bài viết trong chuyên mục "12 cung tu vi"

Hiển thị các bài đăng có nhãn 12 cung tu vi. Hiển thị tất cả bài đăng

     Theo Tử vi Đẩu số - Tứ Hóa phái (Bắc phái), cung quan trọng dùng để xem sự cố tai ách bất ngờ, đương nhiên phải láy bốn cung Mệnh viên - Thiên di - Tử nữ - Điền trạch làm chủ, vì bốn cung này là cung tứ Chính.
 
      Cung Tứ Chính là chủ về các sự tình di động, dời chuyển, dịch mã, bất ngờ, tai ách. Do đó, muốn luận đoán tình trạng có ý thức thay đổi và tai ách bất ngờ có xảy ra hay không, thì phải dùng bốn cung tứ Chính này để khảo xét.

 
      Còn có một phương pháp đơn giản khác dùng để luận đoán "tai ách bất ngờ", đó là lấy cung vị Quan lộc (tức cung Phu thê) của cung Thiên di, nếu can cung Quan lộc hóa Kị nhập các cung Huynh đệ, cung Nô bộc, cung Mệnh, thì có thể đoán định có tai nạn bất ngờ.

 
      Nếu can cung Quan lộc của cung Thiên di Hóa Kị nhập cung Tài bạch, cung Phúc đức thì đoán định không có tai nạn xảy ra.
     
      Nếu can cung Quan lộc của cung Thiên di hóa Kị nhập cung Phụ mẫu xuất xung cung Tật ách, hoặc nhập cung Quan lộc hóa xuất xung cung Phu thê, thì tai ách tất xảy ra, phần nhiều là rất nặng.

 
      Xem can cung Phu thê hóa Kị nhập vào cung nào, đây chính là Nguyệt lệnh của số tai ách.

      Ngoài ra, can cung Thiên di của Lưu niên Hóa Kị xung cung Mệnh nguyên cục, hoặc can cung Thiên di Hóa Kị nhập cung Quan lộc nguyên cục, hoặc can cung Thiên di Hóa Kị nhập cung Điền trạch nguyên cục, thảy đều có tai ách. Phép luận giải này, cứ mỗi 12 năm thì có một lần, cho nên phải lấy Đại vận để phân biệt. Xem xét lúc cung Thiên di của Lưu niên, can cung Thiên di lưu niên Hóa Kị xung cung Mệnh nguyên cục, hay Hóa Kị xung cung Quan lộc nguyên cục, hay Hóa Kị xung cung Điền trạch nguyên cục, sao Hóa Kị này, đồng thời cũng phải ở một trong các cung Mệnh - Di - Tử - Điền của Đại vận, hay đồng thời xung một trong các cung Mệnh - Di - Tử - Điền của Đại vận. So sánh các trường hợp trên, thì xung cung mệnh nặng hơn cung Điền trạch. Trường hợp can cung Thiên di Hóa Kị xuất xung cung Quan lộc của Đại vận tuy sẽ xảy ra, nhưng tai ách không nghiêm trọng.

 
      Tóm lại, những tổn hại bất ngờ, đều có liên quan đến các cung Mệnh viên - Thiên Di - Điền trạch - Tử nữ.

      Đối với trường hợp bệnh tật phát đột ngột, hoặc bệnh ngầm đột nhiên trở nặng và thậm chí nguy hiểm đến tính mạng, thì phải xem xét tới tuyến Nô - Huynh.

 
      Can cung Tật ách khiến Hóa Kị nhập cung Mệnh, thường thường chủ về bệnh tật bẩm sinh (tiên thiên) hay di truyền, rất khó có khả năng trị tận gốc.

      Can cung Tật ách khiến Hóa Kị nhập cung Phúc đức, chủ về mắc bệnh tinh thần, ví dụ như bệnh tâm thần phân liệt do di truyền, chứng hưng phấn - trầm cảm, hoặc bệnh tâm thần do tổn thương thực thể (phần nhiều là do tổn thương não bộ).

    
      Can cung Thiên di khiến Hóa Kị nhập cung Tử nữ và xung cung Điền trạch, là ý tượng: trong cuộc đời dễ xảy ra sự cố tai nạn giao thông nghiêm trọng. Vì vậy, lúc cung Thiên di đại vận khiến cho Hóa Kị nhập cung Tử nữ và xung cung Điền trạch của Đại vận, là chủ về trong đại vận này sẽ xảy ra tai nạn giao thông.

 
      Can cung Điền trạch khiến Hóa Kị nhập cung Thiên di vafxung cung Mệnh, cũng chủ về trong cuộc đời dễ xảy ra tai nạn giao thông nghiêm trọng. Vì vậy, lúc Can cung Điền trạch của Đại vận khiến Hóa Kị nhập cung Thiên di Đại vận và xung cung Mệnh đại vận, là chủ về trong Đại vận này dễ xảy ra tai nạn giao thông, hoặc tổn hại.

 
      Khi ứng dụng vào thực tế trải nghiệm đối với từng cung của đại vận, phải quan tâm đến ý tượng: có bị tổn hại do nhân tố bên ngoài gây ra hay không.

      Can cung Điền trạch khiến Hóa Kị nhập cung Phụ mẫu và xung cung Tật ách, hoặc nhập cung Tật ách và xung cung Phụ mẫu, cũng chủ về gặp sự cố tai nạn giao thông, hoặc phải chịu tổn hại do nhân tố bên ngoài mạng lại.

 
      Ngoài ra, lúc cung Thiên di lưu niên tự Hóa Kị, hoặc cung Mệnh lưu niên tự Hóa Kị, như vậy trong Lưu niên này phải đặc biệt cẩn thận đề phòng xảy ra sự cố tai nạn giao thông. "Họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai", can cung Điền trạch khiến Hóa Kị nhập cung Phụ mẫu, ngoài nội dung đã thuật ở trên, còn chủ về nguy cơ phá sản, hoặc "phá tài" một cách nghiêm trọng.



      Cần chú ý đề phòng.

      

      



      Tử Vi độc tọa Huynh đệ ở Tý hoặc ở Ngọ, có các sao đào hoa đồng cung, chủ về trong anh chị em, chị gái là con trưởng, hoặc chủ về bất hòa với anh cả.

      Tử Vi độc tọa Huynh đệ ở Tý hoặc ở Ngọ, được “bách quan triều củng”, thì được nhờ anh lớn, chị lớn. Nhưng cần phải tình nguyện ở địa vị thứ hai, làm phụ tá, mới có thể hợp tác với người khác làm việc; nếu không, đến đại hạn và lưu niên có cung Huynh đệ là Vũ Khúc Thiên Tướng cùng tọa thủ, hoặc Phá Quân độc tọa, gặp các sao Sát Kị, thì quan hệ hợp tác sẽ đổ vỡ.

      Tử Vi độc tọa Huynh đệ ở Tý hoặc ở Ngọ, là cách “tại dã cô quân”, hoặc “vô đạo cô quân”, chủ về khó nhờ vả anh chị em, khi hợp tác với người khác cũng chủ về bị người ta lợi dụng.

      Hệ “Tử Vi Phá Quân” tọa Huynh đệ ở Sửu hoặc ở Mùi, gặp Sát tinh, thì anh em kết thành phe phái, hoặc hình khắc bất hòa, có anh em khác mẹ. Ý nghĩa này suy rộng ra là, quan hệ giữa bản thân mệnh tạo với các đồng sự cũng dễ kết thành phe đảng, mà còn tranh giành quyền lực, đấu đá nhau, gặp Sát tinh thì càng đúng, còn nếu gặp các sao Phụ và Tá diệu cát, thì khá bình hòa. Trường hợp có các sao Sát Kị Hình, lúc niên hạn đến cung có Tử Vi, hoặc Thiên Tướng, hoặc Phá Quân tọa thủ cung Huynh đệ, sẽ xảy ra ứng nghiệm không lành. Nếu hệ “Tử vi Phá quân” ở cung Huynh đệ nguyên cục có các sao Cát hội chiếu, thì khi đến cung Huynh đệ của lưu niên là hệ “Vũ khúc Thất sát”, hoặc Thiên Phủ độc tọa, sẽ chủ về ứng nghiệm tốt lành, có thể hợp tác với người mà sáng lập sự nghiệp.

      Hệ “Tử Vi Thiên Phủ” đồng độ tọa thủ cung Huynh đệ ở Dần hoặc ở Thân, cũng chủ về được nhờ anh lớn hay chị lớn. Gặp các sao Sát Kị Hình thì bị lợi dụng gây lụy. Cũng có thể mang tính chất này, suy rộng ra ở mối quan hệ với bạn hợp tác làm ăn hoặc đồng sự. Tình hình cát thì thường sẽ ứng nghiệm lúc gặp Vũ Khúc, hay hệ “Thái Dương Cự Môn”, hay Thái Âm thủ cung Huynh đệ của lưu niên. Tình hình hung thường ứng nghiệm lúc gặp Phá quân, Thất sát, Liêm trinh, Thiên tướng, hay Cự môn thủ cung Huynh đệ của lưu niên.

      Hệ “Tử Vi Tham Lang” đồng độ tọa thủ cung Huynh đệ ở Mão hoặc ở Dậu, gặp các sao đào hoa, chủ về trong anh chị em thì chị gái là con trưởng; gặp sao “Không” thì trong các anh chị em, tình hình của anh cả là xấu nhất.

      Hệ “Tử Vi Tham Lang” đồng độ gặp nhiều sao Cát, cũng chủ về được nhờ anh lớn; nếu gặp cách “Hỏa Tham” thì anh lớn giầu có, nhưng lại không giúp ích gì cho bản thân mệnh tạo. Nếu có các sao Sát Kị Hình Hao tụ tập, chủ về bị liên lụy mà thất bại, gặp thêm các sao đào hoa, lại gặp sao lẻ Phụ Tá, chủ về anh em loạn luân.

      Hệ “Tử Vi Tham Lang” ở Mão, lúc hợp tác với người khác giới, thường dễ nảy sinh tình cảm, mà còn chuốc bất lợi, năm ứng nghiệm thường là Thiên đồng, hay Cự môn, thủ cung Huynh đệ của lưu niên.

      Hệ “Tử vi Thiên tướng” đồng độ tọa thủ Huynh đệ ở Thìn hoặc ở Tuất, cũng chủ về có anh em khác mẹ, nếu gặp Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, thì thường thường có anh chị em sinh đôi. Gặp Cát tinh thì có thể hợp tác tốt, gặp Hung tinh thì ý kiến trái ngược nhau. Năm ứng nghiệm đều thường là lúc hệ “Tử vi Thiên tướng”, Phá Quân, Vũ Khúc Thiên Phủ, thủ cung Huynh đệ của lưu niên. Nếu phá sản, lỗ vốn thì năm ứng nghiệm đều là lúc gặp Thiên cơ, Cự môn, Thiên lương thủ cung Huynh đệ của lưu niên.

      Hệ “Tử vi Thất sát” đồng độ tọa thủ Huynh đệ ở Tị hoặc ở Hợi, gặp Cát tinh thì trong anh em có người quyền quý, cũng chủ về dựa dẫm thích quan hệ với bạn bè quyền quý. Nếu gặp Sát tinh, thì bị anh em hay bạn bè bắt nạt, hà hiếp. Trường hợp hệ “Vũ khúc Tham lang” đồng cung với Hỏa tinh, Linh tinh, lại có Cát tinh, chủ về nhờ anh em bạn bè giúp đỡ mà phát đạt.

      Hệ “Tử vi Thất sát” đồng độ, cát thì ứng nghiệm lúc Thiên Tướng, Thái Dương Cự Môn thủ cung hạn; Hung thì ứng nghiệm lúc gặp hệ “Vũ khúc Tham lang”, hệ “Liêm trinh Phá quân” thủ cung hạn.

      Sao Tử vi ở cung Mệnh thì chủ về người có sắc mặt đỏ tía, hoặc vàng trắng, lúc tuổi già sắc thái đỏ vàng hoặc tía; eo lưng mập dày, thân thể cao trung bình; mặt dài gầy mà có kèm tròn, tính tình trung hậu hào sảng, song hay đi chơi, di chuyển bất định; chí khí cao ngạo, tính tình quật cường; có thể biến sát khí của Thất sát thành quyền uy; có thể biến cái khí bất tường của Hỏa tinh và Linh tinh thành sự trung hòa.

      Tử vi hội chiếu với các sao Thiên phủ, Thiên tướng, Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Lộc tồn, Thiên mã, Hóa lộc, Hóa quyền, Hóa khoa mà ở cung vị nhập miếu tất sẽ phú quý xong toàn.


      Nếu Tử vi có Lộc Mã giao trì, mà không có Không Kiếp, thì càng chủ về đại phú đại quý.


      Nếu như không có các sao như Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Văn xương, Văn khúc vây chiếu, đồng thời Tử vi ở ngôi vị không miếu, đó chính là vị quân vương ở nơi hoang vắng, trở thành vị vua cô độc. Chủ về người có tính tình cô độc, tư tưởng siêu thoát, có thể xuất thế làm tăng, hoặc làm đạo sỹ tìm cầu chân lý.


      Tử vi đồng cung hoặc hội chiếu với Phá quân, không có sát tinh, thì nên mưu tính phát triển trong chính giới. Nếu hội chiếu với Lộc tồn, Thiên mã thì có thể buôn bán kinh doanh phát đạt, song nên kinh doanh đến ngành nghề có liên quan đến công cộng hoặc công việc hành chính.


      Nếu Tử vi bay đến Thìn địa và Tuất địa thì cuộc đời nhiều trắc trở, có thể phú mà không thể đại quý, hoặc là quý mà không thể đại phú. Sự việc không đươc song toàn, phân nửa là hư không vậy.


      Mệnh của người làm ăn kinh doanh bình thường, mà có 4 sát tinh Kình Đà Hỏa Linh cùng tới, chỉ cần sao Tử vi nhập miếu hoặc có Cát tinh khác hội chiếu, cũng có thể phát tài, song phiền nhiễu rắc rối, miệng lưỡi thị phi rất nhiều. Hội chiếu với Kình dương lạc hãm thì chủ về hay gặp miệng tiếng thị phi, kiện cáo.


      Sao Tử vi ở cung mệnh, hiện tượng rất phổ biến là tai thì mềm mà lòng hay thay đổi, có thói quen thích đủ thứ.


      Nữ mệnh có Thiên phủ và sao phụ cát hội chiếu là mệnh của một vị phu nhân danh giá. Nếu có Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp chiếu hội, lại có thêm Phá quân vây chiếu, thì một đời tự tung tự tác, tuy có phát tài, song khó tránh khỏi dâm ô nhiều chồng. Ở cung Phu mà có sao Tử vi bay đến, thêm Thiên phủ và sao phụ cát cũng chủ về chồng vinh, con quý. 


      Lưu niên, đại hạn mà có sao Tử vi đến, thì chủ về phúc nhiều lộc hậu, ở thương trường chủ về phát triển, làm quan thì được thăng chức, gặp nhiều cơ hội. Có Thiên phủ đồng độ càng được quý nhân giúp đỡ, đột nhiên danh lợi đều thu về. Nếu có Phá quân đồng độ hay chiếu hội, thì có ý nghĩa bỏ cũ thay mới. Gặp Địa không Địa kiếp, Thiên hao là có khó khăn về kinh tế, gặp những bất lợi như phá tài, đình trệ. Tương hội Kình Đà Hỏa Linh thì càng lo lắng hảo, tranh chấp, bị giáng chức, mất việc làm. 

 
    

http://phongthuythanglong.vn/lasotuvi/1/7/8/10/4955e971.jpg?1359238959Lá số Thiên bàn 

      Nick: VIETMAO

      Trong xã hội có nhiều người học vấn đầy mình nhưng chưa chắc đã thành công dù chỉ trong một phạm vi mà họ đã bỏ bao công sức mới có được. Nhưng thật lạ là có những người trình độ học vấn rất hạn hẹp lại rất thành công (tất nhiên trong phạm vi của họ).
       Một ví dụ về đương số Tôi đưa ra hiện vẫn đang sống, Tôi biết khá rõ về đương số nên sẵn sàng có kết quả để mọi người tham luận biết kết quả chính xác.

       Tôi đã tìm hiểu đương số này nhiều năm mà vẫn không thể tìm được lời giải đáp (có lẽ do trình độ vẫn quá kém) - Tại sao đương số luôn ở thế thắng trong mọi lãnh vực Thiên Địa Nhân ???

       Thiên: Sét đánh ......chết rồi sống lại.
       Địa : Điện giật.... chết rồi sống lại.
       Nhân: Bị người tế lễ, súng đạn, dọa đâm chém trả thù vì hận.....bị ốm, trốn tránh rồi cũng qua hết.

       Đương số thuộc dạng bất lương trộm cắp, lấy nhiều phụ nữ lấy làm vợ để thỏa mãn dâm tính và chiếm đoạt tài sản, dùng những người gọi là bạn để lợi dụng sai khiến .....hiện nay tài sản bất động sản khá lớn. Tại sao Đương số lại luôn thành công và luôn bị hận thù, bị trả thù nhưng đều vượt qua và luôn luôn có người mới sẵn sàng lao đầu vào kế nhiệm ???

       Tôi tìm hiểu nhiều và nhận thấy: Các cách Cục, các thế trong lá số luôn luôn có thế được chống lưng.


      Đương số đắc Thái dương Thái âm, đắc xương khúc khoa kỵ . Ngoài đời đương số tướng mạo to cao da không trắng không đen, luôn có phong cách làm mình được nổi trội làm mọi người phải chú ý đến mình. Mắt đeo kính, nói như rồng - nói không thành có, rất thông minh chỉ cần nghe người khác nói là có thể nhắc lại và thêu dệt thành tác phẩm của mình làm mọi người tiếp xúc nhất nhất phải nghe hoặc im lặng biết không đúng cũng không muốn phản đối.
       Đương số sống từ nhỏ ở Mỹ Tho, năm 12 tuổi (1971) mới chính thức lên Sài gòn sống trong một ngôi chùa vừa đi học chữ vừa giúp việc đèn nước cho nhà chùa, do cha mẹ gửi một phần tránh sợ đương số lớn lên bị đi quân dịch (đi tu thì không phải đi quân dịch).

       Năm 1975 giải phóng đương số mới 16 tuổi mới vào học cấp 3 được một năm - vì vậy đương số không có bằng tốt nghiệp cấp 3. Và từ đó đến nay không được học thêm bất cứ trình độ văn hóa nào.
Sau giải phóng, do có người nhà hoạt động cộng sản nên được nhận vào làm tại nhà máy điện Thủ đức làm công nhân. Năm 1977 bị chết hụt do điện giật sợ quá bỏ nghề công nhân điện.
 

      Năm 1978 được nhận vào làm nhân viên quân quản đi quản lý trại giam tại Kênh Ong Cò tỉnh An giang. Thời gian này nghe nhiều người kể lại đương số vô cùng tàn ác và được phong chức đội trưởng, thanh tra quản lý trại giam. Rất nhiều người hận thù.
 

      Thời gian làm công việc này sống như vợ chồng với một người phụ nữ giầu có con của thành phần Ngụy cũ (không hôn thú, không có con).
 

      Năm 1980 lấy vợ có cưới xin (không có hôn thú) tại Sài gòn - người phụ nữ này là con của một cán bộ khá cao trong chính quyền sau giải phóng. Năm 1987 có con gái (quý tử).
 

      Năm 1989 về Sài gòn làm việc tại một quận phụ trách một bộ phận cải cách kinh tế của quận, bất đồng quan điểm với sếp nên 2 người đã dùng súng băn nhau. Kết quả sếp bị bắn què chân còn đương số bị sa thải (do có người bên vợ giúp nên không bị bắt). Chuyển việc sang một cơ quan kinh tế khác do cha vợ xin giúp - thời gian ngắn nhưng có một phi vụ làm được khá nhiều tiền. Năm 1990 bất đồng với cha của vợ nên bị cha vợ tố chuyện làm ăn tham nhũng - bỏ vợ trốn, hai bên gia đình hận thù nhau......đương số có một khu đất khá rộng tại Thủ đức ở cùng gia đình vợ nhưng bên vợ lấy mất, còn một căn nhà cấp 4 trên diện tích >200 m2 tại một quận khác hiện nay đương số và người vợ cũ và con gái vẫn đang sử dụng.

      Đặc biệt: đương số có tài ăn cắp thuộc hạng siêu cao thủ. Từ ngày còn nhỏ nghe kể lại: đương số đã thích cái gì là lấy ngon lành chưa bao giờ xảy ra sự vụ mặc dù người bị lấy cắp biết chính xác là đương số lấy mà không làm được gì.
       Khi Tôi biết đương số đến nay chứng kiến nhiều lần đương số thể hiện - biết rồi mà Tôi vẫn không thể ngờ con người với tướng mạo, phong cách rất đàng hoàng mà vẫn ăn cắp.
 

      Ví dụ: Vào năm 2010 một lần vào tiệm bánh mỳ cao cấp, đương số ngang nhiên lấy cắp một số bánh mỳ bánh ngọt đắt tiền. Sau đó ngang nhiên yêu cầu cô bé bán hàng và người chủ cửa hàng phải trả thêm tiền hối. Cô bé bán hàng và người chủ khẳng định đương số chưa đưa tiền (có Tôi chứng kiến - nhưng vì Tôi là người đi cùng ai lại nhận người đi cùng với mình là loại ăn cắp !!!- bó tay đành im lặng thôi). Đương số cãi rằng đàng hoàng như đương số sao lại dám vu cho đương số ăn cắp ??? và nhất định đòi lấy thêm gần 100 ngàn của chủ cửa hàng.

     Nhưng nếu nói rộng ra thì cho đến nay đã nhiều tuổi rồi: toàn bộ tài sản đương số hiện đang có cũng được hình thành từ việc ăn cắp từ công sức trí tuệ tiền bạc và các mối quan hệ gia đình và bản thân của những người Phụ nữ đã từng ăn ở với đương số từng thời kỳ. Và của những người mà đương số gọi là bạn theo từng thời kỳ ngắn.
      Bản thân đương số không có trình độ làm kinh tế, các nghiệp vụ làm kinh tế. Nhưng bù lại đương số rất thông minh, nói rất giỏi - nhưng vẫn không biết làm nổi một cái hợp đồng hoặc một văn bản mang tính pháp quy vì cơ bản ngữ pháp và chính tả viết tiếng Việt nam còn bị sai nhiều lỗi.


      Đương số trong thời gian ở chùa, được một nhà sư truyền cho một số võ thuật phái thiếu lâm rất lợi hại. Sức khỏe của đương số rất khỏe, đến nay không có bệnh gì.
       Nghe kể lại khi ở chùa sống kham khổ, đương số đã có vài đứa đệ tử ra cầu ông Lãnh lăn hàng (ngoài bắc gọi là ăn cắp hàng rồi chuyền cho nhau). Với cái đầu cạo trọc lốc là người tu hành chẳng có ai nghĩ đương số là chủ mưu lăn hàng lấy tiền cùng mấy người bạn để có tiền ăn uống khá đầy đủ cả.


      Đã nhiều năm VM theo dõi và tìm hiểu đương số thấy tất cả các cung các cách của đương số đều rất vững - không thể có chuyện xấu xảy ra với đương số được. Không biết vì sao ???
       VM nếu là đương số thì cũng chẳng tự hào về số tài sản mà đương số trơ trẽn cướp được. Nhưng đúng là đương số khá giầu có mà rất nhiều người khổ và hận đương số. Lá số quả thực là rất thú vị.

  

http://phongthuythanglong.vn/lasotuvi/1/6/10/8/f07d1df1.jpg?1359242817
Lá số Nhân bàn - Địa bàn

 Nick: Giathi:

       Liêm trinh và Phá quân đồng độ ở Dậu, tính chất của hệ sao chủ về biến động, cho nên khả năng kinh doanh thường không phải là sở trường. Hệ "Liêm trinh Phá quân" chủ về khai sáng, mặc dù làm nhân viên dưới sự lãnh đạo cấp trên, nhưng được số vẫn luôn luôn đảm nhiệm công việc mang tính sáng tạo. Nếu công việc nhất thời không mang tính sáng tạo, thì dễ bị sai khiến đảm nhiệm thêm trọng trách.

       Theo lá số Nhân bàn, người có hệ "Liêm trinh Phá quân" lúc nhỏ thường sức khỏe không được tốt, hơn nữa, lại chủ về không có duyên với cha mẹ, cho đến khi lập nghiệp, phải trải qua nhiều biến động gian nan mới có thành tựu, thì cũng không chăm sóc được cha mẹ. Đây là do Nhân bàn chỉ ra rằng, tính chống đối luôn sẵn sàng túc trực bộc lộ.

        Lưu niên năm Bính có Liêm trinh nhập Kị, chủ về đã bị tai nạn giao thông, còn chủ về niên hạn sự nghiệp có biến động thay đổi, có khả năng mất việc hoặc thuyên chuyển công việc.

  Nick: VIETMAO

     Bác GiaThi cho VM bái là sư phụ nhé.
     Đương số năm 2006 Bính Tuất - đi xe máy phân khối lớn (vốn có tính thích chơi trội, oai) nên đã bị đo đường thảm hại gãy mấy cái xương sườn bên trái, xe hỏng nặng nắm viện cả tháng về nhà vẫn còn bị bệt vài tháng. Công việc lúc đó làm nhân viên thanh tra ăn bẩn, chọc ngoáy sếp lớn bị điều đi nhận việc làm mới ở tỉnh miền tây nên đương số đã bỏ việc chấm hết sự nghiệp liên quan đến nhà nước. Hết ô che không còn người đỡ đầu nữa.
 



trừ mê tín
Luận về tính chất và ý nghĩa của 12 cung địa chi ta chỉ có thể hiểu rõ thêm một phần nào khi ngoài căn cứ căn bản về 6 trục, tức dựa vào thiên văn, dịch lý tuần hoàn thăng giáng của Âm Dương độ, vị trí cao thấp của 12 cung, cần phải có kinh nghiệm của người nghiên cứu, một loại mang tính hoàn toàn cá biệt nhưng lại tối quan trọng đối với mọi khoa chiêm nghiệm của Đông Phương.

Nguyên ủy là do nền tảng về lý quá sâu xa, đôi khi mơ hồ, mâu thuẫn, hoặc quá cô đọng do người xưa để lại nên mỗi người nhìn mỗi khác. Kinh nghiệm tức là xem nhiều, tổng hợp, xắp xếp theo một khuôn khổ nào đó về vị trí, những việc tương đồng xảy ra dù bất luận năm tháng ngày giờ sinh như thế nào đều được ghi chép, gạn đục khơi trong để hy vọng một giải đáp mang tính mẫu số chung, từ đó mới hiểu rõ những sai biệt một cách đúng đắn, tuy sai biệt mà vẫn ẩn tàng và không ngoài cái tương đồng, cái thống nhất, có thế mới gọi là định mệnh.
Vị trí ta có thể tin tưởng để khảo sát là vị trí cung Mệnh.

Vì khoa Tử Vi tuy diễn tả sinh mệnh con người qua sự tổng hợp 12 cung như thập nhị nhân duyên, nhưng các cung khác sở dĩ mỗi cung đều có vị trí cùng nội dung riêng đều xuất phát từ vị trí cung mệnh. Cung Mệnh là cung đầu tiên trong sự thiết lập cho toàn lá số.
Trong 12 cung vị trí cao thấp giữa các cung được định bằng trục Tý Ngọ, trục Bắc Nam phân chia Âm Dương mà người xưa diễn tả bằng câu Thiên Khai Ư Tý với một hào dương xuất hiện trong quẻ Phục làm biểu tượng cho cung Tý. 
Tuần tự nhi tiến theo chiều kim đồng hồ đến cung Hợi ta được quẻ Thuần Khôn. Vậy hai cung Tý Hợi chính là các cung Đáy, cung thấp nhất trong 12 cung địa chị Trục Tý Ngọ tuy phân định âm dương, nhưng cái chính của sự phân định này nhằm diễn tả sự thăng giáng của âm dương bằng các hào về mặt Lý.

Đi vào thực tế, cung Tý tuy là cung thấp nhất, thuộc nghi âm, đáng lý nó phải là nơi lạnh nhất, nơi của tháng Tý trong một năm, nhưng thực tế cho thấy tháng lạnh nhất phải là tháng Sửu thuộc Tiết Đại Hàn nhằm ngày 21 tháng giêng dương lịch, và ngược lại tháng nóng nhất phải là tháng Mùi thuộc tiết Đại Thử nhằm ngày 23 tháng 7 dương lịch.


Như vậy trục Sửu Mùi là biến tướng của trục Tý Ngọ nhằm xác định sự phân chia quân bình về nóng lạnh, tức về thời tiết. Đã là thời tiết thì sự chuyển đổi giữa các mùa thường âm thầm, chậm chạp mà bền bỉ và rõ rệt (tạm thời ta bỏ qua các trường hợp đột biến về tháng nhuận, các đột biến do con người gây ra những thiên tai như hiệu ứng nhà kính, tầng ozone).


Từ đó ta có thể hiểu tại sao cách bất hiển công danh, hoặc sau 30 năm mới thành công của cách Âm Dương đồng cung, cách Vũ Tham đồng cung, cách Liêm Sát đồng cung, cách giáp Tham Vũ, giáp Liêm Sát là các cách chủ sự chậm chạp chỉ có khi Mệnh đóng tại trục Sửu Mùị Đối ảnh của trục này là trục Thìn Tuất cũng mang nghĩa tương tự.


Sự thăng giáng tuần tự của các hào âm và dương đi đến trục Dần Thân với 3 hào dương quân bình với 3 hào âm được quẻ Thái tại cung Dần (tam dương khai thái) và quẻ Bỉ tại cung Thân, tức trục Dần Thân là trục quân bình tốt nhất về âm dương (trục nào cũng có một cách quân bình âm dương dù có chệnh lệch giữa các hào âm và dương). Chính vì đây là nơi lý tưởng của sự quân bình âm dương nên nó là nơi xuất phát cho cục của mệnh và an chính tinh. 
Trục thẳng góc với trục Dần Thân là trục Tỵ Hợị Trục Tỵ Hợi cũng là trục quân bình âm dương, nhưng sự quân bình trong thế nghiêng lệch tuyệt đối với 2 quẻ Thuần Càn và Thuần Khôn. Sự quân bình này ví như một người đi trên một sợi dây căng thẳng trong đám xiếc, cho nên chỉ một cơ hội nhỏ nhoi, hoặc một sơ xuất bất kỳ (niệm khởi) ta có thể vươn nhanh ở dạng phát dã như lôi, hoặc bị nhận chìm vĩnh viễn và té nhào (sinh địa của Không Kiếp). Do tính chất này nên hầu hết các chính tinh đều hãm địa, và mệnh đóng ở đây đều là cách giang hồ lãng tử, hay gặp trở lực và còn được lý giải thêm khi so kè với các cung khác. 
Trục Mão Dậu thẳng góc với trục Tý Ngọ, là trục phân chia âm dương bằng các mùa, Xuân Hạ từ Mão tới Thân, Thu Đông từ Dậu tới Dần. 
Tháng Mão với quẻ Lôi Thiên Đại Tráng, sấm mùa xuân bắt đầu vang, sức sống của vạn vật mới mạnh, làm thức ngủ động vật, sự sống thực sự hiện diện chứ không còn ngủ vùi, cái ăn và tính gia đình, cộng đồng bắt đầu đem đến sự ràng buộc trong mọi sinh hoạt, nên phải chăng với ý này ngưòi xưa cho cung Mão là cung của Đông Trù Táo Quân?

Từ những dò tìm mang tính sơ lược trước các bí ẩn của các cung do tính chất của các trục, dựa vào các trục để chiêm nghiệm, nay ta thử dùng vị trí cung Mệnh ứng vào từng loại cung để thử tìm cái tổng quát tính chất của từng cung, xem có được một chút ánh sáng nào về vận mệnh cố hữu ẩn tàng trong từng cung hay không ? 

Trước tiên cần phải nhận định việc đi tìm tính chất cùng ý nghĩa tổng quát của từng cung đều dựa vào tính chất của các trục mà không dựa vào ngũ hành của cung vì lối an 14 chính tinh rõ ràng có sự liên kết, khóa ngàm giữa các sao bằng trục chứ không phải ngũ hành với 2 chòm sao Tử Phủ lấy trục Dần Thân làm căn cứ. 
Trường hợp Mệnh tại Tý. Đây là cung đáy cho nên cách này luôn cần phải có chính tinh tốt hợp hành Mệnh, cần nhiều trung tinh, tam hóa mới thành công. Do một hào dương đầu tiên xuất hiện tại đây nên là mẫu người mang tính cải cách, sáng tạo, tay trắng làm nên, hoặc quan niệm sống cùng đời sống thay đổi hoàn toàn với quá khứ, hành xử đôi khi mang tính táo bạo, nhiều tính tranh đấu, ít mang tính van lơn xin xỏ, giữ lập trường. 
Muốn được như vậy thì chính bản thân phải có những xảo thuật đặc biệt, khác người, dám nói dám làm. Chính vì vậy tại sao Quan Lộc ở Thìn luôn luôn cần Kình Dương, các sát tinh để làm lưỡi dao bén xé toang La Võng, một nhát lao vào cứu cánh một cách dứt khoát, hoặc là người có nghề hoặc ưa thích những gì tinh xảo, chế biến tài tình, nghệ thuật cao tay với cách Cơ Lương đồng cung. 
Do cung Điền tại Mão là cung của Đông Trù Táo Quân, chẳng những chủ về bếp núc theo nghĩa hẹp, nó còn chủ cái gia cang của gia đình, gia tộc, lớn hơn nữa là nhân loại theo nghĩa rộng, nên cách này thường là những lý thuyết gia, những nhà cách mạng, lãnh tụ tôn giáo, đại diện cho một trường pháị Mộng cao thì té cũng cao nên đời thường vương lụy vào pháp luật, sự ghen ghét, có thương tích, tàn tật, bệnh khó chữa, dễ gặp nguy khốn do quan niệm cứng ngắt của mình, phái nữ thì duyên nợ lận đận. 
Với cung Phúc ở Dần là nơi quân bình Âm Dương lý tưởng nên sự may mắn về gia thế, âm phần là đương nhiên, nhưng cũng chính vì vậy trong lòng luôn ôm mang giấc mộng lớn, luôn CẦU TOÀN trong công việc cũng như tình cảm. Vì Thiên Di tại Ngọ là nơi của Đế Tinh ngồi nên hay đi xa thì thành công, ngoại giao thì tốt lành. 
Cần lưu ý sự chiêm nghiệm này chỉ ở mức độ có các sao tốt, bình thường, nếu có nhiều sao xấu ở các vị trí nói trên ta cần phải luận đoán ngược lại, nhưng phần đại thể vẫn lấy từ đây làm căn cứ. 
Đối nghịch với cung Tý là cung Ngo.. Cung này là nơi cao nhất, nơi ngồi của đế tinh, triều đình, nội các nên trong cách hành xử ưa chuyện cao sang, quyền quý, chỉ đi khi gặp người đáng gặp, chuyện đáng cần. Đây là cách được Trời phú cho sinh ra đã được thế hơn người, thông minh, tài trí, phước lộc đầy đủ, nếu không như vậy thì chỉ gian nan trong một thời gian ngắn cũng có cơ hội gặp người tiến dẫn hoặc có cơ hội giữ được địa vị tốt. Vì là nội các nên tử huyệt của cách này là cung quan tại Tuất. 
Do đó đây là mẫu người làm được việc lớn, luôn có phong thái "người lớn, kẻ cả" đôi khi kiêu kỳ, nặng bề ngoàị Nên nếu gặp Tuần, Triệt, các sao không hợp cách ở Mệnh hay Quan thì chỉ là hư danh, chính khách salon, hoặc những chức vụ hữu danh vô thực. Cuộc sống tha hương, vô định chẳng có thực lực, mượn oai hùm, tốt hay xấu lúc này đều phải dựa vào cung Nô Bộc, Huynh Đệ ở Tỵ Hợi của trục Tỵ Hợi.

Cung Tử Tức tại Mão là cung Táo Quân nên nặng lo người nối dõi, hoặc đào luyện đệ tử theo ý hướng, truyền thống, trường phái của mình, tức có tính bảo thủ. Các cung Phúc Đức, Điền cũng tương tự như trường hợp tại Tý. 
Trường hợp cung Sửu thuộc trục Sửu Mùi, đây là chủ sự chậm chạp như đã được nói ở trên. Nếu đem so với các cung khác ta lại càng thấy ý nghĩa này càng rõ rệt. 
Mệnh ở Sửu thì Nô ở Ngọ là nơi ngồi của Đế tinh và cũng là cung lục hại của cung Sửụ Trường hợp này cho thấy phần lớn Mệnh ở đây thường cô độc, lụy vào bè bạn, tốt hay xấu đều tùy thuộc vào cung Nộ Huống chi cung Quan tại Tỵ thuộc trục Tỵ Hợi là trục có độ nghiêng tuyệt đối giữa các hào Âm Dương, lại gặp phải cung Ngọ chắn ngang đường đi, muốn tiến thì phải vượt qua nơi ngồi của Đế Tinh với nhiều công sức. Cho nên đường công danh hay gặp trở lực, hay thay đổi, dù vẫn có nghị lực, đôi khi liều lĩnh, nhiều sáng tạo, đời sống dù lang bạt nhưng vẫn chung sống với đồng hương, sống cùng với gia đình bên mình hay người hôn phối, công việc chức vụ đều có liên quan đến thân tộc tiến dẫn hay giúp đỡ qua lại (cung Phúc tại Mão, cung Táo Quân). Càng có nhiều sao tốt hậu vận càng thành công, tình gia tộc, bè bạn, cộng đồng tốt đẹp. Bằng trái lại số phận coi như bị đè nén, không có cơ hội thi thố, làm cũng ham mà vui cũng thích, hữu danh vô thực, chóng chán, bi quan, hoàn cảnh bên ngoài, người ngoài làm chủ thân mình khiến hay bị lụy thân, phong trần phiêu bạt, nghèo khó, mẫu người của lý thuyết, nghiên cứu, trong phòng thí nghiệm, tàng kinh các. 
Trường hợp cung Mùi thì lại khác, do cung này nhị hợp với cung của Đế Tinh nên đây là cách cố vấn, quân sư, cách làm thầy người, người tính khách khí, biện tài, mô phạm, sống chuẩn mực, lý trí mạnh hơn tình cảm, chịu khó, khởi đầu thường vất vả, ước mộng ban đầu về tình cảm, nghề nghiệp hay bị đứt đoạn do tính chất của trục Sửu Mùị Nếu thời trẻ tuổi sớm thành công hoặc muốn tiến nhanh thì lại dễ bị hỏng, thất bại nhanh chóng. 
Điểm kế tiếp là cung Quan tại Hợi là cung đáy cho nên muốn thành công phải có nghị lực, tài năng phi thường để vươn lên, đương đầu và kiên gan với những việc khó ai làm nổị 
Cung Phúc tại Dậu là cung Thiên Di thứ hai nên tha phương, hay lo hết chuyện này sang chuyện kia, không bao giờ để nước đến chân mới nhẩy, dễ đoản thọ hoặc hay có thương tích vĩnh viễn, bệnh khó chữạ 
Trường hợp cung Dần. Do cung này thuộc trục Dần Thân là trục quân bình âm Dương lý tưởng nhất và do cung Quan là cung Ngọ Đế Tinh nên vận mệnh thường chiều lòng người, dễ gặp cơ hội tốt, có sự nghiệp tốt đẹp, tài giỏi, vượng phu ích tử, có nghề tay trái đặc biệt hỗ trợ cho công danh,tình cảm. Hai cung Dần Ngọ dù có gặp sao xấu cũng không đáng lo ngại, cũng có lúc vươn lên hoặc xã hội cũng có cơ hội xắp xếp cho mình một vị trí yên ổn, nhất là cung Phu Thê ở Tý là cung đáy nơi xuất hiện hào dương đầu tiên sẽ giúp đỡ và nâng đỡ cho mình, nói khác đi cung này là nơi thoái thân của mình để trú ẩn. 
Đáng ngại nhất là cung Nô ở Mùi nhị hợp với cung Ngọ, nếu gặp sao xấu thì lại vất vả, khó gặp cơ hội hoặc người cứu vãn, suốt đời khó làm nên việc.
Trường hợp cung Thân. Tuy do cung này thuộc trục Dần Thân là trục quân bình âm Dương lý tưởng nhất nhưng cung Quan tại Tý là cung đáy dễ bị suy sụp khi gặp khó khăn, khó vươn lên, cần phải có chí bền. Do đó đây là mẫu người hăng say, suốt đời tranh đấu, tính toán, thích hợp các ngành kinh doanh, thương gia, kỹ nghệ gia, tay trắng làm nên. Nếu có xuất thân từ giàu có, danh giá thì đến đời mình cũng không còn được bao nhiêu, nhưng vẫn có thừa hưởng chút ít về gia tài hoặc nghề nghiệp, thời trẻ đã phải tha hương tự mình gầy dựng lạị 
Đây là kết quả của cung Phụ Mẫu ở Dậu, cung Điền ở cung Hợi là cung đáy, nơi phát sinh bộ Không Kiếp. 
Cung Đế Tinh tại Ngọ là cung Phu Thê rất quan trọng cho nữ hơn nam, có người hôn phối danh giá. Nhưng nếu có sao xấu và không hợp cách thường là người lận đận tình duyên, đảm đang mà hạnh phúc lợt lạt, nhiều mối lương duyên chật vật, ngang trái, hoặc sống cô độc. Nam thì đa thê nếu cung Tý gặp Tuần Triệt.

Trường hợp cung Mão : Do đây là cung Táo Quân chủ cái gia cang của gia đình, thân tộc nên làm gì cũng có dính líu đến người thân, đồng hương, bằng hữu, ưa thích tham gia vào những hiệp hội mang tính cộng đồng về xứ xở, ngành nghề, tôn giáo, có óc gia đình nên công việc hay có sự lôi kéo người thân tham gia . Như vậy sự tốt xấu đều tùy thuộc vào cung Mão và cung Phúc tại Ty.. 
Nếu các cung này xấu là người tha phương, nay đây mai đó, lạc lõng tình thương, mồ côi, nương thân nơi người khác, duyên nợ lận đận, khó khăn. Ngoài ra cung Dậu còn là cung Thiên Di thứ hai nên hay đi xa và càng làm gia tăng các tính nói trên.

Tuy nhiên vì cung Điền là cung Đế Tinh và cũng là cung Phúc thứ hai nên đi đâu cũng có nơi ăn chốn ở, hậu vận vẫn có nơi chốn cư trú yên ổn, trở về mái nhà xưạ Nếu lập nghiệp nơi xa cũng lôi kéo và là nơi trú ngụ tạm thời cho người thân. 
Đặc điểm tốt là cung Quan tại Mùi nhị hợp cung Ngọ Đế tinh nên thường thân cận với người có chức quyền, có tài, có khả năng giúp đỡ mình.

Trường hợp cung Dậụ Sách xưa cho là cung của thần phật, yếm thế. Phải chăng do đây là sinh địa của sao Thiên Hình chủ sự khắc khổ, sát phạt, hình phạt, hình thương, tù tội, nên mới đặt định như vậy ? 
Đứng về phương diện trục thì trục Mão Dậu phân chia qua mùa, sự tuần hoàn tuần tự, kế tiếp và liên tục từ xuân hạ sang Thu Đông rồi trở lạị . Nên hai cung Mão Dậu chủ sự thay đổi, biến động không bao giờ ngừng. 
Đứng về phương diện quẻ tháng 8 tại cung Dậu là quẻ Phong Địa Quán. Theo tượng quẻ, Tốn ở trên, Khôn ở dưới, là gió thổi trên mặt đất, tượng trưng cho sự cổ động khắp mọi loài, hoặc xem xét khắp mọi loàị Với các yếu tố này ta có thể xem cung Dậu là một loại cung Thiên Di thứ hai vậỵ

Nếu cho cung Mệnh tại Dậu thì cung Phúc tại Hợi, là cung đáy, thuộc trục Tỵ Hợi, nơi có sự quân bình âm dương nghiêng lệch nhất như đã nói ở trên. Cung quan tại Sửu thuộc trục Sửu Mùi, trục chủ sự biến đổi chậm chạp và luôn bị cung lục hại là cung Ngọ đế tinh kiềm chế, cản trở, cung Điền tại Tý cũng là cung đáy, cung tài tại Tỵ cũng thuộc trục Tỵ Hợi, cung Thiên Di tại Mão là cung táo quân chủ sự ràng buộc về gia cang và nhân thế. 
Xét về mặt trục và quẻ cũng như xét sự phối hợp tương quan giữa các cung với nhau đều cho thấy một phần nào cung Dậu được gọi là cung của yếm thế, trải qua bao mối buộc ràng trong nhân tình thế thái, tung hoành một thời sau cũng nghiêng về lẽ Đạo.

Do cung Dậu là cung Thiên Di thứ hai nên là mẫu người tha phương, bôn ba khắp chốn, dù trẻ tuổi có sống với gia đình nhưng lại hay thích ở nhà người, chòm xóm. Vận hạn công danh thay đổi liên tục khiến cho bản thân tự có bản lĩnh, tính cương quyết, nhiều mưu trí, có tay nghề khéo tinh xảo, hoặc có tài gia công chế biến vì luôn chú ý đến mọi tiểu tiết để phòng thủ, đôi khi có sự liều mạng để đương đầu, luôn mơ ước một nơi trú ẩn yên ổn dù là gia đình, vật chất hay tâm linh. Nếu gặp nhiều sao tốt thì công danh lên mạnh, có những đột biến trong đời, thỏa chí hạnh phúc, nặng tình gia đình lo toan mọi mặt (Phu Thê và Tử Tức là hai cung nhị hợp Ngọ và Mùi). Nếu gặp nhiều sao xấu trong các cung trên thì suốt đời bị đè nén, phát nhanh tàn nhanh, hay gặp hiểm nguy, người thân trong gia đình hay gặp chuyện không may, sống đời cô độc, thoát ly trần tục.

Trường hợp cung Thìn. Do cung Thìn là cung Thiên La nên ở đây cần Tuần, Triệt hoặc hung tinh đắc cách nhất là Kình Dương để mở lưới giăng trên đầu, giải trừ hung họạ Đây là mẫu người tuổi trẻ thường chịu nhiều vất vả nhưng có tính chiến đấu rất cao, giỏi chịu đựng, có niềm kiêu hãnh riêng trong lòng (cung Phúc tại Ngọ Đế tinh), dám làm bạo, chủ trương táo bạo và quan niệm sống khác người, không có sự cầu xin. Cung nhị hợp là cung Dậu, loại cung Thiên Di thứ hai, nên ra ngoài thành công hay thất bại tùy thuộc rất nhiều vào cung nàỵ

Trường hợp cung Tuất. Do cung Tuất là cung Địa Võng nên ở đây cũng cần các sao như trường hợp ở cung Thìn. Vị trí cung này tốt hơn vì dù sao cung Tài vẫn là cung Ngọ Đế tinh, cung Quan ở Dần là nơi sinh ra Cục, vị trí âm dương quân bình nhất nên là người mẫu mực, thẳng thắn, óc thực tế với thân phận hiện tại và thời cuộc, dễ thành công, biết hài hòa giữa tham vọng và sự thiệt hạị Cho nên dù gă.p sao xấu đời có lúc tăm tối nhưng cũng có cơ hội vươn lên nhờ không chạy theo hào nhoáng

Trường hợp cung Ty.. Do thuộc trục Tỵ Hợi vốn dĩ thế quân bình âm Dương đã bị nghiệng lệch tuyệt đối, lại thêm cung Dậu là cung Thiên Di thứ hai nên là cách phiêu bồng giang hồ, đa tình, đa lụy, đa sầu, xuất ngoại là tốt hơn hết. Tuy nhiên nếu gặp sao tốt và hợp cách trở thành người lịch lãm, phong lưu khoái lạc, đời thong dong, thích hợp những ngành nghề lưu động, thuyết phục, ý tưởng, như quảng cáo, du lịch, tư vấn, ngoại giao, bán bảo hiểm, chủ hụi, vận chuyển, thông tin, tin chuyện đồng bóng, huyền bí và làm từ thiện, tu hành đạo đức, nhà nghiên cứu, học giả.

Trường hợp cung Hợi cũng giống như trường hợp cung Tỵ, nhưng vì là cung đáy và cung Mão với quẻ Lôi Thiên Đại Tráng, cũng là cung Táo Quân, nên tuy vẫn là cách giang hồ phiêu bồng, chóng chán, nhưng cũng có lúc phát nhanh tàn nhanh trong cơ nghiệp.

Nói chung ở đây chỉ nêu ra những kinh nghiệm đã từng ứng dụng trong việc tổng hợp phân loại trên nhiều lá số. Vấn đề còn nhiều bí ẩn, vì tính chất căn bản của mỗi cung đã bị các sao làm đảo lộn khá nhiều nên khó có thể nhìn thấỵ . Cần nêu ở đây là ta vẫn có niềm tin rằng qua sự phân định của các trục , ắt hẳn mỗi cung phải tồn tại một tính chất riêng tư nào đó , làm căn bản nhằm giải thích những trường hợp về khởi điểm của các sao, sự mâu thuẫn vị trí đắc hãm khi dựa vào ngũ hành, cùng tính chất đặc thù của chúng, cũng như xem các cung đại hạn, tiểu hạn.

      Mệnh tọa cung Ngọ, sao Tử vi nhập mệnh nơi miếu địa, nếu không gặp hai sát tinh Kình dương và Đà la hoặc sao Hóa Kị, là mệnh cách cục hướng Ly minh, lại gặp tam hội cùng chiếu Thiên phủ, Vũ khúc, Thiên tướng nên cũng là mệnh cách "Tử Phủ triều hằng", được xuất sắc hơn người, kiến giải độc đáo, lý tưởng cao siêu, khí độ hơn người, được thanh cao phúc thọ, cuộc sống sung túc phú quý song toàn. Nếu là mệnh nữ thì có thể giúp chồng lợi con, cao quý đoan trang. Nếu không có Tả phụ Hữu bật phò tá, thì khó tránh khỏi tinh thần cảm thấy cô độc mà tính khí khá thô bạo.

      Mệnh tọa cung Tý, do sức mạh phò tá của 6 cát tinh có hạn, bản thân lại không có lực, kị nhất xung với 6 sát tinh, dễ trở thành người vì có lý tưởng mà không thể hành động, do đầy bụng oán trách mà trở nên bảo thủ. Mệnh nữ là viên ngọc đẹp không tỳ vết, về sau diện tướng rất ưa nhìn.


      BỐ CỤC SAO

      Sao Tử vi tại cung Tý Ngọ, đều là độc tọa, tại cung Tý là ở thế bình (chú thích: độ sáng của các sao tại các cung chia thành 7 cấp: miếu, vượng, địa, lợi, bình, không đắc địa, hãm). Lúc này cung đối diện là Thiên di có Tham lang ở thế vượng chiếu vào, cung Tài bạch có 2 sao Thiên tướng nhập miếu Vũ khúc ở thế địa, cung Quan lộc có 2 sao Thiên phủ nhập miếu còn Liêm trinh ở thế lợi, cùng tam hợp hội chiếu.  



Tử vi +3
Thất sát 0
Tử vi +4
Tử vi +4
Phá quân +3
Tử vi +3
Thiên phủ +2
Tử vi +2
Thiên tướng +2


Tử vi + 3
Tham lang +1
Tử vi +3
Tham lang +1


Tử vi + 2
Thiên tướng +2
Tử vi +3
Thiên phủ +3
Tử vi +4
Phá quân +3
Tử vi 0
Tử vi +3
Thất sát 0

      VẬN MỆNH CƠ BẢN
      Khi sao Tử vi tọa thủ mệnh tại hai cung tý Ngọ, do nhiều nhất chỉ có thể có được một trong hai sao Tả phụ hoặc Hữu bật đồng cung hoặc cùng chiếu, vì vậy lực lượng của phụ tá không đủ, là có cá tính độc lập, tính khí thô bạo, tinh thần dễ cô độc, chí lớn khó kéo dài.

      Nếu tọa thủ tại cung Ngọ nhập miếu thì cát lợi hơn nhiều so với tọa thủ tại cung Tý ở thế bình. Do cung đối diện là cung Thiên di có sao Tham lang xung chiếu nên là người thích thể hiện, ưa kích thích, thích cuộc sống ở nơi đô thị, thích đào hoa nên cuộc sống có nhiều thay đổi, cần phải tự mình nên biết kiềm chế sắc dục, dành thời gian hướng tới học hỏi phát triển.   

      
       Cung Tài bạch có Thiên tướng ấn tinh và Vũ khúc tài tinh nên tài vận hanh thông, giỏi quản lý tài chính và gây dựng sự nghiệp kinh doanh, đa phần có thể tự tay làm nên sự nghiệp, là người hào phóng trong vấn đề tiền bạc, khi gặp khó khăn thường có quý nhân phù trợ, tiền tài có nhiều nguồn, trong giới tài chính, công thương nghiệp có thể được thành đạt lớn.

      Cung Quan lộc có sao Thiên phủ Liêm trinh, là người rất chuyên chú vào sự nghiệp, nhậm chức công việc nhà nước, đa phần có thể thể hiện tài hoa, hồi trẻ thiếu ổn định, đến tuổi trung niên thì được phát triển, có thể thu được thành công ngoài ý muốn.


      VẬN MỆNH CỦA CÁC NĂM SINH KHÁC NHAU

      Người sinh năm Giáp: Sao Liêm trinh tại cung Quan lộc hóa Lộc, sao Vũ khúc tại cung Tài bạch hóa Khoa. Cung vận rất tốt, công việc thuận lợi, thời trẻ khó phát huy tài năng, đến tuổi trung niên dần dần bộc lộ, về già được yên ổn, cẩn thận đề phòng nữ sắc; có danh vọng tiền tài ổn định, mọi việc đều theo ý mình, thường phát triển sau tuổi tráng niên thì tài danh có thể giữ vững.    

      Mệnh tọa thủ tại cung Ngọ, với những người sinh năm Giáp Thân, Giáp Tý, Giáp Thìn; hoặc mệnh tọa thủ tại cung Tý với những người sinh năm Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất, các sao Lộc Tồn Thiên mã (mệnh mã), Thiên tướng  tại cung Tài bạch tam hợp cùng chiếu cung mệnh, nếu không có Hỏa tinh và Linh tinh xung chiếu, thì là mệnh cách "Lộc Mã phối ấn" quyền lớn tiền nhiều, càng bôn ba càng có nhiều tiền của, thường có cơ hội phát tài, chuyển chức, chuyển nghiệp khi thay đổi môi trường, trong đời có nhiều cơ hội đi du lịch.


      Người sinh năm Ất: Sao Tử vi của cung mệnh hóa Khoa, trong cuộc sống tất có quý nhân tương trợ, trong nghiên cứu học thuật tất có biểu hiện xuất sắc, mệnh tọa thủ tại cung Ngọ thì càng được cát lợi. Mệnh tọa thủ tại cung Tý với người sinh năm Ất Kỷ, hoặc mệnh tọa thủ tại cung Ngọ với người sinh năm Tân, hai quý nhân Thiên khôi Thiên việt tại cung mệnh, cung Tài bạch tam hợp cùng chiếu là mệnh cách "Thiên ất củng mệnh", là người giỏi văn chương, được quý nhân tương trợ.


      Người sinh năm Bính: sao Liêm trinh tại cung Quan lộc hóa Kị nên trong công việc thường hay tiếc nuối, đa phần thích đầu cơ nhưng không được thuận lợi mà bị rơi vào nghịch cảnh; nên đề phòng việc hành chính Quan phủ, nam mệnh thường hay sống dựa dẫm vào phụ nữ.

      Mệnh tọa thủ tại cung Ngọ với người sinh năm Bính Mậu có Kình dương nhập cung Mệnh, là Mệnh cách "Mã đầu đới tiễn" không chết yểu cũng chủ về hình thương, nơi mình thích lại không thể an cư mà phải sống tha hương phiêu bạt vô định. Đến đại vận và tiểu hạn hoặc lưu niên thì dễ sinh chuyện thị phi bất lợi cho vợ con. Nếu bị bệnh, tàn tật ở tuổi trung niên thì phải đặc biệt lưu ý đến sức khỏe.

      Người sinh năm Mậu: sao Vũ khúc của cung Tài bạch hóa Lộc, sao Tham lang ở cung Thiên di hóa Quyền, thì có đường phát tài, tài lộc phong hậu mà có sức mạnh, thích nắm quyền  

 

 
      



 

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.