bài viết trong chuyên mục "địa lí phong thủy"

Hiển thị các bài đăng có nhãn địa lí phong thủy. Hiển thị tất cả bài đăng


Ngôi mộ phát 18 đời thượng thư: Những thăng trầm của dòng họ Trần Đình làng Hà Trung
Tác giả : GS Nguyễn Lý-Tưởng 






  Địa lý phong thổ là một trong những môn học của Đông Phương, đặc biệt, người Trung Hoa thường nghiên cứu và tin tưởng vào sự ứng nghiệm của phong thổ, địa thế, hướng nhà, mồ mả người chết... Họ cho rằng những yếu tố đó có ảnh hưởng đến sự hưng thịnh của những người liên hệ: Chủ nhà, chủ đất hoặc con cháu người chết...


   Tôi thường đi đó đây, nghe được nhiều chuyện về địa lý, phong thổ, đọc được những tài liệu về các dòng họ có tên tuổi trong lịch sử, hoặc được ghi chép qua gia phả, sử sách. Dòng họ nào cũng có nơi phát tích, cũng có những câu chuyện được truyền tụng trong con cháu, trong nhân dân, nơi sinh quán của mình. Những câu chuyện đó có mục đích chứng minh rằng các nhân vật nổi tiếng trong sử sách và mồ mả của họ hoặc “chính” hoặc “tà” đều chịu ảnh hưởng bởi địa lý, phong thổ và mồ mả tổ tiên của họ.


   Địa lý phong thổ đúng hay không là do niềm tin của mỗi người. Nhưng đối với người Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam... từ vua chúa đến thường dân, người ta vẫn tin điều đó. Dòng họ nào từ bình dân mà phát lên vương hầu cũng đều có một huyền thoại về địa lý phong thổ.

28 điều kiện về huyệt mộ trong phong thủy học


“28 yếu” là một trong 10 bí quyết của Cửu Ca. Đó là 28 yêu cầu về long, huyệt, sa, thủy của huyệt mộ bao gồm:
(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

1. Long phải sinh vượng nghĩa là long mạch phải dài, khí đến thì huyệt kết.

2. Long mạch phải nhấp nhô nghĩa là khí đi theo triền núi ở trong đất đến huyệt mộ, nếu không lên xuống sẽ bị đứt mạch khí và không đến được huyệt mộ.

3. Mạch phải nhỏ vì mạch lớn khí sẽ bị tản.

4. Huyệt phải tàng thì mới giữ được khí mạch, tàng phong.

5. Lai long phải gặp huyệt cát có nghĩa là long mạch phải gặp huyệt tàng phong đắc thủy thì huyệt mới kết phát.

6. Đường phải rộng, sáng, phẳng có nghĩa là minh đường phải rộng, sáng, phẳng thì mới giữ được khí, gió, thủy.

7. Sa phải sáng có nghĩa là gò Thanh Long, gò Bạch Hổ phải rõ ràng, sáng sủa.

8. Thủy phải đọng nghĩa là nước phải ngưng đọng, bao bọc huyệt mộ.

9. Sơn phải bao nghĩa là núi bao quanh huyệt mộ. Câu này có ý chỉ triều mộ và gò hướng mộ.

10. Thủy phải ôm là dòng nước chảy phải ôm huyệt mộ.

11. Long phải miên là gò Thanh Long “ngủ”, ý nói gò Thanh Long phải nhu thuận.

12. Hổ phải thấp có nghĩa là gò Bạch Hổ không được cao hơn gò huyệt.

13. Án phải gần có nghĩa Án Sơn phải ở gần huyệt mộ.

14. Thủy phải tĩnh tức là dòng nước phải trong, tĩnh lặng, không được chảy ồ ạt.

15. Tiền có quan ý chỉ trước mộ phải có tinh quan (gò nhỏ).

16. Phòng có thần là chỉ sau mộ phải có quỷ tinh (gò nhỏ).

17. Hậu có chẩm lạc nghĩa là sau mộ phải có gò nhỏ như chiếc gối.

18. Hai bên có giáp chiếu nghĩa là 2 bên mộ phải có gò nhỏ như 2 tai mộ để bảo vệ mộ.

19. Thủy phải giao là chỉ các dòng nước phải giao nhau và bao bọc lấy huyệt mộ.

20. Thủy Khẩu phải có gò che chắn là nói cửa sông phải như cái hom, nước vào không bị tản đi.

21. Huyệt phải tàng phong là chỉ huyệt phải được núi, gò bao bọc và có gió tụ ở bên trên huyệt.

22. Huyệt phải tụ khí là nói huyệt phải có núi, sông, gò bao bọc và có khí tụ.

23. Bát quốc không được khuyết có nghĩa là 8 hướng đều có núi và gò che chắn.

24. La Thành không được tản là chỉ các núi bao bọc như la thành không được tản mát.

25. Núi không được lõm chỉ các núi có long mạch và không được lõm, trũng.

26. Thủy không được phản cung ý chỉ dòng nước không được quay lưng vào huyệt mộ mà phải chảy bao quanh mộ.

27. Đường phải vuông vắn là chỉ minh đường phải vuông vắn, rộng lớn.

28. Núi phải cao là chỉ các núi như Thái Tổ Sơn, Thiếu Tổ Sơn, Phụ Mẫu Sơn, gò mộ, Án Sơn, Triều Sơn, gò Thanh Long, gò Bạch Hổ phải cao.

ÂM DƯƠNG
GIỚI THIỆU VỀ HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
Âm dương là một học thuyết tối cổ, đa dạng phức tạp và la một trong cửu lưu (Nho gia, Đạo gia, âm Dương gia, Phật gia, Danh gia và Mặc gia, Tung Hoành gia, Tạp gia, Nông gia) của xã hội Trung Hoa cổ.
Âm dương còn gọi là "lưỡng nghi", "thư hùng", "kỳ ngẫu"..vv. Hình tượng của âm dương được biểu thị trong hình tròn "Thái cực" chia ra làm hai phần đen trắng: trắng là dương, đen là âm. Trong phần đen có 1 chấm trắng và trong phần trắng có 1 chấm đen (biểu thị trong dương có âm, trong âm có dương. có sách cho rằng âm trưởng dương tiêu, dương trưởng âm tiêu, âm dương hòa hợp phối nên vạn vật. Thuần âm hay thuần dương gọi là cô âm và cô dương, không thể tạo nên sự vật).
Theo sử sách, học thuyết âm dương xuất hiện rất xa xưa - từ thời vua Phục Hy thấy con long mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà. Nhìn vào chấm đen chấm trắng trên lưng con vật này mà phân biệt âm dương. Đến đời vua Hạ, âm dương được chép lại bằng vạch liền/vạch đứt: vạch liền là dương, vạch đứt là âm. Và cũng từ hai vạch liền/đứt này phối hình thành tứ tượng, thành bát quái, rồi bát quái hình thành lên bộ dịch - một đạo rất lớn đối với các học thuật cổ Trung Hoa.

NỘI DUNG CỦA ÂM DƯƠNG
Âm dương có thể chuyển hóa lẫn nhau, đồng thời lại dựa vào nhau mà tồn tại phát sinh (theo Lão tử thì âm dương chỉ là trạng thái khác nhau khi 1 khí vận hành, thăng lên là dương, hạ xuống là âm). Quy luật của âm dương là:
  • Tiêu, trưởng: âm trưởng thì dương tiêu, dương trưởng thì âm tiêu
  • Chuyển hóa: âm chuyển hóa (hay biến) ra dương, dương chuyển hóa (biến) ra âm.
  • Biến thông: âm dương khi chuyển hóa thì vận hành, vận hành thì thông (nên gọi là biến thông). Âm dương không thông thì trời đất không tồn tại. Sự biến hóa của âm dương xét về lý thì gọi là "đạo", xét về hình thì gọi là "khí".
VẬN DỤNG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG TRONG MÔN PHONG THỦY
24 sơn phân biệt âm dương
Posted Image</p>
Áp dụng học thuật âm dương vào môn phong thủy, trong 24 sơn của la kinh người ta phân biệt ra âm sơn và dương sơn, căn cứ vào "long nhập thủ" mà phối hợp hướng: âm long dùng âm hướng, dương long dùng dương hướng.


24 sơn trong tam nguyên long huyền không lập mệnh
Posted Image


Khi lập trạch mệnh bàn "cửu cung ai tinh huyền không", theo âm hay dương của sơn như trên, khi tinh nhập trung cung biết phi thuận hay phi nghịch.

Thế đất, thế thủy âm hay dương
Khi ra thực địa thực hành phong thủy, phong thủy gia phải phân biệt được âm dương của thế đất/thế thủy:
  • Âm là gò cao, khí trầm sâu;
  • Dương là bình địa, lõm trũng khí phù cạn.
  • Âm long là thế đất từ hữu (phải) chạy sang tả (trái). Gọi là "hữu hành".
  • Dương long là thế đất từ tả (trái) chạy sang hữu (phải). Gọi là "tả hành"
Áp dụng: trong pháp thức "Thập nhị thần", khi áp dụng khởi chia ra ra làm hai phần: dương thuận (1), âm nghịch (2), chính là dựa vào quan sát thế đất trên thực tế mà phân biệt ra dương long hay âm long, từ đó mới biết khởi thuận hay khởi ghịch theo pháp quyết trên (dương long khởi thuận, âm long khởi nghịch). Do đó, đối với người chưa nắm bắt được yếu quyết này thì "đất sinh thành tử, đất tử thành sinh là vậy. Đó là về sơn, còn về thủy:
  • Thủy lưu âm: là dòng chảy từ phía hữu (phải) qua phía tả (trái)
  • Thủy lưu dương: là dòng chảy từ phía tả (trái) qua phía hữu (phải)
Long cục và thủy hướng phải nghịch hành phối nhau mới cát tường, tức là long cục âm hành thì phải kết hợp với thủy cục dương hành; long cục dương hành thì phải kết hợp với thủy cục âm hành. Đó là nguyên tắc âm dương hòa hợp của thế đất thế thủy, còn nếu long và thủy đồng hành với nhau thì dù có hợp mạch với nhau cũng ít cát tường.

Thập can, 12 chi, bát quái phân âm dương
Posted Image


Khi sử dụng phi độn các tinh trực ngày và giờ lần lượt nhập trung cung (cửu cung), để biết độn thuận hay độn nghịch phải biết thời gian lúc bấy giờ là âm độn hay dương độn.
Nhà cửa thì gọi là dương trạch hay dương cơ, phần mộ thì gọi là âm trạch hay âm phần. Khi làm nhà, xây dựng phòng ốc đều phải lấy số dương/lẻ để thiết kế: cột, kèo, cấp cầu thang, gian phòng, gian nhà..vv.
Mưa là âm, gió là dương; lạnh là âm, nóng là dương. Bên ngoài là âm, bên trong là dương. Bên tay phải là âm, bên tay trái là dương nên gọi là nam tả nữ hữu. Hướng Tây là âm, hướng Đông là dương. Sườn núi phía Bắc là âm, sườn núi phía Nam là dương; bờ sông tính từ trên thượng nguồn xuống thì bờ Nam là âm, bờ Bắc là dương.
Về y học thì hàn là âm, nhiệt là dương. Hư là âm, thực là dương. Huyết là âm, khí là dương. Tạng là âm, phủ là dương. Bụng là âm, lưng là dương. Ức chế là âm, hưng phấn là dương.

Phi độn
Dương thì phi độn thuận cung ->từ nhỏ tới lớn. Khởi dương thì tính thuận từ trái qua phải, tuần tự theo thứ tự của Can Chi trong la kinh.
Âm thì phi độn nghịch cung -> từ lớn tới nhỏ. Khởi âm thì tính nghịch từ phải qua trái, ngược với thứ tự của Can Chi trong la kinh.

Kết luận
Âm hay dương rất quan trọng, chỉ cần lẫn lộn âm dương thì việc thành hóa bại, việc đúng hóa sai. Nhất thiết khi dùng phải thật rành rẽ âm dương. Trong phong thủy có hai nguyên tắc: âm lai, dương thụ; dương lai, âm thụ rất quan trọng trong việc xác định huyệt vị:
  • Nơi đất bằng phải tìm huyệt nơi gò cao, thế đất cao để táng mộ
  • Nơi đất gò đồi phài tìm huyệt tại chỗ đất bình hay lõm để táng mộ
  • Nơi khí gấp gáp, cương mãnh phải tìm nơi hòa hoãn mà táng
  • Nơi khí hòa hoãn phải tìm nơi khí gấp gáp mà táng
  • Nơi âm thịnh phải tìm được chỗ dương suy
  • Nơi dương thịnh phải tìm được chỗ âm suy
Đó là quy tắc "thư hùng giao hội", ngưỡng phục sắp bày. 

Hợp khâm thủy trong phong thủy học gọi là gì?

“Khâm” là tà áo; hợp khâm thủy chỉ dòng nước trên phân, dưới hợp để ngăn khí mạch ở xung quanh tiểu minh đường.


(Hình minh họa)

Các nhà phong thủy cho rằng, minh đường trước huyệt mộ là nơi chúng thủy triều hội. Dòng nước ở trên mộ phân nhánh từ đầu, đến chân sẽ hợp, bao bọc minh đường. Đó là: “Tam phân, tam hợp”.

Thực ra phân càng nhiều càng tốt. Các núi sau mộ phân ra gò Thanh Long, gò Bạch Hổ, nước cũng từ các núi sau mộ phân nhánh theo núi vòng quanh, hợp trước Long Hổ. Trung long mạch đến gần huyệt sẽ lồi lên bao, sinh ra 2 cánh gọi là thiền dực (cánh ve).

Dòng chảy phân nhánh bao theo và hợp ở trước cánh ve tạo thành chữ bát lớn. Long mạch lại sinh ra gò cứng gọi là cầu thiềm (hiên tròn). Nước từ cầu thiềm lại phân chảy sang 2 bên, hợp trước huyệt mộ, tạo thành chữ bát nhỏ.

Dưới cầu thiềm có một hình tròn lõm gọi là táng khẩu, dưới táng khẩu là tiểu minh đường. Bên trái, bên phải gọi là tiểu minh đường còn gọi là ẩn sa, hợp trước tiểu minh đường gọi là cầu chiêm (râu huyệt). Nước lại vòng râu huyệt gọi là hạ tu thủy (nước râu tôm). Chỗ dưới huyệt có vùng nước ẩn hình gọi là cực vưng thủy (nước vầng cực). Nước tiếp tục chảy, nếu chảy vòng quanh bao huyệt mộ tầng tầng, lớp lớp thì gọi là hợp khâm thủy. Nó là bằng chứng long mạch kết huyệt.

Bộ Tứ Linh

Bộ Tứ Linh trong phong thủy

Con rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Rồng là tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng Thiên Tử (Bệ Rồng, Mình Rồng), là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh "Long, Lân, Quy, Phụng".
* HÌNH TƯỢNG CON RỒNG
Rồng là vua của loài có vảy, có tài biến hóa, làm tối được, làm sáng được, làm lớn được, làm nhỏ được, nhằm tiết xuân phân thì lên trời, nhằm tiết thu phân thì xuống biển hay xuống đất. Kinh Phật nói: "Long thường tại định, vô hữu bất định thì." Nghĩa là: Rồng thường ở vào thiền định, không có lúc nào chẳng thiền định.
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương Đông hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong con vật linh thiêng này là trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh... Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở mỗi nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội ở mỗi nước.
Con rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Rồng là tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng Thiên Tử (Bệ Rồng, Mình Rồng), là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh "Long, Lân, Quy, Phụng". Dân tộc ta có truyền thuyết về con Rồng từ rất sớm bởi nó gắn liền với mây, mưa, với việc trồng lúa nước, với sự tích "Con Rồng Cháu Tiên"... Hình ảnh con rồng đã dần dần ǎn sâu vào tâm thức của người Việt. Hà Nội là thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên: Thăng Long (rồng bay). Vùng Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ), một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước. Đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được làm nên bởi dòng sông mang tên Cửu Long (chín rồng). Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê, rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.
Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống... và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: đầu rồng giống như đầu đà, mắt quỷ (có lúc giống mắt thỏ), sừng nai, tai bò, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, bụng con giao, vảy cá chép/cá ly, chân cá sấu/cọp, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.
 Rồng qua các thời kỳ lịch sử
 Qua thời kỳ Bắc thuộc dài đằng đẵng, con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Hình ảnh "Rồng bay lên" Thăng Long tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, được đem đặt cho đất đế đô. Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nước nên luôn luôn được tạo trong khung cảnh của nước, của mây cuộn.
Triều Lý dựng đô, vua Thái Tông cho mở hàng quán chen chúc sát tới đền rất huyên náo. Vua thấy đền cổ bèn sửa sang lại làm nơi thờ thần. Đến đêm, thần hiển linh nổi trận gió Bắc rất to, các nhà bên đều đổ hết, chỉ còn đền thờ. Vua mừng nói: "Đó là thần Long Đỗ coi việc nhân gian". Hình Rồng thời Lý được trang trí ẩn hiện trong hình lá đề, cánh sen giỡn sóng, ở bệ tượng đức Phật Adiđà, Quan Âm... Rồng thời Lý có thân hình tròn trặn, uốn lượn nhiều khúc, dài và nhỏ dần về phía đuôi, có dáng dấp gần gũi với loài rắn nhưng đầu Rồng có tỷ lệ cân đối so với thân, chân nhỏ, mảnh, thường là 3 ngón. Rồng thời Lý nhẹ nhàng, thanh thoát. Những khúc uốn hình chữ S gần như không thể thiếu. Rồng được trang trí trong chùa tháp, cung điện có đầu ngẩng cao, mồm há rộng giỡn ngọc, mào hình ngọn lửa hướng về phía trước, tai bờm, râu rồng vút nhỏ dần chuyển động như bay lượn tạo nên bố cục chặt chẽ. Nhìn tổng thể, Rồng Lý tạo ra vẻ đẹp thẩm mỹ thuần khiết, cách điệu sống động như một tuyên ngôn độc lập có giá trị đến ngày nay về mỹ thuật của Rồng Đại Việt.
Rồng thời Trần tuy có thừa kế những yếu tố cơ bản của thời Lý nhưng đã có những biến đổi về chi tiết. Dạng tự chữ "S" dần dần mất đi hoặc biến dạng thành hình con, đồng thời xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay. Đầu rồng uy nghi và đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng. Có vảy như những nửa hình hoa tròn nhiều cánh đều đặn, có vẩy chỉ là những nét cong nhẹ nhàng.
Rồng thời Lê thay đổi hẳn. Rồng không nhất thiết là một con vật mình dài uốn
lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến. Cũng chính bắt đầu từ thời đại này xuất hiện quan niệm tứ linh (bốn con vật thiêng) tượng trưng cho uy quyền của vương triều Rồng đứng đầu trong tứ linh. Ba vật thiêng kia là Lân (tượng trưng cho sự thái bình và minh chúa), Quy (con rùa - tượng trưng sự bền vững của xã tắc) và Phụng (tượng trưng cho sự thịnh vượng của triều đại).
Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.
Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ... Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vảy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.
Hình tượng Rồng còn huyền bí về long mạch, thuyết phong thủy nơi đất phát đế vương mộ táng. Chuyện mộ táng hàm Rồng, chúa Trịnh phát tích, sách Trung Hưng Thực Lục viết: "Ông già Tống Sơn giỏi phong thủy thấy Trịnh Liễu cầy ruộng lại siêng học hành, đức hạnh bèn giúp đặt mộ nơi huyệt khí quý xứ Nanh Lợn. Đêm ấy trời đất chuyển động, mưa gió nổi to... trên mộ có vầng sáng ánh trăng, xa trông có Rồng đen ấp lên trên. Tống Vương nói: "Rồng vàng là đế, rồng đen là vương...". Quả nhiên, đến 4 đời sau thì nhà Trịnh phát vượng...".
Rồng tượng trưng cho sự phồn vinh và sức mạnh của dân tộc, nhanh chóng trở thành hình tượng biểu hiện uy quyền của Nhà nước phong kiến, chỉ dùng nơi trang trọng nhất của cung vua, hay những công trình lớn của quốc gia. Đã có thời triều đình phong kiến chạm khắc hình rồng trên nhà cửa hay đồ dùng gia đình. Nhưng sức sống của con Rồng còn dẻo dai hơn khi nó vượt ra khỏi kinh thành, đến với làng quê dân dã. Nó leo lên đình làng, ẩn mình trên các bình gốm, cột đình, cuộn tròn trong lòng bát đĩa hay trở thành người gác cổng chùa. Rồng còn có mặt trong những bức tranh hiện đại phương Đông, biểu hiện một mối giao hòa giữa nền văn hóa xa xưa bằng những ý tưởng mới mẻ kỳ lạ. Rồi con Rồng lại trở về với niềm vui dân dã trên chiếc bánh trung thu của mọi nhà.
Quả thật, hình tượng Rồng rất thân thiết trong tâm thức người dân Việt Nam. Các triều đại vua chúa xưa đưa múa Rồng truyền thống trở thành loại hình múa nghệ thuật (múa tứ linh Lê-Trịnh). Rồng trong đời sống dân gian được thể hiện rất phong phú: có múa Rồng trên sân đình trong lễ hội, trò chơi trẻ con Rồng rắn lên mây, hình ảnh Rồng xuất hiện
* HÌNH TƯỢNG CON LÂN
 Lân, hay kỳ lân, là một trong 4 linh vật của tứ linh theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tượng trưng cho sự thái bình và minh chúa. Lân cũng tượng trưng cho những gì là lộc phúc, may mắn, thịnh vượng. Lân có dung mạo kỳ dị là một hình tượng nghệ thuật được thêu dệt từ trí tưởng tượng của người xưa nhưng đồng thời ẩn chứa trong đó một sức mạnh tâm linh lớn lao.
 Lân có đầu nửa rồng nửa thú, đôi khi chỉ có một sừng, do không húc ai bao giờ nên sừng này là hiện thân của từ tâm. Phần nhiều lân có sừng nai, tai chó, trán lạc đà, mắt quỷ, mũi sư tử, miệng rộng, thân ngựa, chân hươu, đuôi bò. Thực ra trong tạo hình của người Việt chúng không tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc này. Chúng thường được thể hiện trong tư cách đội tòa sen làm chỗ dựa cho Văn Thù bồ tát hay các Hộ Pháp, và nhiều khi ngồi trên đầu cột cổng hay xuất hiện trên mái nhà. Trong những tư cách này chúng xuất hiện cho sức mạnh của linh vật tầng trên, cho trí tuệ và như thể chúng có khả năng kiểm soát tâm hồn những người hành hương.
Một dáng hóa thân khác của kỳ lân là con long mã, bao giờ cũng được thể hiện chạy trên sóng nước (lấy từ tích Vua Vũ trị thủy). Người ta thường hiểu rằng: long là rồng, rồng thì bay lên , nghĩa là tung, tượng trưng cho kinh tuyến, thời gian - mã là ngựa, chạy ngang, là hoành, tượng trưng cho vĩ tuyến, không gian. Như vậy long mã tượng trưng cho sự tung hoành của nam nhi, cho thời gian và không gian, long mã chạy là biểu hiện cho vũ trụ vận động, đồng thời tượng trưng cho thánh nhân.
 * HÌNH TƯỢNG CON RÙA
 Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh.
Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý - Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.
* HÌNH TƯỢNG CHIM PHƯỢNG
 Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trǎng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật. Tức là có khả nǎng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp.
Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp quý phái.
* HÌNH TƯỢNG CON HẠC
Ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu..., hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm - dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Thuyết Bát Trạch trong Phong Thuỷ (Phần I)



Nội dung cơ bản của thuyết Bát Trạch là việc phối hợp mệnh của từng người với các phương vị để luận đoán tốt xấu cho nhà ở. Trước hết chúng ta cần xác đinh mệnh cung của chủ nhà, nếu nhà có cả nam và nữ giới thì phải xác định theo tuổi nam giới, nếu nhà chỉ có nữ thì khi đó mới lấy mệnh nữ làm chủ nhà. Lưu ý là cần xác định mệnh cung theo tuổi Âm Lịch, vì có nhiều người năm sinh Dương lịch và Âm lịch khác nhau.

Thường trước ngày 6/2 năm Dương lịch thì tuổi Âm lịch vẫn thuộc năm cũ.
Sau khi xác định được mệnh cung cần xác định được hướng của căn nhà
Căn nhà có thể có hướng cửa chính trùng với hướng nhà, trong thực tế, nhiều nhà có hướng cửa chính không trùng với hướng nhà.
Căn cứ theo phương vị của Bát Quái theo Hậu Thiên Bát Quái ta xác định được Quẻ Hướng. Để tiện tra cứu, quý vị dùng bảng sau đây :
Phương hướng: Quẻ:
1- Bắc - Khảm
2- Tây Bắc - Càn
3- Tây - Đoài
4- Tây Nam - Khôn
5- Nam - Ly
6- Đông Nam - Tốn
7- Đông - Chấn
8- Đông Bắc - Cấn
Sau khi xác định được mệnh cung của gia chủ và hướng nhà, hướng cửa thì dùng phép Bát Trạch phối hợp giữa mệnh cung chủ nhà với Toạ hoặc hướng nhà (thực tế người ta thường chỉ xác định hướng nhà rồi phối với mệnh cung của chủ nhà do việc xác định toạ của nhà tương đối khó khăn) tạo thành 1 trong 8 sao sau đây sắp xếp theo thứ tự từ tốt nhất đến xấu nhất :
1. Tham Lang thuộc Mộc - Sinh Khí
Phối hợp mệnh cung và hướng :
Càn với Đoài
Khảm với Tốn
Cấn với Khôn
Chấn với Ly
Tốt chủ phú quý, giàu sang, an khang thịnh vượng
2. Cự Môn thuộc Thổ - Thiên Y
Càn với Cấn
Khảm với Chấn
Tốn với Ly
Khôn với Đoài
Tốt chủ phúc lộc, giàu sang, con cháu thông minh hiếu thảo
3. Vũ Khúc thuộc Kim - Phúc Đức
Càn với Khôn
Khảm với Ly
Cấn với Đoài
Chấn với Tốn
Tốt chủ phúc lộc, gia đạo an khang thịnh vượng
4. Phụ Bật thuộc Thuỷ - Phục Vị
Càn với Càn
Đoài với Đoài
Ly với Ly
Chấn với Chấn
Tốn với Tốn
Khảm với Khảm
Cấn với Cấn
Khôn với Khôn
Tốt chủ yên ổn, an khang thịnh vượng
5. Lộc Tồn thuộc Thổ - Hoạ Hại
Càn với Tốn
Khảm với Đoài
Cấn với Ly
Chấn với Khôn
Xấu chủ bệnh tật, bất hoà, gia đạo suy bại
6. Văn Khúc thuộc Thuỷ - Lục Sát
Càn với Khảm
Cấn với Chấn
Tốn với Đoài
Ly với Khôn
Xấu chủ kiện tụng, thị phi, gia đạo bất hoà
7. Phá Quân thuộc Kim - Tuyệt Mệnh
Càn với Ly
Khảm với Khôn
Cấn với Tốn
Chấn với Đoài
Xấu chủ bệnh tật, thị phi, kiện tụng, gia đạo suy bại
8. Liêm Trinh thuộc Hoả - Ngũ Quỷ
Càn với Chấn
Khảm với Cấn
Ly với Đoài
Khôn với Tốn
Rất xấu, chủ bệnh tật, suy bại, con cái phá tán sản nghiệp
Nếu sự phối hợp giữa bản mệnh chủ nhà và Toạ của nhà không tốt thì có thể dùng hướng của chính phối với mệnh cung chủ nhà được sao tốt để bổ cứu.
Ví dụ : Người chủ nhà nam sinh năm 1955 - Ất Mùi, tra bảng mệnh cung ta thấy mệnh cung người này là Ly.
Nếu nhà Toạ Bắc hướng Nam, tức Khảm Trạch (Phương Bắc là Khảm) thì phối Ly với Khảm ta được sao Vũ Khúc tức là được Sinh Khí rất tốt. Nếu hướng cửa chính là Nam tức là Ly (Phương Nam là Ly) thì phối hướng cửa với mệnh cung là Ly với Ly ta được Phục Vị cũng tốt.
Ngoài việc phối hướng được sao tốt, cần phải xét đoán đến sự sinh khắc Ngũ Hành giữa Sao và Cung. Cũng trong ví dụ trên, chủ nhà mệnh Ly ở nhà Khảm Trạch được sao Tham Lang tốt. Sao Tham Lang thuộc Mộc ở cung Khảm thuộc Thuỷ nên được Cung sinh trợ nên đã tốt lại càng tốt hơn.
Ví dụ khác : Chủ nhà mệnh cung là Càn, ở nhà hướng Chính Tây tức là hướng Đoài. Phối hợp mệnh cung với hướng nhà ta được sao Tham Lang tức Sinh Khí thuộc Mộc. Nhưng sao này lại nằm ở cung Đoài thuộc Kim nên bị Cung khắc. Vì vậy, trong cái tốt lại ẩn chứa cái xấu và quá trình sinh sống sẽ ngày càng giảm sự tốt đẹp.    

Thuyết Bát Trạch trong Phong Thuỷ (Phần II)


Hướng cửa chính của căn nhà rất quan trọng vì nó là nơi người ra vào nhiều nhất, nơi thu nạp sinh khí cho cả căn nhà. Nếu hướng cửa đặt ở phương tốt sẽ thu nạp được nguồn sinh khí, giúp gia đình hưng vượng. Nếu phạm phải hướng xấu sẽ thu nạp hung khí gây tổn hại cho sự thành công của gia đình. Vì vậy, hướng của chính đặt phải đặt ở hướng tốt (Sinh Khí, Thiên Y, Phúc Đức, Phục Vị).

Ví dụ : Chủ nhà là nam sinh năm 1968 - Mậu Thân. Ở nhà cửa chính hướng Đông Nam cửa chính hướng Bắc. Công việc nhiều bế tắc cản trở, hay bị ốm đau. Tra bảng trên ta thấy mệnh cung chủ nhà là Khôn, kết hợp với hướng cửa chính Bắc là Khảm phạm phải Tuyệt Mệnh nên rất xấu. Sau khi xem xét đổi hướng cửa chính thành hướng Tây Bắc - Càn được Phúc Đức. Quả nhiên sau đó một thời gian được thăng chức, mọi sự hanh thông.
Hướng bàn thờ :
Theo quan niệm truyền thống của cha ông ta, việc thờ cúng tổ tiên là rất quan trọng. Điều đó không những thể hiện chữ hiếu của con cháu với tổ tiên cha mẹ, mà còn theo quan niệm, khi mất đi tổ tiên vẫn phù hộ cho con cháu. Nếu bàn thờ thu nạp được sinh khí tốt thì con cháu sẽ hưởng phúc, làm ăn phát đạt, mọi sự hanh thông. Trái lại, nếu bàn thờ đặt ở phương xấu thì sẽ khiến gia đạo suy thoái, mọi sự không may mắn.
Tác dụng của hướng bàn thờ bạn đọc có thể tự chiêm nghiệm, song theo kinh nghiệm của chúng tôi, thì tác động của nó tương đối rõ rệt. Chỉ sau khi áp dụng trong vòng từ 3 đến 4 tuần là có thể ứng nghiệm.
Hướng của bàn thờ là hướng ngược với chiều người đứng khấn. Ví dụ người đứng khấn mặt quay về hướng Tây, lưng người đứng khấn quay về hướng Đông, thì bàn thờ là hướng Đông.
Hướng bàn thờ phải đặt ở vị trí cát và quay về hướng tốt (Sinh Khí, Thiên Y, Phúc Đức, Phục Vị)
Ví dụ : Chủ nhà nam sinh năm 1954 - Giáp Ngọ, lập bàn thờ trong nhà hướng Tây Bắc. Trong vài năm gần đây, tuy rất tài giỏi song không được thăng chức, quan vận bế tắc. Tra bảng ta thấy tuổi này mệnh cung Khảm, hướng bàn thờ là hướng Tây Bắc tức là cung Càn. Phối hợp Khảm với Càn thì phạm Lục Sát xấu. Sau khi xem xét đổi hướng bàn thờ về hướng Chính Nam là cung Ly được Phúc Đức. Quả nhiên sau đó 3 tuần có tin vui được thăng chức.
Hướng bếp :
Trong căn nhà, bếp tuy nhỏ nhưng lại có vị trí rất quan trọng. Bếp là nguồn tạo ra thức ăn nên mọi bệnh tật cũng từ bếp mà ra. Ngày xưa, khi con người dựa chủ yếu vào nông nghiệp thì bếp được coi là nguồn tài lộc. Vì vậy, việc đặt bếp là vô cùng quan trọng, nó chi phối nguồn tài lộc của cả gia đình cũng như bệnh tật.
Hướng của bếp được xác định là hướng của cửa bếp, nếu là bếp ga thì hướng bếp chính là hướng của núm vặn lửa. Nói cách khác hướng bếp là hướng ngược với hướng người đứng nấu.
Ví dụ : Người đứng nấu quay mặt về hướng Tây Nam, lưng của người đứng nấu quay về hướng Đông-bắc, thì hướng bếp chính là hướng Đông-bắc.
Vị trí của bếp cũng rất quan trọng trong Phong Thuỷ. Nếu nhà có nhà bếp riêng biệt và tương đối rộng thì vị trí của bếp được xác định trong phạm vi của nhà bếp. Nếu nhà hẹp và không có nhà bếp riêng thì vị trí của bếp được xác định theo toàn bộ diện tích căn nhà. Để xác định chính xác vị trí của bếp cần xác định trước tâm nhà bếp hoặc tâm nhà sau đó xác định cung đặt bếp.
- Mệnh Cung là Càn, Đoài, Cấn, Khôn đặt bếp Toạ Đông Nam, hướng Tây Bắc hoặc Toạ Đông, hướng Tây.
- Mệnh cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn đặt bếp Toạ Tây hướng Đông hoặc Toạ Tây Bắc hướng Đông Nam.

Thuyết Bát Trạch trong Phong Thuỷ (Phần III)


Ngủ đối với con người là vô cùng quan trọng. Có đến hơn 1/3 thời gian sống của con người dành cho việc ngủ. Ngủ là thời điểm nghỉ ngơi và thu nạp sinh khí cần thiết cho quá trình tái vận động. Theo quan niệm Phong Thuỷ thì ngủ là lúc tiếp nạp sinh khí nhiều nhất.

Chính vì vậy, cần xác định hướng giường ngủ cho hợp lý để tăng sự may mắn và sức khoẻ cho bản mệnh mỗi người. Nếu hướng giường không tốt sẽ tổn hại đến thần kinh và sức khoẻ, dễ mang lại rủi ro và bệnh tật. Hướng giường ngủ được xác định riêng biệt cho mỗi thành viên trong gia đình.
Nguyên tắc là phối giữa mệnh cung của người nằm với hướng giường để được các sao tốt Sinh Khí, Phục Vị, Thiên Y, Phúc Đức.

Hướng giường được xác định là hướng từ đầu giường đến cuối giường.
Quý vị áp dụng quy tắc tra cứu như hướng của chính cho mỗi người trong gia đình.
Ví dụ : Người nam sinh năm 1977 - Đinh Tỵ , mệnh cung Khôn thì nên đặt hướng giường Tây Bắc hoặc Chính Tây.
Hướng nhà vệ sinh :
Nhà vệ sinh là nơi thải các uế khí của căn nhà ra bên ngoài. Nhà vệ sinh cũng là nơi chứa nhiều uế khí nhất, vì vậy một nguyên tắc là nhà vệ sinh không được đặt ở trung tâm của căn nhà.
Nhà vệ sinh phải toạ ở các vị trí phối với mệnh cung là xấu : Ngũ Quỷ,Tuyệt Mệnh, Hoạ Hại, Lục Sát .
Ví dụ : Chủ nhà là nam sinh năm 1977 – Đinh Tỵ, mệnh cung là Khôn, thì phải đặt nhà vệ sinh ở vị trí góc phía Bắc hoặc phía Đông. Vì phia Bắc là Khảm phối với Khôn là Tuyệt Mệnh, phía Đông là Chấn phối với Khôn là Hoạ Hại.    


1. Tại sao phong thủy coi trọng đo cửa bằng thước Lỗ Ban?

Phong thủy theo nghĩa gốc ai cũng biết là gió và nước. Chúng ta ai cũng thấy gió quá thông thường mà ít ai để ý xem nó có ảnh hưởng đến cuộc sống chúng ta như thế nào. Tại sao giữa trưa hè chú bé mục đồng chăn trâu vô tư đánh giấc dưới gốc cây giữa ruộng, xung quanh bốn bề gió lồng lộng mà chiều tỉnh dậy vẫn vô tư tỉnh táo? Tại sao cũng chú bé mục đồng đó nếu một buổi trưa hè nào, về nhà nằm ngủ, khép cửa sổ lại 1 tí, chỉ để gió lùa cho hiu hiu mát thì sau giấc trưa tỉnh dậy lập tức bị trúng gió? Tại sao có hiện tượng trúng gió? Tại sao nằm giữa đồng gió tứ bề lại không bị trúng gió? Còn nằm bị 1 chút hơi gió lùa lại trúng gió sinh bệnh? Gió là chỉ có 1 loại chứ đâu có nhiều loại: gió độc, gió lành như chúng ta thường quen gọi; vậy mà sao lúc thì làm chúng ta say sưa giấc nồng, lúc lại làm chúng ta bệnh liệt giường?

Cái gọi là gió độc, gió lùa khe cửa chính là gió đi qua 1 diện tích có kích thước xấu. Còn cơn gió lành, gió tốt chính là gió đi qua 1 diện tích có kích thước tốt. Nên thước có các cung tốt tức là đón được gió, khí hợp với cơ thể con người. Nên đầu óc minh mẫn khỏe mạnh nên làm tính toán không phạm sai lầm trở nên vạn sự may mắn thăng quan tiến chức, tiền tài và sang trọng.

Cũng có cung không hợp là vì những luồng khí gây cho người khó chịu. Có khi làm chẳng muốn về nhà, làm ăn thua thiệt miệng tiếng không ngớt. Vì vậy con người mới tìm và lựa chọn các cung số cho hợp với thiên khí của trời đất đã sinh ra và mới có thước của Lỗ Ban tiên sinh giúp cho nhân loại đi vào cuộc sống hoàn mỹ.

Để cho dễ hiểu, hãy hình dung cửa nhà chúng ta có kích thước chiều cao 2m và ngang 0.8m. Như vậy tạm xem như diện tích lọt gió của cửa là: 2x0.8 = 1.6 m2. Vậy làm sao biết được kích thước vậy là tốt hay xấu?

2. Cách đo kích thước cửa theo thước Lỗ Ban.

- Như trên đã nói, vậy thì đo cửa theo thước Lỗ Ban là để xác định kích thước đón cơn gió lành chứ không phải gió độc. Theo Lỗ Ban thì có tổng cộng 8 kích thước môn (môn tức là cửa chứ không phải cánh cửa):

Trường Túc, Lộc Quan, Thuận Mỹ, Lộc Tài – 4 cung thước tốt

Lập Hại, Đạo Kiếp, Ly Thất, Trường Bịnh – 4 cung thước xấu

Cách đo là kéo thước đo 2 chiều: chiều dọc và chiều ngang cửa vì đa phần cửa nhà hiện nay là hình chữ nhật chứ không phải là hình tròn như thời phong kiến. Cửa lý tưởng là có 02 kích thước: chiều dọc và chiều ngang nằm lọt trong 4 cung thước tốt. Xem tiếp ví dụ trên: cửa nhà chúng ta có kích thước: cao 2m, ngang 0.8m; như vậy là đều lọt vào Lộc Tài nếu xét theo bảng kích thước phía trên.

3. Cung số nào là quan trọng?

- Cung số nào thì tốt cho trường hợp đó, không dùng râu ông nọ cắm cằm bà kia. 4 cung số tốt:

+ Trường Túc, Thuận Mỹ: tượng trưng cho sức khỏe, sự thuận lợi, học hành

+ Lộc Quan, Lộc Tài: tượng trưng cho tài vận, tiền bạc, thăng quan tiến chức

- Ví dụ: cửa phòng ngủ thì đón gió sao cho gió thổi vào ta thấy thiu thiu mát, dễ say giấc nồng hoặc gió xuân tình phơi phới để vợ chồng mặn nồng chứ gió thổi vào mà nhằm cung số Trường Bịnh thì quanh năm ngủ đông lạnh lẽo, thấp khớp đau lưng, sáng dậy mệt mỏi uể oải thì thôi rồi.

Gió thổi vào phòng ngủ dĩ nhiên nên ở cung số Thuận Mỹ. Gió thổi vào phòng học cho con trẻ tỉnh táo học hành tiến bộ thì ở cung số Trường Túc. Chứ đổi ngược lại thì chết, lúc ở phòng học mà đón gió Thuận Mỹ chẳng khác gì nằm ngủ gật suốt trên bàn hay nằm ngủ mà trằn trọc canh thâu, suy nghĩ học hành thì hại sức khỏe.

c) Đo tất cả các cửa, lỗ nào mà gió vào được trong nhà và có ảnh hưởng đến người trong nhà.

d) Chỉ có 1 phòng duy nhất trong căn nhà chúng ta không cần đo kích thước cửa. Chỉ cần động não 1 chút sẽ khám phá ra được phòng này.

e) Đo thước Lỗ Ban chỉ áp dụng đối với các cửa đơn giản. Nếu ai mà muốn xách thước Lỗ Ban để đi đo cửa sổ có song sắt hoa văn hay cửa lá sắt thì xin đừng đo. Rất mất công mất sức mà kết quả thu được không bao nhiêu.

          Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này

Vậy nếu đo xong mà phát hiện cửa nhà mình có cung số xấu theo Lỗ Ban thì xử lý ra sao?

Ví dụ: Nếu cửa nhà chúng ta có độ cao không phù hợp, vậy thì có 2 cách để sửa. Hoặc là đập ra, cơi nới lên cao để hợp với cung số đẹp, cách này tốn kém mà rắc rối. Hoặc là hạn chế chiều cao cho thấp xuống bằng cách treo thêm bức tranh hay bảng chữ giăng ngang như “Ngũ Phúc Lâm Môn”, “Xuất Nhập Bình An”, hay “Chúc Mừng Năm Mới”, “An Khang Thịnh Vượng”….vừa trang trí cho cửa đẹp, nhìn vào thấy thêm may mắn lại vừa khắc phục được điểm xấu.

Vậy nếu cửa nhà có chiều rộng lọt gió xấu thì sao? Thì chúng ta có thể treo màn sáo trúc hay màn vải rồi cho xõa 2 bên để tạo cung số chiều rộng đón gió tốt. Như vậy vừa đẹp cửa đẹp nhà, lại ít tốn kém nhờ sự hiểu biết về phong thủy đúng đắn. Còn nếu là cửa chính kiểu cửa sắt kéo lại càng dễ; chúng ta chỉ việc dặn người nhà thường xuyên khi kéo cửa ra, mở cửa thì kéo đến những vị trí đánh dấu cố định, không mở lớn hơn hay nhỏ hơn để thường xuyên đón được cơn gió lành.

a) Sách Huỳnh Liên Tử:

(Tất cả kích thước dưới đây là cm)

MÔN THUẬN MỸ

21 - 24

62 - 66

102 - 106

143 - 147

184 - 188

224 - 227

265 - 269

305 - 310

347 - 350

387 - 391

428 - 431

MÔN LỘC TÀI (Phú)

37 - 41

77 - 81

118 - 122

158 - 162

199 - 202

240 - 244

280 - 283

320 - 323

361 - 365

402 - 405

443 - 446

MÔN TRƯỜNG TÚC

41.5 - 45

82 - 86

123 - 126

163 - 169

204 - 208

245 - 248

285 - 288

326 - 330

367 - 370

407.5 - 411

448 - 452

MÔN LỘC QUAN (Quý)

57 - 61

97 - 101

139 - 142

179 - 182

220 - 223

260 - 263

300 - 304

342 - 345

382 - 385

443 - 446

463 - 467

5cm: Nghinh Phúc - Khẩu Thiệt, Bệnh Lâm.

6- 7- 8cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

9cm: Lao Chấp - Hỷ Sự.

10cm: Cô Quả - Tiến Bảo.

11cm: Trường Khố - Nạp Phúc.

12- 13- 14- 15cm: Trên dưới đều xấu , kỵ dùng.

16cm: Thất Thoát - Đại Cát.

17cm: Thiêm Đinh - Tài Vượng.

18cm: Ích Lợi - Ích Lợi.

19cm: Quý T - Thiên Khố.

20cm: Quý Tử - Phú Quý.

21cm: Đại Cát - Tiến Bảo.

22cm: Thuận Khoa - Hoạnh Tài.

23cm: Hoạnh Tài - Thuận Khoa.

24cm: Hoạnh Tài - Ly Hương.

25cm: Tiến Ích - Tử Biệt.

26cm: Phú Quý - Thoái Đinh.

27cm: Trên dưới đều xấu.

28cm: Tử Biệt - Đăng Khoa.

29cm: Thoái Khẩu - Quý Tử.

30cm: Ly Hương - Thiêm Đinh.

31cm: Ly Hương - Hưng Vượng.

32- 33- 34- 35cm: Trên dưới đều xấu.

35,2- 36cm: Bệnh Lâm - Nghinh Phúc.

36,5-37cm: Khẩu Thiệt - Lục Hợp.

38-38,5cm: Tài Chí - Tiến Bảo, Tài Đức.

39-39,5cm: Đăng Khoa, Phúc Tinh.

40cm: Đăng Khoa - Cập Đệ.

41cm: Tiến Bảo - ĐINH (ĐINH là chủ bốn cung tốt nhỏ ở hai bên).

42,5cm: Hưng Vượng - Đăng Khoa.

43cm: Tài Đức - Khẩu Thiệt.

44cm: Tài Đức - Bệnh Lâm.

44,5cm: Tiến Bảo - Bệnh Lâm.

45cm: Bảo Khố - HẠI (HẠI là chủ bốn cung xấu nhỏ ở hai bên).

45,5cm: TÀi - Tử Tuyệt (TÀI là chủ của bốn cung tốt nhỏ ở hai bên).

46cm: Lục Hợp - Tai Chí ( xin cẩn thận đây là TAI chư không phải TÀI).

47cm: Lục Hợp - Thiên Đức.

48cm: Nghinh Phúc - Hỷ Sự.

49cm: Thoái Tài - Tiến Bảo.

50cm: Công Sự - Nạp Phúc.

51- 51- 53- 54cm: Trên dưới đều xấu , kỵ dùng.

55cm: Kiếp Tài - Đại Cát.

56cm: Kiếp Tài - Tài Vượng.

57cm: Quan Quỷ - Ích Lợi.

58cm: Thất Thoát - Thiên Khố.

59cm: Thất Thoát - Phú Quý.

60cm: Thiêm Đinh - Tiến Bảo.

61cm: Ích Lợi - Hoạnh Tài.

62cm: Quý Tử - Thuận Khoa.

63cm: Quý Tử - Ly Hương.

64cm: Đại Cát - Tử Biệt.

65cm: Thuận Khoa - Thoái Đinh.

66cm: Hoạnh Tài - Thất Tài.

67cm: QUAN - Đăng Khoa (QUAN là chủ bốn cung tốt nhỏ ở hai bên).

68cm: Tiến Ích - Quý Tử.

69cm: Phú Quý - Thiêm Đinh.

70cm: Tử Biệt - Hưng Vượng.

71- 72- 73- 74cm: Trên dưới đầu xấu, kỵ dùng.

74,5cm: Tài Thất - Nghinh Phúc.

75,5cm: Tai Chí - Lục Hợp (cẩn thận, lại là TAI).

76,5- 77cm: Tử Tuyệt - Tiến Bảo.

77,5cm: Tử Tuyệt - Tài Đức.

78,5cm: Bệnh Lâm - Phúc Tinh.

79cm: Bệnh Lâm - Cập Đệ.

80cm: Khẩu Thiệt - ĐINH.

81cm: Tài Chí - Tài Vượng.

81,5cm: Tài Chí - Đăng Khoa.

82cm: Đăng Khoa - Khẩu Thiệt.

83cm: BỔN - Bệnh Lâm (BỔN là chủ bốn cung tốt nhỏ ở hai bên).

84cm: Tiến Bảo - HẠI.

84,5cm: Tiến Bảo - Tử Tuyệt.

85cm: Hưng Vượng - Tai Chí (lại là TAI, cẩn thận ).

86cm: Tài Đức - Thiên Đức.

87cm: Tài Đức - Hỷ Sự.

87,5cm: Bảo Khố - Hỷ Sự.

88cm: Bảo Khố - Tiến Đinh.

88,5cm: TÀI - Tiến Bảo (TÀI là chủ bốn cung tốt ở hai bên).

89cm: Lục Hợp - Nạp Phúc.

90cm: Nghinh Phúc - Thất Thoát.

91cm: Nghinh Phúc - Quan Quỷ.

92- 93- 93,5: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

94cm: BỆNH - Đại Cát (BỆNH là chủ bốn cung xấu nhỏ ở hai bên).

95cm: Lao Chấp - Tài Vượng.

96cm: Cô Quả - ích Lợi.

97cm: Trường Khố - Thiên Khố.

98cm: Kiếp Tài - Phú Quý.

99cm: Kiếp Tài - Tiến Bảo.

100cm: Quan Quỷ - Hoạnh Tài.

101cm: Thất Thoát - Thuận Khoa.

102cm: Thiêm Đinh - Ly Hương.

103cm: Thiêm Đinh - Tử Biệt.

104cm: Ích Lợi - Thoái Đinh.

105cm: Quý T - Thất Tài.

106cm: Quý Tử - Đăng Khoa.

107cm: Đại Cát - Quý Tử.

108cm: Thuận Khoa - Thiêm Đinh.

109cm: Hoạnh Tài - Hưng Vượng.

110cm: QUAN - Cô Quả (QUAN là chủ bốn cung tốt nhở ở hai bên).

110,5cm: Tiến Ích - Lao Chấp.

112cm: Phú Quý - Công Sự.

113cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

113,5cm: Tử Biệt - Nghinh Phúc.

114,5cm: Thoái Khẩu - Lục Hợp.

116cm: Ly Hương - Tiến Bảo.

117cm: Tài Thất - Tài Đức.

117,5cm: Tài Thất - Phúc Tinh.

118cm: Tài Thất - Cập Đệ.

118,5cm: Tai Chí - Cập Đệ (lại là TAI, cẩn thận)

119,5- 120cm: Tử Tuyệt - Tài Vượng.

120,5cm: Tử Tuyệt - Đăng Khoa.

121- 122- 123cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

123,5cm: Tài Chí - Tử Tuyệt.

124cm: Tài Chí - Tai chí (cẩn thận, hàng dưới là TAI).

125cm: Đăng Khoa - Thiên Đức.

126cm: BỔN - Hỷ Sự.

127cm: Tiến Bảo - VƯỢNG.

127,5cm: Tiến Bảo - Tiến Bảo.

128cm: Hưng Vượng - Nạp Phúc.

129cm: Tài Đức - Thất Thoát.

130cm: Tài Đức - Quan Quỷ.

130,5cm: Bảo Khố - Quan Quỷ.

131cm: Bảo Khố - Kiếp Tài.

132cm: Lục Hợp - Vô Tự.

133cm: Nghinh Phúc - Đại Cát.

134cm: Nghinh Phúc - Tài Vượng.

135cm: Thoái Tài - Ích Lợi.

136cm: Công Sự - Thiên Khố.

137cm: Lao Chấp - Phú Quý.

138cm: Lao Chấp - Tiến Bảo.

139cm: Cô Quả - Hoạnh Tài.

140cm: Trường Khố - Thuận Khoa.

141- 142- 143- 144cm: trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

144,5cm: Thất Thoát - Đăng Khoa.

145cm: Thiêm Đinh - Đăng Khoa.

145,5- 146cm: Thiêm Đinh - Quý Tử.

147cm: Ích Lợi - Thiêm Đinh.

148cm: Quý Tử - Hưng Vượng.

149cm: Đại Cát - Cô Quả.

149,5cm: Đại Cát - Lao Chấp.

150,5- 151cm: Thuận Khoa - Công Sự.

151,5- 152cm: Hoạnh Tài - Thoái Tài.

152,5cm: Hoạnh Tài - Nghinh Phúc.

153,5cm: Tiến Ích - Lục Hợp.

154,5- 155cm: Phú Quý - Tiến Bảo.

155,5cm: Phú Quý - Tài Đức.

156,5cm: Tử Biệt - Phúc Tinh.

157cm: Thoái Khẩu - Cập Đệ.

158cm: Thoái Khẩu - ĐINH.

159cm: Ly Hương - Tài Vượng.

159,5cm: Ly Hương - Đăng Khoa.

160- 161- 162- 163,5cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

164cm: Bệnh Lâm - Thiên Đức.

165cm: Bệnh Lâm - Hỷ Sự.

165,5cm: Khẩu Thiệt - Hỷ Sự.

166,5cm: Tài Chí - Tiến Bảo.

167cm: Tài Chí - Nạp Phúc.

168cm: Đăng Khoa - Thất Thoát.

169cm: BỔN - Quan Quỷ.

170cm: Tiến Bảo - Kiếp Tài.

171cm: Hưng Vượng - Vô Tự.

172cm: Tài Đức - Đại Cát.

173cm: Bảo Khố - Tài Vượng.

174cm: Bảo Khố - Ích Lợi.

175cm: Lục Hợp - Thiên Khố.

176cm: Nghinh Phúc - Phú Quý.

177cm: Nghinh Phúc - Tiến Bảo.

178cm: Thoái Tài - Hoạnh Tài.

179cm: Công Sự - Thuận Khoa.

180- 181- 182- 183cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

184cm: Kiếp Tài - Đăng Khoa.

184,5cm: Kiếp Tài - Quý Tử.

186cm: Quan Quỷ - Thiêm Đinh.

187cm: Thất Thoát - Hưng Vượng.

188cm: Thiêm Đinh - Cô Quả.

188,5cm: Thiêm Đinh - Lao Chấp.

189,5cm: Ích Lợi - Công Sự.

191cm: Quý Tử - Thoái Tài.

191,5cm: Quý Tử - Nghinh Phúc.

192,5cm: Đại Cát - Lục Hợp.

193,5cm: Thuận Khoa - Tiến Bảo.

194,5- 195cm: Hoạnh Tài - Tài Đức.

195,5cm: Hoạnh Tài - Phúc Tinh.

196,5cm: Tiến Ích - Cập Đệ.

197,5-198cm: Phú Quý - Tài Vượng.

198,5cm: Phú Quý - Đăng Khoa.

199- 200- 201- 202,5cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

203cm: Tài Thất - Thiên Đức.

204cm: Tai Chí - Hỷ Sự (là TAI chứ không phải TÀI).

205,5cm: Tử Tuyệt - Tiến Bảo.

206cm: Tử Tuyệt - Nạp Phúc.

207- 208- 209cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

209,5cm: Tài Chí - Kiếp Tài.

210cm: Tài Chí - Vô Tự.

211cm: Đăng KHoa - Đại Cát.

212cm: BỔN - Tài Vượng.

213cm: Tiến Bảo - Ích Lợi.

214cm: Hưng Vượng - Thiên Khố.

215cm: Tài Đức - Phú Quý.

215,5cm: Tài Đức - Tiến Bảo.

216cm: Bảo Khố - Tiến Bảo.

217cm: TÀI - Hoạnh Tài.

218cm: Lục Hợp - Thuận Khoa.

219cm: Nghinh Phúc - Ly Hương.

219,5cm: Nghinh Phúc - Tử Biệt.

220- 221-222cm: Trên dưới đếu xấu, kỵ dùng.

223cm: Lao Chấp - Đăng Khoa.

224cm: Lao Chấp - Quý Tử.

225cm: Cô Quả - Thiêm Đinh.

226cm: Trường Khố - Hưng Vượng.

227- 228- 229- 230cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

230,5cm: Thất Thoát - Nghinh Phúc.

231,5cm: Thiêm Đinh - Lục Hợp.

232,5cm: Ích Lợi - Tiến Bảo.

233,5cm: NGHĨA - Tài Đức (NGHĨA là chủ bốn cung tốt nhỏ ở hai bên).

234cm: Quý Tử - Tài Đức.

234,5cm: Quý Tử - Phúc Tinh.

235cm: Đại Cát - Cập Đệ.

236,5- 237cm: Thuận Khoa - Tài Vượng.

237,5cm: Hoạnh Tài - Đăng Khoa.

238cm: Hoạnh Tài - Khẩu Thiệt.

239cm: Tiến Ích - Bệnh Lâm.

240cm: Tiến Ích - HẠI.

240,5cm: Phú Quý - Tử Tuyệt.

241,5cm: trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

242cm: Tử Biệt - Thiên Đức.

243cm: Thoái Khẩu - Hỷ Sự.

244cm: KIẾP - VƯỢNG.

244,5cm: Ly Hương - Tiến Bảo.

245cm: Ly Hương - Nạp Phúc.

246- 247- 248- 249,5cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

250cm: Bệnh Lâm - Đại Cát.

251cm: Khẩu Thiệt - Tài Vượng.

252cm: Khẩu Thiệt - Tiến Ích.

253cm: Tài Chí - Thiên Khố.

254cm: Đăng khoa - Phú Quý.

255cm: BỔN - Tiến Bảo.

256cm: Tiến Bảo - Hoạnh Tài.

257cm: Hưng Vượng - Thuận Khoa.

258cm: Tài Đức - Ly Hương.

259cm: Bảo Khố - Tử Biệt.

260cm: TÀI - Thoái Đinh.

261cm: Lục Hợp - Thất Tài.

262cm: Nghinh Phúc - Đăng Khoa.

262,5cm: Nghinh Phúc - Quý Tử.

263cm: Thoái Tài - Quý Tử.

264cm: Thoái Tài - Thiêm Đinh.

265cm: Công Sự - Hưng Vượng.

266- 267- 268- 269cm: trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

270cm: Kiếp Tài - Nghinh Phúc.

271cm: LY - TÀI.

272cm: Quan Quỷ - Tiến Bảo.

273cm: Thất Thoát - Tài Đức.

273,5cm: Thất Thoát - Phúc tinh.

274cm: Thiêm Tinh - Cập Đệ.

275cm: Ích Lợi - ĐINH.

276cm: Ích Lợi - Tài Vượng.

276,5cm: NGHĨA - Đăng Khoa.

277cm: Quý Tử - Khẩu Thiệt.

278cm: Đại Cát - Bệnh Lâm.

279- 280cm: Thuận Khoa - Tử Tuyệt.

280,5cm: Hoạnh Tài - Tai Chí.

281cm: Hoạnh Tài - Thiên Đức.

282- 283cm: Tiến Ích - Hỷ Sự-VƯỢNG.

283,5cm: Phú Quý - Tiến Bảo.

284cm: Phú Quý - Nạp Phúc.

285- 286- 287- 288cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

289cm: Tài Thất - Đại Cát.

290cm: Tai Chí - Tài vượng.

291cm: Tử Tuyệt - Ích Lợi.

292cm: Tử Tuyệt - Thiên Khố.

293cm: Bệnh Lâm - Phú Quý.

294cm: Khẩu Thiệt - Tiến Bảo.

295cm: Khẩu Thiệt - Hoạnh Tài.

295,5cm: Tài Chí - Hoạnh Tài.

296cm: Tài Chí - Thuận Khoa.

297cm: Đăng Khoa - Ly Hương.

298cm: BỔN - Tử Biệt.

299cm: Tiến Bảo - Thoái Đinh.

300cm: Hưng Vượng - Tài Chí.

301cm: Tài Đức - Đăng Khoa.

302cm: Bảo khố - Quý Tử.

303cm: TÀI - Thiêm Đinh.

304cm: Lục Hợp - Hưng Vượng.

305cm: Nghinh Phúc- Cô Quả.

305,5cm: Nghinh Phúc - Lao Chấp.

306- 307- 308cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

309cm: Lao Chấp - Nghinh Phúc.

309,5cm: Lao Chấp - Lục Hợp.

310cm: Cô Quả - TÀI.

311cm: Cô Quả - Tiến Bảo.

312cm: Trường Khố - Tài Đức.

312,5cm: Kiếp Tài - Phúc Tinh.

313cm: Kiếp Tài - Cập Đệ.

314cm: LY - ĐINH.

315cm: Quan Quỷ - Tài Vượng.

315,5cm: Thất Thoát - Đăng Khoa.

316cm: Thất Thoát - Khẩu Thiệt.

317cm: Thiêm Đinh - Bệnh Lâm.

318cm: Ích Lợi - HẠI.

318,5cm: Ích Lợi - Tử Tuyệt.

319cm: NGHĨA - Tai Chí.

319,5cm: Quý Tử - Tai Chí.

320cm: Quý Tử - Thiên Đức.

321cm: Đại Cát - Hỷ Sự.

322cm: Thuận Khoa - VƯỢNG.

323cm: Thuận Khoa - Nạp Phúc.

323,5cm: Hoạnh Tài - Nạp Phúc.

324cm: Hoạnh Tài - Thất Thoát.

325cm: Tiến Ích - Quan Quỷ.

326cm: Phú Quý - Kiếp Tài.

327cm: Phú Quý - Vô Tự.

328cm: Tử Biệt - Đại cát.

329cm: Thoái Khẩu - Tài Vượng.

330cm: KIẾP - Ích Lợi.

331cm: Ly Hương - Thiên Khố.

332cm: Tài Thất - Phú Quý.

333cm: Tai Chí - Tiến Bảo.

334cm: Tử Tuyệt - Hoạnh Tài.

335cm: HẠI - Thuận Khoa.

336- 337,5: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

338cm: Tài Chí - Thoái Đinh.

339cm: Tài Chí - Thất Tài.

340cm: Đăng Khoa - Đăng Khoa.

341cm: Tiến Bảo - Quý tử.

342cm: Tiến Bảo - Thiêm Đinh.

343cm: Hưng Vượng - Hưng Vượng.

344cm: Tài Đức - Cô Quả.

345cm: Bảo Khố - Lao Chấp.

346cm: TÀI - Công Sự.

347cm: Lục Hợ - Thoái Tài.

348cm: Nghinh Phúc - Nghinh Phúc.

348,5cm: Nghinh Phúc - Lục Hợp.

349cm: Thoái Tài - TÀI.

350cm: Công Sự - Tiến Bảo.

351cm: Công Sự - Tài Đức.

351,5cm: Bệnh - Phúc Tinh.

352cm: Lao Chấp - Cập Đệ.

353cm: Cô Quả - ĐINH.

354cm: Cô Quả - Tài Vượng.

354,5cm: Trường Khố - Đăng Khoa.

355-3 56- 357- 358,5cm: trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

359cm: Thất Thoát - Thiên Đức.

360cm: Thiêm Đinh - Hỷ Sự.

361cm: Ích Lợi - Vượng.

361,5cm: Ích Lợi - Tiến Bảo.

362cm: NGHĨA - Nạp Phúc.

362,5cm: Quý Tử - Nạp Phúc.

363cm: Quý Tử - Thất Thoát.

364cm: Đại Cát - Quan Quỷ.

365cm: Thuận Khoa - Kiếp Tài..

366cm: Hoạnh Tài - Vô Tự

367cm: Hoạnh Tài - Đại Cát.

368cm: Tiến Ích - Tài Vượng.

369cm: Phú Quý - ích Lợi.

370cm: Phú Quý - Thiên Khố.

370,5cm: Tử Biệt - Thiên Khố.

371cm: Tử Biệt - Phú Quý.

372cm: Thoái Khẩu - Tiến Bảo.

373cm: KIẾP - Hoạnh Tài.

373,5cm: Ly Hương - Hoạnh Tài.

374cm: Ly Hương - Thuận Khoa.

375- 376- 377- 378cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

378,5- 379cm: Bệnh Lâm - Đăng Khoa.

380cm: Khẩu Thiệt - Quý Tử.

381cm: Tài Chí - Thiêm Đinh.

382cm: Tài Chí - Hưng Vượng.

383cm: Đăng Khoa - Cô Quả.

384cm: Tiến Bảo - Lao Chấp.

384,5cm: Tiến Bảo - Công Sự.

385cm: Hưng Vượng - Công Sự.

386cm: Hưng Vượng - Thoái Tài.

387cm: Tài Đức - Nghinh Phúc.

388cm: Lục Hợp - Bảo Khố.

389cm: TÀI - Tiến Bảo.

390cm: Lục Hợp - Tài Đức.

390,5cm: Nghinh Phúc - Phúc Tinh.

391cm: Nghinh Phúc - Cập Đệ.

392cm: Thoái Tài - ĐINH.

393cm: Công Sự - Tài Vượng.

393,5cm: Công Sự - Đăng Khoa.

394cm: BỆNH - Đăng Khoa.

395-396- 397- 397,5cm: trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

398cm: Trường Khố - Thiên Đức.

398,5cm: Kiếp Tài - Thiên Đức.

399cm: Kiếp Tài - Hỷ Sự.

400cm: Quan Quỷ - VƯỢNG.

400,5cm: Quan Quỷ - Tiến Bảo.

401,5cm: Thất Thoát - Nạp Phúc.

402cm: Thất Thoát - Thất Thoát.

402,5cm: Thiêm Đinh - Thất Thoát.

403cm: Thiêm Đinh - Quan Quỷ.

404cm: Ích Lợi - Kiếp Tài.

405cm: NGHĨA - Vô Tự.

405,5cm: Quý Tử - Vô Tự.

406cm: Quý Tử - Đại Cát.

407cm: Đại Cát - Tài Vượng.

408cm: Thuận Khoa - Ích Lợi.

409cm: Hoạnh Tài - Thiên Khố.

410cm: Hoạnh Tài - Phú Quý.

411cm: Tiến Ích - Tiến Bảo.

412cm: Phú Quý - Hoạnh Tài.

413cm: Phú Quý - Thuận Khoa.

414-415- 416- 417cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

417,5- 418cm: Tài Thất - Đăng Khoa.

418,5- 419cm: Tai Chí - Quý Tử.

420cm: Tử Tuyệt - Thiêm Đinh.

421cm: HẠI - Hưng Vượng.

422cm: Bệnh Lâm - Cô Quả.

423cm: Khẩu Thiệt - Lao Chấp.

424cm: Tài Chí - Công Sự.

425cm: Đăng Khoa - Thoái Tài.

426cm: Đăng Khoa - Nghinh Phúc.

426,5cm: BỔN - Lục Hợp.

427cm: Tiến Bảo - TÀI.

427,5cm: Tiến Bảo - Tiến Bảo.

428cm: Hưng Vượng - Tiến Bảo.

429cm: Hưng Vượng - Tài Đức.

429,5cm: Tài Đức - Phúc Tinh.

430cm: Tài Đức - Cập Đệ.

431cm: Tiến Bảo - ĐINH.

432cm: TÀI - Tài Vượng.

432,5cm: Lục Hợp - Đăng Khoa.

433cm: Lục Hợp - Khẩu Thiệt.

433,5cm: Nghinh Phúc - Khẩu Thiệt.

434cm: Nghinh Phúc - Bệnh Lâm.

435- 436,5cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

437cm: BỆNH - Thiên Đức.

437,5cm: Lao Chấp - Thiên Đức.

438cm: Lao Chấp - Hỷ Sự.

439cm: Cô Quả - VƯỢNG.

439,5cm: Cô Quả - Tiến Bảo.

440cm: Trường Khố - Nạp Phúc.

441- 442- 443- 444,5cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

445cm: Thất Thoát - Đại Cát.

445,5cm: Thiêm Đinh - Đại Cát.

446cm: Thiêm Đinh - Tài Vượng.

447cm: Ích Lợi - Ích Lợi.

448cm: NGHĨA - Thiên KHố.

448,5cm: Quý Tử - Thiên Khố.

449cm: Quý Tử - PHú Quý.

450cm: Đại Cát - Tiến Bảo.

451cm: Thuận Khoa - Hoạnh Tài.

452cm: Hoạnh Tài - Thuận Khoa.

453cm: Hoạnh Tài - Ly Hương.

454cm: Tiến Ích - Tử Biệt.

455cm: Phú Quý - Thoái Đinh.

456cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng

457cm: Tử Biệt - Đăng Khoa.

458cm: Thoái Khẩu - Quý Tử.

459cm: Ly Hương - Thiêm Đinh.

460cm: Ly Hương - Hưng Vượng.

461- 462- 463- 464cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

464,5cm: Bệnh Lâm - Nghinh Phúc.

465,5cm: Khẩu Thiệt - Lục Hợp.

467cm: Tài Chí - Tiến Bảo.

467,5cm: Tài Chí - Tài Đức.

468cm: Đăng Khoa - Tài Đức.

468,5cm: Đăng Khoa - Phúc Tinh.

469cm: Đăng Khoa - Cập Đệ.

470cm: Tiến Bảo - ĐINH.

470,5cm: Tiến Bảo - Tài Vượng.

471cm: Hưng Vượng - Tài Vượng.

471,5cm: Hưng Vượng - Đăng Khoa.

472cm: Tài Đức - Khẩu Thiệt.

473cm: Tài Đức - Bệnh Lâm.

474cm: Bảo Khố - HẠI.

474,5cm: TÀI - Tử Tuyệt.

475,5cm: Lục Hợp - Tài Chí.

476cm: Lục Hợp - Thiên Đức.

476,5cm: Nghinh Phúc - Thiên Đức.

477cm: Nghinh Phúc - Hỷ Sự.

477,5cm: Thoái Tài - Hỷ Sự.

478,5cm: Thoái Tài - Tiến Bảo.

479cm: Công Sự - Nạp Phúc.

480- 481- 482- 483,3cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

484cm: Kiếp Tài - Đại Cát.

485cm: Kiếp Tài - Tài Vượng.

486cm: Quan Quỷ - Ích Lợi.

487cm: Thất Thoát - Thiên Khố.

488cm: Thất Thoát - Phú Quý.

489cm: Thiêm Đinh - Tiến Bảo.

490cm: Ích Lợi - Hoạnh Tài.

491cm: Quý Tử - Thuận Khoa.

492cm: Quý Tử - Ly Hương.

493cm: Đại Cát - Tử Biệt.

494cm: Thuận Khoa - Thoái Đinh.

495cm: Hoạnh Tài - Thất Tài.

496cm: QUAN - Đăng Khoa.

497cm: Tiến Ích - Quý Tử.

498cm: Phú Quý - Thiêm Đinh.

498,5cm: Phú Quý - Hưng Vượng.

499cm: Tử Biệt - Hưng Vượng.

500cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.

Trên đây là một loại trong các loại Thước Lỗ Ban lưu hành trong dân gian. Trong đó, chia ra làm 8 Cung lớn: TÀI- LY- BỆNH- NGHĨA- QUAN- KIẾP- HẠI- BỔN, vốn là 8 cạnh của Bát Quái kéo thành đường thẳng vậy. Nó cũng tượng cho các Sao trong Cửu Tinh:

- TÀI: sao Tham Lang.

- LY: sao Vũ Khúc.

- BỆNH: sao Phá Quân.

- NGHĨA: sao Cự Môn.

- QUAN: sao Văn Khúc.

- KIẾP: sao Liêm Trinh.

- HẠI: sao Lộc Tồn.

- BỔN: sao Phụ Bật.

Trên thị trường hiện nay cũng có một loại Thước Lỗ Ban (loại kéo ra, cuộn 5m hoặc 7m50 như trên) cũng cùng kích thước 42,9cm nhưng chỉ khác một chút ở tên gọi các cung thôi. Loại Thước này cũng phân ra 8 cung, khởi đầu thước là Cung Tài Lộc (dùng gọn 1 chữ TÀI), kế đến là Cung Phước Đức (chữ ĐỨC), Cung Lục Hại (chữ HẠI), Cung Kiếp Đạo (chữ KIẾP), Cung Quan Lộc (chữ QUAN), Cung Mỹ Thuận (chữ THUẬN), Cung Sinh Tang (chữ SINH), Cung Trường Bệnh (chữ BỆNH).

Các cung nhỏ bên trong thì cũng giống đến 8/10 với các cung này, về ý nghĩa thì hai bên vẫn tương đồng. Các Cung tốt bên này là TÀI, NGHĨA, QUAN, BỔN. Các Cung tốt bên kia là Tài Lộc, Phước Đức, Quan Lộc, Mỹ Thuận. Các cung nhỏ bên trong như:

Sinh Vượng <=> Hưng Vượng.

Âm Đức<=> Tài Đức.

Thiện Sinh <=> Bảo Khố.

Tiến Đinh <=> Thiêm Đinh.

Quý Nhân<=>Quý Tử.

Thuận Lợi <=>Thuận Khoa.


Ích Lợi <=> Hoạnh Tài .













Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Follow by Email

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.