VẬN NGỘ THIÊN KHÔNG ĐỊA KIẾP NGUYỄN TỊCH HỮU BẦN CÙNG CHI KHỔ Đại, Tiểu Hạn gặp Thiên Không, Địa Kiếp rất xấu như Nguyễn Tịch làm cảnh nghèo nàn đói khổ.
7. THIÊN KHÔNG HOÁ KỴ TỐI KỴ QUAN CUNG NHI PHÙNG ÂM DƯƠNG PHẢN BỐI CÔNG DANH VÂN TUẾ TẤT THÀNH Cung Quan Lộc rất kỵ gặp Thiên Không, Hoá Kỵ, nếu an tại Thìn, Tuất gặp Nhật, Nguyệt, Hãm Địa toạ thủ lại thành sáng sủa tốt đẹp nhưng về già mới thành đạt.
8. RIÊU TẠI HỢI VI MINH MẪN Cung Mệnh an tại Hợi có Riêu toạ thủ là người thông minh sáng suốt.
9. RIÊU ĐÀ KỴ KẾ GIAO HỌA VÔ ĐƠN CHÍ Riêu, Đà, Kỵ ở liền ba cung Tỵ, Ngọ, Mùi mà cung Mệnh Thân an ở mt torng ba cung ấy thì gặp hoạn nạn liên miên.
10. HẠN PHÙNG RIÊU HỔ KHÁ NGỪA NHỮNG LOÀI ÁC THÚ PHẢI XA CHỚ GẦN Hạn gặp Thiên Riêu, Bạch Hổ thì nên đề phòng ác thú.
11. HẠN PHÙNG RIÊU HỶ ĐÀO HỒNG, GÁI TRAI TƠ TƯỞNG NHỮNG LÒNG DÂM PHONG Hạn gặp Đào, Hồng, Hỷ, Riêu tất trai gái đều nghĩa đến sữ đâm cuồng xác thịt.
12. RIÊU TƯỚNG MỘC KÌNH KHOA SÁT Ư LÃO HẠN DĨ TẮC DÂM LOẠN VÔ HẬU Về già Hạn gặp Riêu, Tướng (Tướng Quan hoặc Thiên Tướng) Mộc, Khoa và Sát Tinh hội hợp thời lòng xuân chưa hết còn tơ tưởng đến chuyện ttrai gái dâm đãng như Võ Hậu.
13. THIÊN RIÊU CƯ TÀI BẠCH HOẠ ĐỔ SINH ƯƠNG Cung Tài Bạch có Thiên Riêu toạ thủ  là người ham mê tửu sắc, cờ bạc mà sinh họa.
14. THIÊN RIÊU, THIÊN HỶ ĐA CHIÊU QUÁI DỊ CHÍ TAI Cung Mệnh có Thiên Riêu, Thiên Hỷ toạ thủ đồng cung hay xung chiếu là người bị nhiều tai vạ quái ác.

TỬ VI ĐẨU SỐ PHÚ GIẢI - 32

2. THAI TINH MÔ DIỆU LẠI TRIỀU ĐA HỌC TRIỂU THÀNH Cung Mệnh có Thai, Mộ hội chiếu tất có học nhưng không đỗ đạt.
3. THAI PHÙNG SÁT DỤC TU PHÒNG SẢN PHỤ Đàn bà cungMệnh, Tật Ach hay Tử Tức có Thai, Kiếp Sát, Mộc Dục hội hợp tất sanh đẻ khó khăn.
4. NỮ MỆNH THAI ĐÀO PHÙNG KIẾP GIÁN TỬ CUNG Nữ số cung Tử Tức có Thai, Đào ngộ Kiếp Sát tất hiếm con.
5. THAI TINH NGỘ THÁI ÂM CUNG  TỬ ; HẠN RẰNG CON CẦU TỰ MỚI SINH Cung Tử Tức có Thai gặp Thái Am tất phải cầu tự mới có con.
6. TỬ CUNG THAI TƯỚNG PHỤC BINH VỢ CHỒNG ẮT ĐÃ TƯ SINH THUỞ NÀO Cung Tử Tức có Thai, Tướng Quân, Phục Binh hội hợp tất vợ chồng đã có con riêng rồi mới lấy nhau.
7. DƯỠNG HỶ LÂM Ư TỬ TỨC TẤT SANH QUÝ TỬ Cung Tử Tức có Dưỡng toạ thủ gặp Thiên Hỷ tất sanh con quý hiển .
8. THAI PHÙNG TẢ HỮU HỢI CUNG, NAM NHÂN ẮT CÓ CON DÒNG THIẾP THÊ Cung Tử Tức có Thai toạ thủ Tả, Hữu đồng cung tất có con giòng vợ nhỏ.
9. TỬ CUNG THAI NGỘ HOẢ LINH BÀO THAI NHỮNG GIỐNG YÊU TINH MUỘN PHIỀN Cung Tử Tức có Thai gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì thật đáng buồn sinh con hình dung cổ quái.
10. THAI PHÙNG KIẾP SÁT TU PHÒNG SINH SẢN Đàn bả cung Mệnh,Tử Tức hay Tật ách có Thai ngộ Kiếp Sát tất sinh đẻ khó khăn.
11. HỌ HÀNG CÓ KẺ BINH ĐAO TƯỚNG BINH TỬ TUYỆT ĐÓNG VÀO PHÚC CUNG Cung Phúc Đức có Tướng quân, Phục Binh gặp Tử, Tuyệt thì trong họ có người chết về binh đao.
12. THAI PHÙNG ĐÀO HỶ VẬN NÀY VỢ CHỒNG MỪNG ĐÃ ĐẾN NGÀY NỞ HOA Hạn có Thai, Đào,Hỷ hội hợp tất sanh con.
13. MỘ TINH NGỘ NHẬT THÂN PHỤ NAN TOÀN Hạn gặp sao Mộ toạ thủ đồng cung với Thái Dương tất cha đau nặng hặoc mệnh chung.

TỬ VI ĐẨU SỐ PHÚ GIẢI - 33

2. MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU HOAN NGỘ TAM KHÔNG HỮU SONG LỘC QUÝ KHẢ KỲ Cung Mệnh vô chính diệu đắc Tam Không gặp Lộc Tôn, Hóa Lộc hội hợp tất suốt đời được hưởng giàu sang công danh toại mãn tài lộc dồi dào.
3. MỆNH TRIỆT THÂN TUẦN TU CẦN VÔ HỮU CHÍNH TINH VÃN NIÊN VẠN SỰ HÒAN THÀNH KHẢ ĐÃI Cung mệnh có Triệt án ngữ cung Thân có Tuần án ngữ nếu không có chính tinh tọa thủ tất về già mới được xứng ý toại lòng.
4. MỆNH THÂN TUẦN TRIỆT HOAN ĐẮC VĂN ĐOÀN HỮU THỦ: PHÚ QUÝ DANH TÀI CÁNH PHÁT CHUNG NIÊN Cung mệnh có Tuần án ngữ cung Thân, có Triệt án ngữ được Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, Khôi, Việt, Xương Khúc hội hợp nên rất tốt đẹp suốt đời được hưởng giàu sang vinh hiển nếu được thêm Khoa, Quyền, Lộc hội chiếu cung Mệnh thật là toàn mỹ.
5. TAM KHÔNG ĐỘC THỦ PHÚ QUÝ NAN TOÀN Cung Mệnh vọ chính diệu có Tam Không thủ chiếu không gặp Tam Hóa hội hợp thì phú quý khó toàn vẹn.
6. TAM KHÔNG ĐỘC THỦ TAM KỲ GIA HỘI PHÚ QUÝ SONG TOÀN Cung Mệnh vô chính diệu đắc tam Không gặp Khoa, Quyền, Lộc hội hợp tất được hưởng phú quý song toàn.
7. MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU ĐẮC TAM KHÔNG PHÚ QUÝ KHẢ KỲ Cung Mệnh không có chính tinh tọa thủ  được Địa Không, Tuần Không, Thiên Không thủ chiếu tất được hưởng phú quý.
8. TUẦN TRIỆT NGỘ THIÊN HÌNH THA HƯƠNG CÁCH LÝ Cung Mệnh Thân có Thiên Hình tọa thủ gặp Tuần, Triệt án ngữ tất phải lìa xa quê hương bản quán.
9. TUẦN TRIỆT CƯ PHỤ MẪU XUẤT NGOẠI PHƯƠNG KHẢ THÀNH DANH Cung Phu Mẫu có tuần, Triệt án ngữ thì sơm xa gia đình xuất ngoại tất thành danh.
10. TUẦN TRIỆT BẤT KHẢ NGỘ LỘC TỒN TƯ CƠ PHÁ HOẠI Cung Mệnh hay Điền, Tài có Lộc Tồn tọa thủ gặp Tuần Triệt án ngữ tất cơ nghiệp có ngày phải ra tro.
11. TRIỆT TUẦN ÁN NGỮ MỆNH ĐIỀN TƯ CƠ CHA MẸ KHÔNG TRIỀN ĐẾN CHO Cung Mệnh hay cung Điền Trạch có Triệt, Tuần thì không được hưởng cơ nghiệp của cha mẹ để lại.
12. CUNG HUYNH ĐỆ TRIỆT TUẦN XUNG CỦNG CHIM ĐẦU ĐÀN BAY BỔNG XA KHƠI Cung huynh Đệ có Tuần, Triệt án ngữ tất anh chị trưởng phải chết.
13. TAM KHÔNG CHIẾU NỘI TÀO CÁT DIỆU, LAI DƯỠNG TINH CÓ ĐẠO CON NUÔI Cung Tử Tức vô chính diệu đắc Tam không  thêm Cát Tinh gặp Dưỡng tất có con nuôi.
14. TAM KHÔNG HỘI VĂN XƯƠNG Ư THÊ CUNG THIỀM CUNG TRIẾT QUẾ Cung Phu, Thê vô chính diệu có Văn Xương tọa thủ gặp Tam Không hội hợp tất lấy vợ lấy chồng con nhà danh giá.
15. KHÔNG PHÙNG PHÁ TỬ PHỐI HÀO; VỢ CHỒNG TRẮC TRỞ BA TAO MỚI THÀNH Cung Phu có Phá Quân gặp Không tất phải lấy chồng ba lần mới thành.
16. TRIỆT TUẦN NGỘ MÃ HÀNH THÊ VỊ VỢ BỎ CHỒNG ĐÀO TỴ THA PHƯƠNG Cung Thê có thiên Mã ngộ Tuần, Triệt tất vợ chồng bỏ nhau hoặc phải có độ xa cách nhau.
17. TRIỆT TUẦN XUNG KHẮC CHẲNG SAI THIÊN HƯ BẤT CHÍNH CẢ HAI VỢ CHỒNG Cung Phu Thê có tuần, Triệt án ngữ tất vợ chồng hay xung khắc nếu gặp Thiên Hư thì cả hai đều bất chính.
18. MÃO THÌN NGỘ TRIỆT TÁO ĐƯỜNG: TỴ NGỌ PHÙNG TUYỆT CUNG THƯỜNG ÔN BINH Hạn gặp Triệt án ngữ tại Mão, Thìn thì có sự lôi thôi về bếp núc, cung Tỵ, Ngọ gặp Tuyệt thì bị ô binh quấy phá.
19. PHÚC VO CHÍNH DIỆU TU CẦN KHÔN GTÚ KỴ NGỘ TRIỆT TINH NHI PHÙNG SINH VIỆT KỴ HÌNH VI NHÀN TIỀU TRƯỞNG HỎA KHỐC NHẬP SÂM ĐỒNG THIẾT DỊ THÀNH CHÂN NGHIỆP Cung Phúc Đức vô chính diệu rất kỵ gặp Triệt nhưnh cần được Tuần hoặc Thiên, Địa Không tọa thủ nếu gặp Sinh, Việt, Kỵ, Hình hội hợp nên làm nghề đốn củi hay buôn gỗ, gặp Hỏa, Khốc thời làm thợ đức đồng hoặc buôn kim khí rất phát đạt.
20. PHÚC HỮU CHÍNH TINH KỴ NGỘ TRIỆT TUẦN HOẶC GIA SÁT DIỆU LAI NGỘ LƯU KIẾP CỰ ĐỒNG THỦY NỊCH TỬ OAN PHƯỢNG LƯƠNG HOAN NGỘ CHUNG THÂN DU TỬ HƯ VÔ Cung Phúc Đức có chính Tinh tọa thủ rất kỵ gặp Tuần, Triệt án ngữ hay Sát Tinh xâm phạm nếu gặp Lưu Hà, Kiếp Sát, cự Môn, Thiên Đồng hội hợp tất phải chết đuối nếu gặp Thiên Lương, Phương Các tọa thủ đồng cung tất suốt đời lang thang rày đây mai đó, có tài nhưng không gặp thời chỉ đi làm điều tốt cho người còn mình vẫn cam chịu nghèo khổ.
21. PHÚC TẠI KHẢM CUNG TRIỆT TUẦN TỨ KIẾP ĐỒNG ÂM XÂM NHẬP HỮU HỌC VÔ LƯƠNG YÊU BẦN CHI CÁCH Cung Phúc Đức an tại Tý có thiên Đồng, Thái Am tọa thủ gặp Tuần hay Triệt án ngữ Kiếp Sát và Tử đồng cung là người có học nhưng bất lương nên phải nghèo hàn và yểu tử.
22. PHÚC TỌA DẬU CUNG TAM KHÔNG ĐÀ TRIỆT KIẾP KÌNH LƯU ĐÀO TỌA CŨNG TÁN GIA BẠI SẢN VONG HƯƠNG HỰU PHÙNG TỒN CỰ HÌNH LINH VI NHÂN KHẤT CÁI BÔN HÀNH Cung Phúc đức an tại Dậu có tuần, Triệt, Thiên, Địa, Không, Kiếp, Kình, Lưu, Đào hội hợp tất gia tài của cải phải bán sạch và phải ly tổ bôn ba nơi xứ người nếu gặp Lộc Tồn, cự Môn, Thiên Hình, Linh Tinh hội hợp tất nghèo khổ đến phải đi ăn xin.
23. PHÚC CƯ TỐN, NHƯỢC KIẾN TRIỆT CƯ THAM LIÊM ÂM CỰ NAM BẤT THIỆN NHAN GIA HỘI ĐÀO HỒNG CƠ KỴ KIẾP RIÊU ĐỘC PHỤ CHI NHÂN HẠNH PHÙNG ĐẾ DIỆU DƯƠNG CƠ TƯỚNG MÃ VŨ QUYỀN KHOA TUYỆT NỮ TẤT VINH PHU LỢI NAM TÀI VĂN VÕ XUẤT SỬ DANH BACung Phúc Đức an tại Tỵ có Tham, Liêm  tọa thủ đồng cung hoặc có Thái Am tọa thủ Cự chiếu gặp Triệt An ngữ, Đào, Hồng, Cơ, Kỵ, Kiếp, Riêu hội hợp tất trong họ đàn ông có người gian ác bất nhân đàn bà thì nham hiểm tham độc nhưng nếu được Tử Vi hoặc Thái Dương hay Thiên Cơ tọa thủ Tướng, Mã, Vũ, Quyền, Khoa, Tuyệt hội hợp tất trong họ đàn bà làm lợi cho chồng cho con đàn ông văn võ song toàn làm nên hiển hách, danh tiếng lừng lẫy.
24. TAM PHƯƠNG XUNG SÁT HẠNH TRIỆT KHẢ BẰNG TỨ CHÍNH GIAO PHÙNG KỴ TUẦN KHÔNG TRỰC ĐỐI Nếu hạn gặp nhiều sao xấu ngoại chiếu, nhưng bán cũng bị Triệt án ngữ thời vô hại nếu bạn gặp nhiều sao tốt hội chiếu rất kỵ gặp Tuần án ngữ tại bản cung ví như thế sẽ cản hết sự tốt đẹp.
25. TRIỆT ĐÁO KIM CUNG TUẦN LÂM HỎA ĐỊA BẤT KỴ SÁT TINH BẠI DIỆU TAI ƯƠNG SỞ TÁC Triệt án ngữ tai Thân, Dậu,Tuần án ngữ tại Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi nếu gặp Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Hóa Kỷ, Kiếp Sát, Song Hao, Tang Hổ, Khốc, Hư thì vô ngại vi Tuần, Triệt ở đây có đủ khả năng áp đảo nhưng sao kể trên.
26. SÁT TINH BẠI DIỆU TUẦN TRIỆT CƯ LAI BẤT CẬP A HÀNH NAN PHUNG TAI ÁCH VẬN LAI Hạn có tuần, Triệt An ngữ nếu gặp Kình, đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp hay Khốc, Hư, Tang, Hổ, Song Hao hội hợp tất những Sát Tinh, Bại Tính kia không thể tác hại được nnên chẳng lo gì tai họa xảy đến.
27. THÂN TAI DI CUNG, TRIỆT TUẦN HÃM NHẬP VĂN TUẾ HỒI HƯƠNG PHƯƠNG TÚC CÁT; KIÊM KIẾN SÁT TÌNH SỰ NGHIỆP VIÊN THÀNH Ư NGOẠI SỨ Cung Thân cư thiên Di gặp Tuần, Triệt án ngữ khi già nên về nơi quê hương bảo quản sẽ gặp nhiều may mắn nếu có nhiều Sát Tinh hội hợp, ngược lại sẽ lập được sự nghiệp nơi sứ người.
28. THÂN CƯ THÊ VỊ TUẦN TRIỆT LAI SÂM THIẾU NIÊN AI LỆ NÃI THẤT TÌNH; GIA LÂM CÁT TÚ LƯƠNG DUYÊN MÃN KIẾP DỮ PHỤ NHÂNCung Thân cu Phu Thê gặp Tuần, Triệt án ngữ tất tuổi trẻ đã phải đau đớn vì tình hoặc sát vợ hay sát chồng nếu được nhiều Cát tinh hội hợp về già nên tìm người cùng hòan cảnh ngang trái như mình mà kết duyên thời hợp.
29. THÂN CƯ QUAN LỘC NHƯỢC KIẾN TRIỆT TUẦN KIẾP KỴ NAM NHÂN PHONG VÂN VỊ TẾ HỰU PHÙNG CÁT DIỆU VŨ LỘ THỪA ÂN KHẢ ĐÃI TRUNG TUẦN DI HẬU Cung Thân cư quan Lộc gặp tuần, Triệt án ngữ Kiếp, Kỵ hội hợp tất suốt đời lận đận không gặp thời nếu được nhiều Cát Tinh hôi hợp thì ngoài 40 tuổi mới gặp may hưởng ơn mưa móc.
30. THÂN TẠI QUAN GIA CÁT DIỆU TRIỆT TUẦN NỮ MỆNH NAN BẢO THÂN DANH GIA KIẾN BẠCH. TANG CÔ THÂN TRÍCH ẢNH NGHI GIA VĂN TUẾ TẤT THÀNH Cung Thân cư Quan Lộc gặp Tuần, Triệt án ngữ, Sát Tinh hội hợp đàn bà có cáh này tuổi trẻ phải lận đận, nghèo túng  và không giữ được tòan danh tiết nên lấy chồng sớm tất phải góa và cô đơn về già mới được may mắn yên ổn.
31. THÂN CƯ THÚC ĐỨC VÔ HỮU CHÍNH TINH TỐI KỴ KIẾP KINH TRIỆT SÁT CƯ SÂM; HOAN NGÔ ĐÀ KHÔNG THỊ VỊ CỨU CÁNH CHI TINHCung Thân cư Phúc Đức vô chính diệu lại gặp Kiếp, Kình, Triệt, Kiếp Sát nên rất xấu xa mờ ám nhưng nếu gặp Đà La túc Đà La độc thủ hoặc gặp Tuần án ngữ lại hay, vì Tuần bao vây ngàn chặn những sao xấu ở ngoài chiếu vào ngược lại Triết cát đứt gián đoạn cả ngoài lẫn trong nên bán cung có sao tốt cũng bị Triệt lần giảm mất uy lực.

TỬ VI ĐẨU SỐ PHÚ GIẢI - 34

2. HOA CÁI THIÊN DI XUẤT NGỌAI CẬN QUÝ: Cung Thiên Di có Sao Hoa Cái thì ra ngoài thường gần người quyền quý.
3. NAM TỬ HOA CÁI CƯ THÂN XUẤT NGOẠI ĐA ÁI: Đàn ông Cung Thân có Hoa Cái tọa  thủ thì ra ngoài thường được nhiều người thương yêu.
4. HOA CÁI TẤU THƯ THANH CAO TÙNG CHÚNG: Cung Mệnh có Hoa Cái, Tấu Thư đồng Cung là người thanh cao hơn người.
5. HOA CÁI PHƯỢNG CÁC ĐÀO HỒNG TRAI TOAN BỎ VỢ TRONG LÒNG CHẲNG KHUÂY: Cung Thê có Hoa Cái, Phượng Các, Đào Hoa, Hồng Loan tất đàn ông đã có vợ nhưng trong bụng lúc nào cũng tính toán để bỏ vợ.
6. ĐẦU CƯ THÊ CUNG TUY HỮU PHÚ NHI CƯƠNG NGẠNH: Cung Phu, Thê có Đẩu Quân tất lấy chồng lấy vợ giàu có, nhưng là người cương ngạnh.
7. ĐẨU QUÂN NGỘ TỬ TỨC CUNG, ĐỊA KHÔNG TẬT ÁCH BỆNH PHÙNG HUYẾT HƯ: Cung Tử Tức có Đẩu Quân tọa thủ thì hiếm con.  Cung Tất Ach có Địa Không thì có bệnh huyết hư.
8. MỘC DỤC LIỆT THỦ CHI HIẾU ĐÃ DONG: Cung Mệnh có Mộc Dục thì có khiếu về nghề thợ rèn.
9. MỘC DỤC HOA CÁI THỦ MỆNH HOANG DÂM: Cung Mệnh có Mộc Dục, Hoa Cái tọa thủ thì hoang dâm.
10. LÀNG CÓ GIẾNG KHÔNG CHẲNG UỐNG, SAO MỘC TINH CHIẾU XUỐNG TẬT CUNG: Cung Tật Ach có Mộc Dục tọa thủ thì không nên gần giếng ao sông.
11. MỘC DỤC ĐỘC THỦ CHI HẢO ĐÃ DONG: Cung Mệnh có Mộc Dục tọa thủ là người thích làm dáng chưng diện.
12. HẠN CHI THIÊN LA ĐỊA VÕNG KHUẤT NGUYÊN NỊCH THỦY NHI VONG Hạn đến Cung Thìn, Tuất gặp Sao Vũ Khúc, Tham Lang hoặc Thái Tuế, Tang, Hổ, Không, Kiếp tất sẽ như Khuất Nguyên reo mình xuống nước mà chết.
13. QUAN PHỦ TỒN KÌNH Ư ĐỊA VÕNG TRẤT CỐC BI SẦU: Cung Mệnh an tại Tuất có Quan Phù tọa thủ tất có sự buồn rầu về gông cùm.
14. ĐIẾU KHÁCH DU PHÒNG TIỂU CỐ: Hạn gặp Điếu Khách tọa thủ nên phải phòng hình phạt nhỏ.
15. TẤU THƯ THỦ MỆNH THI ĐA KHẨU THIỆT CHI NHÂN: Cung Mệnh có Tấu Thư tọa thủ là người bị nhiều sự khẩu thiệt.
16. QUAN PHÙ THỦ VIÊN TÌ THỬ PHÒNG NHÂN CHI PHẢN: Cung Mệnh có Quan Phù tọa thủ thì phải đề phòng người phản mình.   17. QUÝ NHÂN BẤT NHẬP QUÝ HƯƠNG NAN GIẢI HUNG TINH CHI HOẠNH NHIỄU: Cung Mệnh, Thân có Hung Tinh xung thủ quấy nhiễu nếu không có Thiên Quan, Thiên Phúc Quý Nhân hội hợp tất không giải trừ được tai ương họa hại.
18. PHU TỬ TUYỆT LƯƠNG HẠN ĐÁO THIÊN THƯƠNG CHI NỘI: Đức Khổng Tử hạn đến Cung Nô Bộc gặp Thiên Thương và Đại, Tiêu Hao hội hợp nên phải bị đói ở đất Trần Sái.
19. THIÊN NGUYỆT ĐỨC GIẢI THẦN TÀNG CŨNG LÀ QUAN PHÚC MỘT LÀNG TRỪ HUNG: Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần, Thiên Quang, Thiên Phúc là các Sao tốt để giải trừ tai họa.
20. HẠN NGỘ ĐẠI TIỂU TRÙNG PHÙNG, CÁT THÌ THỊNH VƯỢNG, HUNG THÌ TRUÂN CHUYÊN: Đại, Tiểu Hao trùng phùng nếu có đa Cát Tinh hội hợp thì thịnh vượng, Hung Tinh thì truân chuyên.
21. QUAN PHÙNG TƯỚNG TẤU NGHÊ CHI, MỆNH PHÙNG TA ĐẠO TĂNG NI KEO NẢO: Cung Mệnh có Thiên Tương tọa thủ gặp Thiên Quan, Tấu Thư hội hợp là thầy tu hay làm nghề phù thủy.
22. NGÁN THAY LỘC MÃ CÙNG LƯU, DƯƠNG ĐÀ KỴ NHIỆT MẤT ĐAU PHẢI PHÒNG: Lưu, Lộc Tồn, Thiên Mã gặp Kình Dương, Đà La, Hóa Kỳ, Thái Dương tất phải đề phònng bệnh đau mắt.
23. BỆNH PHÙ THÁI TUẾ DỞ DANG, MỆNH AN TỨ MỘ THIÊN THƯƠNG NAN LÀNH: Cung Mệnh, Thân an tại Sửu, Mùi, Thìn, Tuất có Bệnh Phù, Thái Tuế hội hợp tất là người dở dở ương ương.
24. THIÊN DI LƯỠNG GIÁP QUÝ TINH, ĐI QUA LĂNG MIẾU PHẢI KINH CHỚ NHẦM: Cung Thiên Di gặp Tử, Phủ, Long, Phượng, Thái, Tọa, Khoa, Quyền, Song Lộc, Xương, Khúc, Việt là người sùng đạo, tin vào sự huyền bí thích đi lễ chùa lễ Phật.
25. ĐẾ VƯỢNG NGỘ THAI SOI CÙNG TƯỚNG, CÓ BỊ BAO TRONG ÁNG ĐỆ HUYNH: Cung Huynh Đệ có Đế Vượng gặp Thai và Tướng Quân hội hợp tất có anh em khác cha hoặc khác mẹ.
26. TƯỚNG PHÁ PHỤC NỘI TÀNG THAI DIỆU, NGỌAI HỒNG ĐÀO TỨ, CHIẾU THIÊN DI, NAM NHÂN DÂM DỤC THỊ PHI, NỮ NHÂN TẮC KỸ KẺ CHÊ NGƯỜI CƯỜI: Cung Mệnh có Phá Quân, Tướng Quân, Thai tọa thủ Cung Thiên Di có Phục Bính và Đào, Hồng chiếu đàn ông là người dâm lọan bị người chê cười, đàn bà là gái ăn chơi trắc nết.
27. MỆNH LÂM NHƯỢC ĐỊA HỰU PHÙNG KỲ, KHÔNG KIẾP KÌNH ĐÀ GIA HỎA LINH, NHƯỢC PHI YỂU TRIẾT TẤC BẦN TIỆN, LỤC SÚC CHI NHÂN BẤT KHẢ KHÁNG: Cung Mệnh có Suy, Bệnh, Tử hay Tuyệt hoặc an tại Cung khắc Mệnh lại gặp Hóa Kỵ và Lục Sát nếu không chết non tất là người bần tiện hay hạng lục súc đê hèn.
28. CÁT TINH ĐẮC DỊ PHÁT DĨ TẦM THƯỜNG LAI NHẬP VĂN TỊNH LIÊN CHIẾM KHÔI KHOA: Cung Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đông, Lương, Đắc Địa hội hợp thời phát chậm nhưng gặp nhiều Văn Tinh đắc cách tất đỗ đạt liên tiếp.
29. PHỤ CÁO ÁI GIAO ẤN TƯỢNG Ố KỴ CỰ ĐỒNG NHI NGỘ KHÔI VƯƠNG CỬ KHOA NGAO ĐẦU TÁC CHIẾM: Cung Mệnh có Thai Phụ, Phong Cáo tọa thủ rất cần gặp Ấn, Tường rất kỵ gặp Cự, Đồng nếu được Khôi, Nương hội hợp thì tất đỗ đầu.

TỬ VI ĐẨU SỐ PHÚ GIẢI - HẾT


2. HẠN PHÙNG HUNG DIỆU LIỄU LỤC ĐÀO HỒNG NHI DỊ TẠ: Cung Mệnh tuy xấu nhưng được hạn tốt vẫn phát đạt nhưng nếu hạn lại xấu ví như cây liễu đào bị thối gốc tối hung.
3. THÂN MỆNH CÂU CÁT PHÚ QUÝ SONG TOÀN: Cung Mệnh tốt Cung Thân tốt, tất suốt đời an nhàn sung sướng và được hưởng giàu sang vinh hiển.
4. THÂN CÁT MỆNH HUNG DIỆC VI MỸ LUẬN: Cung Mệnh xấu nhưng Cung Thân tốt cũng chẳng đáng lo ngại vì Cung Thân chi hậu vận 30 năm về sau tất về già được sung sướng.
5. MỆNH NHƯỢC THÂN CƯỜNG TÀI NGUYÊN BẤT TỤ: Cung Mệnh có nhiều Sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp nhưng Cung Thân lại có nhiều Sao tốt đẹp hơn hội hợp nên gọi là Mệnh nhược Thân cường người có cách này suốt đời được sung túc nhưng không thể giàu có lớn được vì hay tán tài.    6. TÂM HẢO MỆNH HẢO DIỆC CHỦ THỌ TÂM ĐỘC MỆNH BẠCH DIỆC YỂU VONG: Người có tâm địa tốt Cung Mệnh cũng  tốt thời được hưởng phúc sống lâu, người tâm địa độc ác Cung Mệnh lại xấu tất sẽ yểu tử tuy nhiên nếu biết tu nhân tích đức thì chẳng lo gì tóm lại dù Mệnh xấu hay tốt cũng cần ăn ở cho có đức thì cái phúc ấy mới được bền.
7. TAM KHÔNG BẤT KỴ CHƯ SỨ VÔ HỮU CHÍNH TINH TỨ HƯỚNG GIAO PHÙ CÁT DIỆU TU PHÒNG TUẦN TRIỆT: Cung nào vô chính diệu tức mờ Âm xấu xa nhưng được Tam Không hội hợp thời lại tốt đẹp ngược lại nếu Cung tam hợp, xung chiếu và nhị hợp có nhiều Sao sáng sủa tốt đẹp nhưng bản Cung bị Tuần, Triệt án ngữ tất xấu.
8. TAM GIÁP MỆNH HUNG LỤC GIÁP CÁT: Cung Mệnh giáp Kình, Đà, Kiếp, Không, Linh, Hỏa là tam giáp; giáp Tử, Phủ, Tả, Hữu, Khúc, Xương, Khôi, Việt, Khoa, Quyền, Lộc là lục giáp, nếu xét Cung Mệnh được nhiều Cát Tinh hơn Hung Tinh thì tốt nếu nhiều Hung Tinh hơn Cát Tinh thời xấu.
9. PHU QUÂN KỶ LIỆT NHÂN CUNG THÂN MỆNH HẠN NGÔN HẢO ĐỊA: Cung Phu Quân xấu xa mờ ám mà Cung Mệnh, Thân tốt đẹp cũng không bàn đến vì nữ số cần nhất là Cung Phu.
10. ÂM DƯƠNG ĐÔI NGÃ CHO MINH, ÂM CƯ ÂM VỊ DƯƠNG HÀNH DƯƠNG CUNG: Người sinh về năm Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là tuổi Âm Cung mệh an tại Âm Cung là tốt sinh năm Tý, Dần, Thân, Ngọ, Tuất là tuổi Dương: Cung Mệnh an tại Dương Cung là thuận lý đô số gia tăng.
11. MỆNH HẢO, THÂN HẢO, HẠN  HẢO ĐÁO LÃO VINH XƯƠNG; MỆNH SUY, THẬN SUY, HẠN SUY, CHUNG THÂN KHẤT CÁI: Cung Mệnh, Thân sáng sủa, hạn cũng  tốt đẹp thì được hưởng phú quý vinh hoa từ tuổi trẻ cho đến ngày đầu bạc răng long Cung Mệnh, Thân xấu xa hạn cũng mờ ám thì cả đời, đói khổ bần tiện đến phải đi ăn mày.
12. THÂN MỆNH ĐỊNH YỂU TINH CẦU KHỦNG TU PHÂN SỐ: Sau khi đã an Thân, Mệnh cần xem Cung ấy có hợp với Mệnh không có gặp Tràng Sinh, Đế Vượng hay lại gặp Sao Tứ, Tuyệt.
13. ẤM GIỐC DUYÊN NIÊN TĂNG BÁCH PHÚC CHI Ư HÃM ĐỊA BẤT TÀO THƯƠNG: Tuy gặp Vận xấu Hạn xấu nhưng nếu ăn ở phúc đức tất hạn đó cũng bớt đi được một phần.
14. VẬN SUY HẠN NHƯỢC NỘN THẢO TÀO SƯƠNG: Vận xấu (đại hạn 10 năm) lại gặp Hạn Xấu (tiểu hạn 1 năm) ví như cỏ non gặp sương muối nên rất mờ ám xấu xa nếu không được Sao giải tất phải chết.    15. MỆNH THỰC VẬN KIÊN CẢO ĐIỀN ĐẮC VŨ:Cung Mệnh tốt Vận tốt ví như ruộng lúa gặp mưa thuận gió hòa.
16. PHÀM TOÁN LAI MỆNH THẾ TU  SOÁT THỌ BẦN CHI CÁCH, PHÀM CHIÊM VẬN HẠN HÀNH TU PHÒNG LỤC SÁT LAI SÂM: Điều cốt yếu khi xem lá số ta cần định sự giàu nghèo thọ yểu còn xem Vận, Hạn ta phải tìm Kính, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh trước đã.
17. PHÚ THỌ QUÝ VINH YỂU BẦN AI KHỔ, DO Ư PHÚC TRẠCH CÁT HUNG: Giàu, nghèo, thọ, yểu, sang, hèn, vinh, nhục là tại Cung Phúc Đức, Điền Trạch xấu hay tốt.
18. THƯƠNG TANG HÌNH KHỔN HẠNH, LẠC HỶ HOAN THỊ TẠI VẬN HÀNH HUNG CÁT: Vui mừng, sung sướng, lo sợ, buồn rầu vì gặp hạn tốt xấu.
19. MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU NHỊ DUYÊN SINH: Cung Mệnh vô chính diệu nhưng được nhiều Cát Tinh hội hợp tất vẫn được hưởng giàu sang phúc thọ.
20. NẠP ÂM MỘ KHỔ KHÁN HÀ CUNG: Cần xem bản Mệnh có hợp với Cung an Mệnh không ví dụ Mệnh Thủy mà Cung Mệnh an tại Thìn thì cũng giảm tốt vì Cung Thìn thuộc Thổ, Thổ khắc Thủy Mệnh. Ngược lại nếu an tại Cung Thân hay Dậu thuộc Kim độ số gia tăng vì Cung an Mệnh thuộc Kim sinh Thủy Mệnh.
21. SINH PHÙNG BẠI ĐỊA PHÁT ĐÃ HƯ HOA: Cung Mệnh an tại bại địa ví nư cánh hoa sớm nở tối tàn thí dụ tuổi Giáp Thân (Thủy Mệnh) Cung Mệnh an tại Tỵ (Thủy) có Thất Sát (Kim) tọa thủ là hợp cách ngược lại Cung Mệnh tan tại Ngọ (Hỏa) là bất hợp cách vì Thủy, Hỏa tương khắc Kim, Hỏa tương xung nên có phát cũng không bền.
22. TUYỆT SỨ PHÙNG SINH HOA NHI BẤT BẠI: Cung Mệnh an tại Tuyệt địa ví như cánh hoa mong manh nhưng lâu tàn thí dụ Thủy Mệnh Cung Mệnh an tại Tỵ (Hỏa) là Tuyệt Địa vì Thủy khắc Hỏa nhưng nếu được Vũ Khúc thuộc (Kim) tọa thủ tất chính diệu sinh được bản Mệnh vì Kim sanh Thủy nên chẳng đáng lo ngại do đó hoa vẫn tươi.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Follow by Email

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.