bài viết mới

Đoán mệnh theo ngũ hành và tứ thời 
Đây là một phương pháp đoán mệnh của dịch học đơn giản. Trước hết tìm bát tự khi sinh của mình, sau đó dựa vào thiên can của ngày sinh, căn cứ tình hình thiên can đó trong bốn mùa để phán đoán. Ví dụ người sinh ngày Giáp Dần, thiên can là Giáp tức có thể tra trong sách “Tứ thời ngũ hành luận” những lời bình có liên quan, từ đó có thể có nhận thức đại thể đối với vận mệnh của mình.

Sau đây là một phần sách “Tứ thời ngũ hành luận” đã được tác giả Bạch Huyết nêu ra trong quyển TTĐLNH (thiên thời địa lợi nhân hòa), tôi xin trích dẫn lại để mọi người tham khảo :
Bàn về Giáp Mộc


Mùa Xuân, Giáp Mộc:

Mộc sinh ở mùa Xuân, có cảnh tượng xanh tươi phơi phới, chỉ có tháng Giêng thì còn hơi lạnh cần được Hỏa để sưởi ấm. Trong tứ trụ hiện ra Bính Quý thì chủ sẽ phú quý. Nếu được Quý tàng Bính hiện, thì gọi là hàn Mộc hướng về mặt trời, nếu không có xung khắc tất nhiên sẽ được đại phú đại quý. Nếu không gặp Bính Quý thì là người tầm thường, thiếu chí khí . Điều đáng kỵ nhất là trong tứ trụ có một bè Canh Tân sẽ hại vợ khắc con, nếu lại được chi hội Kim cục thì không nghèo sẽ chết non. Nếu như là có một bè Nhâm Quý, nếu không có Mậu Kỷ tương chế (kiềm chế) lại không có Bính Đinh tất nhiên sẽ nghèo rớt mùng tơi, không có Canh Kim mà hiện Đinh Hỏa được gọi là cách “Thương quan” “Sinh tài”, chủ nhân sẽ thông minh tuấn tú. Hễ gặp Quý Thủy khắc Đinh Hỏa nhất định là người cổ hủ cố chấp. Nếu (địa) chi thành Hỏa cục lại tiết lộ quá nhiều thì chủ vừa ngu muội vừa có ám tật. Nếu trong tứ trụ có nhiều Quý Thủy để trợ giúp Mộc thần, sẽ thương diệt Đinh Hỏa tất sẽ gian hùng. Chi thành Mộc cục được Canh là sinh quý, không có Canh là xấu. Chi thành Thủy cục, hiện ra Mậu là quý, không có Mậu là nghèo.

Tóm lại, Giáp Mộc sinh tháng Giêng, người trong tứ trụ có Canh Mậu là tốt, nếu được Đinh hiện ra thì mệnh là giàu sang, có lời đoán: Giáp Mộc, tháng Giêng (tức chỉ người sinh ngày Giáp của tháng Giêng). Việc tốt hoặc xấu của mệnh hoàn toàn dựa vào sự phối hợp của ngũ hành để xem xét có hợp không. Nếu vượng quá cũng không nên, ví như ngày Giáp Dần, trong địa chi lại gặp Dần Mão (tàng Mộc nhiều), gọi là Mộc vượng cần phải cứu (kiềm) chế, nếu không thì không tốt. Phàm thuộc về ngũ hành cũng đều như vậy cả. Hễ sinh vào Giáp Tuất và Ất Hợi là “Mộc chi nguyên”, sinh vào Giáp Dần và Ất Mão là “Mộc chi hương”, sinh vào Giáp Thìn và Ất Tị là “Mộc chi sinh” đều thuộc “hoạt mộc” (cây sống), sinh vào Giáp Thân và Ất Dậu là “Mộc thụ khắc”, sinh vào Giáp Ngọ và Ất Mùi là “Mộc tự tử”, sinh vào Giáp Tí và Ất Sửu là “Kim khắc Mộc” đều thuộc là “Tử mộc” (cây chết), sinh Mộc gặp Kim thì tự thương, tất sẽ phải lộ, tử Mộc được Kim thì tạo, được Hỏa tự cháy, Canh Tân tất sẽ lợi. Việc biến hóa sinh tử của Mộc hoàn toàn dựa vào trong tứ trụ có cứu trợ để định.

Mộc sinh tháng Hai, trong tứ trụ Canh Kim đắc địa, chủ có nhiều phần như tiểu quý, trong vận trụ gặp “tài” tất phải là anh hùng, hễ gặp Quý Thủy, tài sát gặp khó khăn sẽ trở thành kẻ độc thân, lại gặp Dương Nhẫn ắt phải gặp cái chết bất ngờ, Mộc vượng mà được Hỏa thì có phần công danh.

Mộc sinh tháng Ba, nếu thấu lộ Canh Kim kiêm gặp Nhâm Thủy là Dụng, tất nhiên đại quý. Nếu thiên can gặp hai Bính, địa chi tàng Canh Kim là số nghèo khó. Các chi lộ Nhâm Quý phá Hỏa, có thể đạt được công danh nhỏ. Nếu như thấu lộ can Mậu Kỷ của tứ trụ không thấy Thủy, chi thành Thổ cục, chủ sẽ do người khác mà được phú quý. Xưa có câu: tháng ba vô dụng (không dùng) Đinh, chỉ có chi thành Kim cục, xưa có thể lấy Đinh làm Dụng, nếu không thì trước chọn Canh, sau chọn Nhâm để dùng.


Mùa Hạ, Giáp Mộc:

Mộc sinh tháng Tư, Bính Hỏa nắm quyền, trước Quý sau Đinh, trong tứ trụ Canh Kim quá nhiều, mộc lộ chịu bệnh, chỉ có lộ Nhâm Thủy thì chủ mới hiển đạt. Nếu gặp một là Canh, hai là Bính thì chủ phú quý nhỏ. Nếu được các thiên can lộ ra có đủ Quý Đinh Canh, nhất định chủ sẽ thanh quý (sang mà trong sạch), Quý Thủy không thấu lộ, chỉ thấy có Canh Đinh, có thể làm tổn hại quan chức, nếu thấu lộ Nhâm thì chủ giàu có, nếu trong tứ trụ không có Nhâm Thủy, lại không gặp Canh Đinh, mà chỉ gặp Bính Mậu hoặc Kim Hỏa quá nhiều, thì đều là người vô dụng.

Mộc sinh tháng Năm, trước có Quý mà sau là Đinh, Canh, trong tứ trụ thấu lộ Quý và Canh, chủ được phú quý song toàn. Trong tứ trụ gặp Bính Hỏa trùng lặp, lại thêm Đinh Hỏa, gọi là “thương quan” đẹp nhất, chủ sẽ thanh quý (sang mà trong sạch), không thấy “quan sát” sẽ là “thương quan thương tận” chủ cũng sang mà thanh liêm. Trong trụ có nhiều Kim tất nhiên là “sát trọng thân khinh” là số trước giàu sau nghèo, tối kỵ là trong trụ gặp Nhâm Thủy, hành vận lại gặp Nhâm Thủy, vừa nghèo lại vừa yểu thọ (chết non). Nếu Canh Kim nhiều, trong trụ lại thấu lộ một hai Bính Đinh để kiềm chế nó, lại được thấu lộ can là Nhâm Quý, thì chủ trước nghèo sau giàu có, hai can thấu lộ từ giờ và tháng là Kỷ Thổ, gọi là nhị Kỷ tranh hợp, nếu mệnh Nam phạm phải nó thì chủ bôn ba, Nữ mệnh phạm phải nó thì chủ là kẻ hèn hạ bị khinh rẻ. Nếu trong tứ trụ có Thìn, can thấu lộ hai Giáp, hai Kỷ, đó là số đại phú, đại quý. Nếu sinh vào tháng Sáu thì gọi là cách gặp thời hóa hợp, Giáp pháp sinh vào tháng Năm tháng Sáu cùng bàn như cổ pháp, chỗ này bàn tháng Năm và tháng Sáu cũng có thể thông dụng.

Mộc sinh tháng Sáu, trước Đinh sau Canh, trong trụ thấu lộ hai can: Canh Đinh, dụng thần lại thấu lộ, Mộc Hỏa thông minh là mệnh phú quý song toàn. Nếu Đinh Hỏa, Quý Thủy nhiều là mệnh của người bình thường.


Mùa Thu, Giáp Mộc:

Giáp Mộc sinh vào mùa thu, trong tứ trụ nếu được thấu lộ hai can Đinh Canh, tất nhiên thanh quý, trước Đinh sau Canh, Hỏa cách Thủy không thể tiếp xúc nhau, Kim tất dựa vào Hỏa, Hỏa tất dựa vào Giáp Mộc dẫn ngòi để đốt cháy. Trong tứ trụ nếu gặp Quý Thủy, Đinh Hỏa không rõ, còn Nhâm Quý có thể cùng với Đinh đảm nhận biến cố không sao cả, duy cần được Mậu Thổ mới có thể kiềm chế Thủy để bảo tồn Hỏa.

Giáp Mộc sinh tháng Tám, gọi nó là Mộc tù Kim vượng, cây cối vào mùa Thu, lá vàng rơi rụng nên gọi là Mộc tù. Tháng Tám là lúc thu Kim đang vượng. Trước lấy Đinh Hỏa, Bính Hỏa, Kim là thứ, trong trụ có hai can thấu lộ là Đinh Canh, chủ nhất định sẽ hiển đạt. Nếu gặp Quý Thủy, thì công danh không có phần, trong trụ không có Đinh, không có Bính là số theo kiếp tu hành. Bính thấu lộ mà không gặp Quý, thì giàu nhưng không quý. Nếu Bính Hỏa bị Quý Thủy kiềm chế, thì suốt đời chỉ tầm thường. Có Bính có Canh thì đại phú tiểu quý. Bính Đinh phá Kim thì về già chịu nhiều ám tật, chi thành Kim cục thấu lộ Canh Kim, Mộc bị Kim làm thương tổn, chủ bị ám tật.

Giáp Mộc sinh tháng Chín, đúng lúc lá cây rơi rụng, hoàn toàn dựa vào Đinh Hỏa để làm ấm nó. Nhâm Quý Thủy để tu dưỡng nó. Nếu được Đinh Nhâm Quý cùng thấu lộ, đồng thời được Mậu Kỷ Thổ để bồi bổ thì có thể đạt được công danh nhỏ. Chỉ có Canh Kim được nơi chốn thì công danh mới có tiến bộ. Nếu thấu “Tỉ Kiên” mà không có Canh Kim là người cùng đinh. Vận không đắc dụng tất là người nghèo rớt mùng tơi.


Mùa Đông, Giáp Mộc:

Giáp Mộc sinh tháng Mười, trước Canh Kim, thứ đến Đinh Hỏa, Bính Hỏa. Nếu được thấu hai can Canh Kim, lộ Mậu Thổ ở thiên can, thì cách này được gọi là “khử đục giữ trong”, chủ làm đến bậc đại thần, lại kiêm cự phú. Nếu thiếu Đinh Hỏa chỉ gặp Canh Mậu chủ cũng giàu và trường thọ. Tối kị Nhâm Thủy, nếu không có Mậu Thổ kiềm chế tất nhiên sẽ nghèo hèn. Nếu chỉ gặp Thân Hợi, Mậu Kỷ đắc địa để cứu Canh Đinh, công danh tự tới. Nếu chỉ gặp Kỷ Thổ mà không gặp Mậu, sức khỏe kém không kham nổi đại quý, Giáp nhiều kiềm chế Mậu khó được phú quý.

Giáp Mộc sinh tháng Mười Một, tốt nhất gặp Canh Kim, Đinh Hỏa, Mậu Thổ để bồi bổ nó. Nếu được hai chi thấu lộ là Canh Kim, chỉ gặp Tị, Dần tất nhiên thanh quý. Nếu gặp Quý Thủy khắc Đinh Hỏa, trong trụ không có Thổ để cùng cứu giúp, tất sẽ bị tàn tật. Tối kỵ Nhâm Thủy sẽ trở thành “tử mộc”. Không có Đinh Hỏa cùng kiềm chế là số mệnh của người tầm thường không có chí. Nếu chi thành Thủy cục, lại thêm Nhâm Thủy, chủ chết không có hòm ván.

Giáp Mộc sinh tháng Mười Hai, trời rét đất cứng lạnh là tượng khí không phát vượng. Trước Canh Kim như được rìu sắc để cắt cành khô, sau dẫn Đinh Hỏa để khắc nó, thì hàn mộc bắt đầu có sức sống. Trong trụ nếu được hai can thấu lộ Canh Đinh, chủ sẽ có công danh hiển đạt. Đinh Hỏa trùng điệp là số mệnh phú quý. Chỉ có điều là cần phải trong trụ thấu lộ “Tỉ Kiên” làm hỗ trợ thì tài đức đều thịnh, không gặp “Tỉ Kiên” thì chỉ đủ no ấm mà thôi. Đinh tàng Canh thấu lộ, là mệnh của chủ đạt tiểu quý. Tóm lại, hàn đông Giáp Mộc hoàn toàn dựa vào Canh Kim, Đinh Hỏa để hỗ trợ, Đinh Hỏa ít không có trở ngại gì lớn. Nhưng thiếu Canh Kim thì mới thật hỏng hết mọi việc thôi.


Bàn về Ất Mộc


Mùa Xuân, Ất Mộc:

Ất Mộc sinh tháng Giêng là loại cỏ chi lan, cái rét xuân hãy còn đậm nên trước tiên phải được Bính Hỏa để sưởi ấm nó. Sau lấy Quý Thủy để tưới nhuần nó, trong tứ trụ thấu lộ hai can Bính Quý nhất định giành được công danh. Quý nhiều, Bính ít, Hỏa bị Thủy vây, học tốt nhưng cuối cùng cũng chỉ là kẻ bần sĩ. Bính nhiều Quý ít chủ trở nên trọc phú. Có Bính, không có quý thì chủ phát phúc. Quý và Kỷ cùng gặp đó là hạ cách.

Ất Mộc sinh tháng Hai, cũng giống tháng Giêng cũng trước Bính sau Quý, Bính và Quý cùng thấu lộ thì chủ đại phú quý. Chỉ có điều là không có thể cùng thấu lộ cả Canh Kim. Nếu thiên can lộ Canh, địa chi không có ngày giờ để hóa Kim, dựa vào có Quý Thủy tư dưỡng, chủ cũng quý hiển. Nếu chi thành Mộc cục, can thấu lộ Bính Quý, chủ đại quý. Nếu Thủy nhiều vây Hỏa và Bính Mậu nhiều thì là số mệnh bình thường.

Ất Mộc sinh tháng Ba, khí trời đã ấm áp, trước Quý sau Bính, cả Bính và Quý đều thấu lộ, không thấy có Kỷ Canh là số sang trọng, thanh liêm. Hễ gặp Kỷ Canh thì công danh vô vọng (không có hy vọng). Bính Quý thấu lộ mà Kỷ Canh lẫn vào thì tất nhiên sẽ bần tiện (nghèo hèn). Thấy có Canh mà không thấy Kỷ là số mệnh ít khỏe mạnh. Hai can Bính Mậu thấu lộ mà gặp Thủy cục, thì chủ đắc công danh. Giờ, ngày (sinh) đều thấy Canh là hai Canh tranh hợp, số nghèo hèn. Chỉ có điều là nếu can của năm thấu lộ Đinh có thể phá được Canh, gọi nó là “tòng hóa”, chủ lập được quân công để làm quan.


Mùa Hạ, Ất Mộc:

Ất Mộc sinh tháng Tư, chỉ dựa vào Quý Thủy để bồi dưỡng, Quý Thủy và Canh Tân cùng thấu lộ, là mệnh của chủ thanh quý. Chỉ thấy có Quý Thủy thôi thì mệnh của chủ ít khỏe mạnh. Nếu Bính Mậu trùng điệp, chi thành Hỏa cục là mệnh của chủ mù quáng. Vì tháng Tư Bính Hỏa đang nắm quyền, trong tứ trụ Hỏa khí quá nặng.

Ất Mộc sinh tháng Năm, Đinh Hỏa nắm quyền, nửa đầu tháng thuộc Dương, trước Quý sau Bính; nửa cuối tháng thuộc Âm, Bính Quý đều cùng dùng. Trên vị trí năm là Canh Tân, trên chỗ giờ thấu Quý thì công danh hiển hách. Nếu không có Quý Thủy thì công danh không có phần. Trong trụ thấu lộ Bính Hỏa, mà chi lại thành Hỏa cục, tất sẽ mang tàn tật. Nếu không có Quý Thủy kiềm chế, chủ yểu thọ, gặp Nhâm thì có thể giải.

Ất Mộc sinh tháng Sáu, trước Bính thứ là Quý, trong trụ nhiều Kim Thủy, chi thành Thủy cục, lại được thấu can Quý Thủy là mệnh phú quý song toàn. Nếu thiếu Quý lại là mệnh của người tầm thường không có chí, tối kị là có Mậu Kỉ lẫn lộn vào. Nếu xuất lộ một bè can Mậu Thổ, không gặp “Tỉ Ấn” thì sẽ là tiền nhiều nhưng thân thể yếu ớt, tất trở thành kẻ nghèo sống trong nhà giàu. Nếu được Bính Tân hóa Thủy, tất nhiên sẽ do chơi bời cờ bạc đĩ điếm làm cho khuynh gia bại sản. Thổ nhiều mà không thấy có Giáp là không tốt, nhưng thấy có Đinh mà không thấy Bính Quý là số mệnh tầm thường. Gặp thấu hai can Bính, lại được Giáp thấu kiềm chế Mậu có thể đạt công danh.

Tóm lại, Mùa Hạ Ất Mộc, chuyên chọn được gặp Thủy, thứ đến là Bính Hỏa, Canh Tân.


Mùa Thu, Ất Mộc:

Canh Kim đương tiết, kiêm dùng Kỷ Thổ, không trọng Bính Quý. Nếu trong trụ Quý thấu, Bính tàng Canh ít, không dùng Kỷ Thổ mới có được công danh nhỏ. Nếu thấu Quý không gặp Bính thì chỉ là kẻ thư lại. Dưới chi không có Bính Kỷ mà nhiều Canh tàng Quý là mệnh của kẻ bình thường. Nếu sinh vào giờ Thìn thì gọi là “tòng hóa”, trái lại chủ là được phú quý song toàn.

Ất Mộc sinh vào tháng Tám là cây lan quế, sinh trước tiết Hàn lộ, chuyên dùng Quý Thủy là được tôn sùng. Sinh sau Thu phân thì hoa lan quế nở, thấy ngày càng thơm. Trước là Bính Hỏa, thứ là Quý Thủy trong tứ trụ Bính Quý đều thấu lộ, tất nhiên sẽ hiển đạt thành danh. Không có Hỏa, không có Thủy là số vất vả lao lực, thấu lộ Quý mà không có Nhâm gọi là vì con mà được mẹ, chủ suốt đời ăn mặc không thiếu. Nếu chi biến thành Kim cục, trong trụ nên tàng ẩn Đinh Hỏa để kiềm chế Kim, có thể tránh được Mộc tổn Kim thương. Trong trụ Bính Đinh Hỏa cùng thấu lộ với Mậu Thổ thì chủ được đường công danh. Ất Mộc sinh sau Thu phân nếu được giờ sinh thấu can là Bính Hỏa, trong trụ lại cùng gặp Quý Thủy, thì được gọi là Thủy Hỏa văn tinh, tất nhiên hiển quý, thấu lộ Bính mà không gặp Quý, chủ sẽ được tiểu phú quý. Nếu có Quý mà không có Bính, hoặc Bính Quý đều không có thì chủ sẽ được cả danh lẫn lợi. Vì Thu Mộc không có Hỏa thì không phát, nhưng cũng tối kỵ là Ất Mộc gặp Kim cường, thì sinh mệnh khó bảo toàn.

Ất Mộc sinh tháng Chín, chuyên lấy Quý Thủy để bồi dưỡng, trong trụ thấy có Quý Thủy, lại thấy có cả Tân Kim tất nhiên sẽ thanh quý (sang nhưng thanh liêm). Nếu có Tân mà không có Quý thì chủ nghèo hèn. Nếu có Quý mà không có Tân là hạ cách. Thấu lộ can Mậu Thổ, trong chi lại ám tàng Mậu Thổ, không gặp “Tỉ Kiếp” thì chủ giàu có, hễ thấy có “Tỉ Kiếp” thì tài khí bị chiếm đoạt tất trở thành người nghèo trong cảnh giàu, lại thêm ít con cái.


Mùa Đông, Ất Mộc:

Ất Mộc sinh tháng Mười, Nhâm Thủy nắm quyền, trước chọn Bính Hỏa, thứ dùng Mậu Thổ. Bính và Mậu cùng thấu lộ, trong tứ trụ tuyệt đối không có hình thương xung phá thì chủ sẽ công danh hiển đạt. Nếu thấy có Bính mà không thấy có Mậu cùng tham gia là những người Nho học. Không thấy có Bính Kỷ thì chủ khắc vợ con, Nhâm ít Mậu nhiều cũng sẽ là hạ cách. Chi nhiều Bính Hỏa, hành vào Hỏa hương, tất nhiên sẽ hiển đạt.

Ất Mộc sinh tháng Mười Một, chuyên chọn Bính Hỏa làm dụng thần, mà không dùng Quý Thủy để tránh Mộc bị Thủy làm cóng rét. Trong trụ thấu lộ hai can Bính Hỏa, không gặp Quý Thủy, công danh hiển đạt, chi ám tàng (ẩn chứa) Bính, chủ được ân phong ở thứ hạng cuối. Nếu chi thành Thủy cục, thấu lộ can Nhâm Quý mà không có Bính Hỏa, chỉ thấu lộ Mậu Thổ hoặc Nhâm Mậu đều không có, tất nhiên suốt đời nghèo hèn. Nếu chỉ có Đinh Hỏa lẻ loi thì khó giải quyết được đông cóng của hàn đông. Nếu một phái Đinh Hỏa cùng thấu lộ ra tất sẽ là người đại gian xảo trá, con cái nhiều. Nếua thành Thủy cục, thấu lộ hai can Nhâm Quý, chủ sẽ bần và yểu thọ.

Ất Mộc sinh tháng Mười Hai, chuyên chọn Bính Hỏa làm dụng thần, tứ trụ thấu lộ một Bính Hỏa, tuyệt đối không có hình xung. Không thấy có Quý Thủy là mệnh của Đại quý. Nếu trong tứ trụ có nhiều Kỷ Thổ, tuyệt đối không có “Tỉ Kiếp” xung khắc, được gọi là tòng tài cách, chủ sẽ giàu có. Hễ gặp “Tỉ Kiếp” thì chủ nghèo hèn đến nỗi không có chỗ cắm dùi. Can chi trong tứ trụ không có Bính Hỏa chủ sẽ nghèo hèn.

Bàn về Bính Hỏa

Mùa Xuân, Bính Hỏa

Tháng Giêng Bính Hỏa đang vượng, cần được Nhâm Thủy cùng cứu trợ, Canh Kim tương trợ, Nhâm và Canh cả hai thấu lộ thì công danh có triển vọng. Thấu can chỉ một Canh, chi ẩn tàng hai Bính, có thể mong giảm chức thì lại thăng. Chi tàng Canh Kim, can thấu Nhâm Thủy, chủ được “dị lộ công danh”. Nếu trong tứ trụ Nhâm Thủy nhiều, Bính Hỏa ít, cần được một Mậu Thổ kiềm chế Thủy, mới có thể chuyển hung thành cát, chủ phú quý. Nếu không có Mậu Thổ sẽ là “sát trọng thân khinh”, sẽ là người xảo trá độc ác. Năm và giờ đều thấy Tân Kim được gọi là chủ có lòng tham lam và hiếu sắc. Có nhiều Mậu Thổ mà không có Giáp Mộc sẽ là hạ cách.

Bính Hỏa sinh tháng Hai, chuyên lấy Nhâm Thủy làm căn cứ, là mệnh của người thanh quý (sang mà trong sạch). Thấu can Kỷ Thổ không thấy có Nhâm Thủy, thì ăn mặc có vẻ thiếu thốn. Ngày thấu lộ Bính Tí, giờ gặp Tân Mão, gọi là tòng hóa cách bất phùng thời, tất nhiên sẽ làm bại tổ nghiệp. Nếu được Đinh Hỏa phá Tân Kim làm cho Nhâm Thủy được yên vị trí, chủ sẽ giàu mà lại sang.

Bính Hỏa sinh tháng Ba, chuyên lấy Nhâm Thủy tương tế, Giáp Mộc tương trợ. Nhâm Giáp cả hai đều lộ, công danh ổn định. Nếu lại cùng thấu lộ Canh Kim để kiềm chế Giáp Mộc là mệnh của người tầm thường. Can thấu lộ Nhâm Thủy, chi tàng Giáp Mộc thì đại phú đại quý. Thấu lộ Giáp mà thiếu Nhâm, chủ phú trọc, tàng Nhâm thiếu Giáp chủ bần cùng, Nhâm và Giáp đều không có, chủ ngu hèn.


Mùa Hạ, Bính Hỏa

Bính Hỏa sinh tháng Tư, chuyên dụng Nhâm Thủy, thứ chọn Canh Kim, hai can Nhâm Canh thấu lộ, không gặp Mậu Thổ, tuyệt đối không có xung khắc, nhờ ơn tổ ấm mà được làm quan cao. Gặp Canh thấu Quý không giàu tất sẽ quý, can không thấu Nhâm gọi là “cô dương vô âm” không có dương hiển quý, Nhâm Quý đều không có thì tất nhiên nghèo hèn, Bính Hỏa nhiều mà không kiềm chế, thì không chết non tất là người xuất gia tu hành.

Bính Hỏa sinh tháng Năm, trước chọn Nhâm Thủy, thứ dùng Canh Kim, hai can Nhâm Canh thấu lộ, phú quý song toàn. Tứ trụ chỉ có nhiều Nhâm Thủy, còn Mậu Kỷ thì chỉ thấy lẫn vào, chủ được “dị lộ công danh”. Nhiều Hỏa không thấy Thủy là mệnh của hòa thượng. Hỏa Thổ lộn xộn, hễ thấy Quý Thủy tất sẽ thành người mù. Nếu thấy Mậu Kỷ, mắt không mù thì tất trở thành cô quả. Tứ trụ thấu lộ nhiều Giáp Ất tuyệt đối không có Canh Tân thấu lộ và ẩn tàng không thấy Thủy vận, gọi là viêm thượng cách tất nhiên sẽ đại phú đại quý. Nếu thấy Mậu Thổ để kiềm chế Thủy tất thành danh hoạn, không có Nhâm Thủy, trái lại là hạ cách.


Mùa Thu, Bính Hỏa

Bính Hỏa sinh tháng Bảy, chọn Nhâm Thủy là dụng thần cần được Mậu Thổ cùng kiềm chế. Nếu phần nhiều chỉ thấy Nhâm Thủy, chỉ xuất ra một mình Mậu Thổ, thì gọi là “nhất nhân hóa chúng sát”, chủ nắm giữ được quyền hành lớn. Nhiều Nhâm không có Mậu, hoặc Nhâm ít Mậu nhiều, đều thuộc mệnh người lao lực vất vả. Nhâm Mậu cùng thấu lộ, công danh có triển vọng.

Bính Hỏa sinh tháng Tám, vẫn chọn Nhâm Thủy, trong tứ trụ nhiều Bính Hỏa, chỉ thấu lộ một mình Nhâm, phú quý song toàn. Nhâm Thủy ám tàng, chỉ được công danh tối thiểu. Không có Nhâm Quý, khó được công danh, nếu gặp Tân Kim là số nghèo khổ. Dù cho thấu lộ một Đinh để cùng kiềm chế, cũng thuộc hạ cách, Nam chủ sẽ gian trá, Nữu chủ dâm tiện.

Bính Hỏa sinh tháng Chín, cuối Thu Hỏa suy, trước chọn Giáp Mộc, thứ chọn Quý Thủy, Giáp Nhâm cùng thấu lộ, tuyệt đối không có hình khắc, xung khắc, đại phú đại quý. Hai can Giáp Quý thấu lộ, chủ đạt được dị lộ công danh (công danh bằng con đường đặc biệt). Nếu là Canh Kim Mậu Thổ bị vây hãm là mệnh của kẻ tầm thường, ngu dốt. Trong trụ Nhâm Quý Canh Tân cùng thấu lộ, tuổi thọ rất ngắn ngủi.


Mùa Đông, Bính Hỏa

Bính Hỏa sinh tháng Mười, nếu được các thiên can cùng thấu lộ Giáp Mậu Canh, công danh nhận được ổn định. Nếu được thấu can Tân Kim mà chi thì thấy có Thìn, được gọi là hóa hợp gặp thời, tất nhiên là đại quý.

Bính Hỏa sinh tháng Mười Một, tháng Mười Hai, nhất dương lai phục, trước chọn Nhâm Thủy, thứ đến Mậu Thổ, Nhâm Mậu cùng thấu lộ công danh giành được vững chắc. Nhâm nhiều Mậu ít, khó mong tiến bằng quan trường. Nếu thấu lộ Giáp Mộc để cứu Mậu thì mệnh hiển quý. Không có Mậu mà lại gặp Kỷ cũng là dị cách, nhiều Nhâm không có Giáp, công danh có thể tìm thấy.


Bàn về Đinh Hỏa

Mùa Xuân, Đinh Hỏa

Đinh Hỏa sinh tháng Giêng, trước chọn Giáp Mộc gọi là mẫu vượng, thứ chọn Canh Nhâm Quý để tương trợ. Canh Nhâm cùng thấu lộ, còn gặp Kỷ Thổ để kiềm chế, dành công danh vững chắc. Nếu được Đinh thấu ở can năm, Nhâm thấu ở can tháng hoặc Đinh thấu ở can ngày, Nhâm gặp ở can giờ thì tất nhiên sẽ được đứng ở hàng quan cực phẩm, nhưng trái lại Nữ mệnh thì không quý (sang). Một phái Giáp Mộc không gặp Canh Kim thì mệnh vừa nghèo vừa yểu. Một phái Nhâm Quý, Nhâm không có Canh, chi không có Dần cũng là hạ cách.

Đinh Hỏa sinh tháng Hai, trước chọn Canh Kim, thứ chọn Giáp Mộc, Canh Giáp cùng thấu lộ, giành công danh vững chắc. Canh thấu Giáp tàng, chủ sẽ đạt công danh tối thiểu. Giáp thấu Canh tàng đang cầu công danh bằng con đường đặc biệt (dị lộ). Nếu trong tứ trụ quan quý song toàn “Sát Ấn” vượng, Canh Kỷ cùng thấu, gặp Kim Thủy vận, chủ sẽ khuynh gia bại sản. Nếu Canh thấu Kỷ tàng, hành Mộc Hỏa vận và không có hình xung khắc phá, tất nhiên phú quý song toàn.

Tháng Ba đang lúc Thổ vượng, Đinh Hỏa suy nhược, trước chọn Giáp Mộc, thứ chọn Canh Kim. Giáp Canh cùng thấu lộ, lại thấu Nhâm Thủy, gọi là “sát trọng thân khinh”, tất nhiên sẽ yểu thọ. Trong tứ trụ thấu Mậu Kỷ, và không có hình xung phá kiếp, tất nhiên đại quý.


Mùa Hạ, Đinh Hỏa

Đinh Hỏa sinh tháng Tư, trước chọn Giáp Mộc, sau lại Canh Kim, trong trụ thấu hai can Giáp Canh, giành công danh vững chắc. Hễ gặp Quý Thủy gọi là “ôn Giáp thương” mệnh của kẻ tầm thường. Canh Mậu cùng thấu, không gặp Giáp Mộc, nhất định sẽ phú quý. Thấu can Mậu Thổ, không gặp Giáp Mộc Nhâm Thủy, tức là “thương quan thương tận” có thể chỉ đạt tiểu phú quý. Nhiều Mộc nhiều Thủy, hoặc nhiều Bính không có Thủy kiềm chế là số nghèo khổ. Nếu thành cách cục chỉ một Bính không đoạt hai Đinh, tức sinh năm Đinh, tháng Kỷ, ngày Đinh Tị, giờ Bính Ngọ thì chỉ thành thân phận quan hoạn.
(*** Bản gốc thiếu tháng 5,6,7 của Đinh Hỏa***)


Đinh Hỏa sinh tháng Tám, trong tứ trụ đều gặp Giáp Canh Bính, mà không có hình xung khắc phá tất sẽ thành đại quý.

Sinh vào tháng Chín, chuyên chọn Giáp Mộc, Canh Kim là được tôn trọng. Giáp Canh cùng thấu, sang bé giàu lớn. Giáp Canh Bính cùng thấu, công danh giành được vững chắc. Thấu can Canh Bính không có Giáp chỉ thấy Nhâm là số làm quan thanh liêm. Nếu thấu một Nhâm hai Quý mà gặp Mậu Thổ kiềm chế là số giàu sang. Nếu trong trụ đều không có Thổ là mệnh người không tầm thường. Đinh Hỏa đều gặp tại can năm và can ngày, thấu Tân không có Canh tức là cách “tòng tài”, nếu không có hình xung “Tỉ Kiếp” là mệnh của Quận thú.


Mùa Đông, Đinh Hỏa

Đinh Hỏa sinh vào ba tháng đông, chuyên chọn Canh Kim Giáp Mộc làm tương trợ. Mùa Đông Đinh tất phải cần Giáp Mộc, gọi là Mộc Hỏa thông minh trong trụ không sợ nhiều Kim nhiều Thủy. Can thấu Bính Hỏa, Đinh Hỏa không sáng, cần có chi tàng Nhâm Thủy để chế phục, mới bảo đảm đời sống ăn mặc không bị thiệt kém. Giáp Canh cùng thấu, có thể giành được công danh. Hễ gặp Kỷ Thổ sẽ là hạ cách. Trong chi kiêm tàng Kim Tủy là số thanh quý. Trong can chi, Kim Thủy đều không có là số của người tầm thường. Có Thủy mà không có Kim, đạt công danh tối thiểu. Nếu được năm tháng đều thấu Quý Thủy, can giờ thấu Tân Kim, trong trụ tuyệt nhiên không hề có tí gì về chất Thổ tức là cách “khí mệnh tòng sát” chủ nhất định sẽ đại quý. Nếu chi thành Mộc cục, năm tháng đều thấu Quý Thủy, chủ nhất định được Lệnh phong.


Bàn về Mậu Thổ

Mùa Xuân, Mậu Thổ

Mậu nằm ở giữa của ngũ hành, bốn mùa có dùng và có kiêng kỵ, cho nên có thể không phân theo tháng, dùng mùa Xuân để khái quát nó, chọn Bính Hỏa để chiếu ấm, Giáp Mộc bổ thưa, Quý Thủy làm ẩm ướt, thì Mậu Thổ có thể sinh ra vạn vật.

Mậu Thổ sinh tháng Giêng, tháng Hai, trước chọn Bính, thứ là Giáp, sau đến Quý Thủy.

Sinh tháng Ba, trước chọn Giáp, sau Quý Thủy, trong tứ trụ được Giáp, Bính Quý đều thấu lộ, mà không có hình khắc là số đại quý. Nếu cả ba can đều có thấu, gặp ở thiên can có tàng, tàng ở địa chi thì chủ đạt tiểu quý. Nếu chỉ gặp Bính mà không có Giáp, Quý thì gọi là Xuân hạn, làm việc thành bại thất thường.

Tóm lại, Mậu Thổ sinh tháng Giêng, tháng Hai, tất gặp Bính Hỏa sẽ bắt đầu phát, không có Bính Hỏa mà có Giáp Quý là hạ cách. Nếu một phái Bính Hỏa, thấu Giáp không có Quý thì chủ sẽ thông đạt về những năm về sau đời. Chi thành Hỏa cục, trong trụ không hề có một chút Thủy nào là số cô bần. Giáp và Canh đều thấu, chi thành Mộc cục mà không có hình xung khắc phá thì phú quý song toàn. Nếu không có Canh Kim và “Tỉ Kiếp” thì không trộm cướp cũng sẽ chuốc lấy tai họa bất ngờ.

Mậu Thổ sinh tháng Ba, trong tứ trụ đều không có Giáp Bính Quý là số ngu hèn. Hễ thấu Giáp Quý tất sẽ thành hiển quan. Giáp Quý ám tàng, tất thành nhà tư bản. Bính nhiều mà không có Quý giống như ruộng hạn không có nước, thì chủ trước giàu sau nghèo. Hỏa nhiều mà thấu Nhâm Thủy cùng kiềm chế thì nhất định chủ sẽ trước nghèo, sau giàu. Nếu thấy Quý Thủy thì trước hèn, sau quý. Nếu chi thành Mộc cục, thấu can Giáp Ất thì gọi là “quan sát hội hợp” cần phải thấu Kim tốt để quét sạch nó, thì tất nhiên sẽ phú quý song toàn, không thấy Canh Kim thì lại thành nghèo hèn, cần phải được Hỏa để tòng Mộc khí thì mới có thể được quý hiển. Chi thành Hỏa cục, thấu Quý tất sẽ ngồi hưởng phú quý. Thấu Nhâm chủ cũng được phú quý, nhưng phải tìm nó từ trong lao khổ (gian khổ). Bao trùm Quý Thủy là nước ở trên trời cho nên có thể yên hưởng phú quý. Nhâm Thủy là nước của sông ngòi, nên cần phải dùng sức người để lấy mới có thể tưới ướt đất và trưởng thành.


Mùa Hạ, Mậu Thổ

Mậu Thổ sinh tháng Tư, trước chọn Giáp Mộc bổ thưa, thứ đến Bính Hỏa Quý Thủy, Bính Giáp hoặc Bính Quý cùng thấu tất nhiên hiển quý. Quý thấu Nhâm tàng tuyệt đối không có xung khắc mà hóa hợp thành cục, chủ quý đến làm quan cực phẩm, giàu tựa Thạch Sùng. Nếu chi thành Kim cục, can thấu Quý Thủy gọi là “Thổ nhuận Kim sinh”, chủ đạt công danh đặc biệt.

Mậu Thổ sinh tháng Năm, trời nắng nóng, đất khô cằn, trước chọn Nhâm Thủy để nhuận Thổ, thứ chọn Giáp Mộc để bổ thưa. Bính Hỏa cân nhắc dùng. Nếu được Nhâm Giáp thấu lộ, tuyệt đối không hình xung khắc phá, nhất định chủ phú quý. Lại được can năm thấu lộ Tân là mệnh làm tướng lĩnh hoặc thừa tướng. Chi thành Hỏa cục, thấu Quý Thủy thì lực mỏng manh khó kiềm chế, là mệnh nghèo hèn. Nếu thấu Nhâm Thủy giành công danh vững chắc.

Mậu Thổ sinh tháng Sáu, trước chọn Quý Thủy thứ Giáp Mộc và Bính Hỏa, Quý Bính đều thấu lộ giành công danh vững chắc. Thấu Bính không có Quý, ăn mặc không thiếu thốn, thấu Quý không có Bính lại gặp Giáp, chủ đạt công danh tối thiểu. Không có Giáp chủ sức khỏe không tốt. Quý Tân cùng thấu, chủ đạt công danh khác thường. Trong trụ đều không có Bính Tân Giáp, là số nghèo hèn, thổ nhiều chỉ thấu một giáp, không gặp Canh Tân là thượng cách.


Mùa Thu, Mậu Thổ

Mậu Thổ sinh tháng Bảy, trước chọn Bính sau Quý, sau nữa Giáp Mộc, cả ba can cùng thấu lộ, chủ vừa phú lại vừa quý. Bính Giáp thấu lộ, trong tứ trụ chỉ gặp cùng một chữ, gọi là Quý Thủy hội cục, là số phú quý. Thấu Quý Giáp mà không có Bính, chủ cao mà thanh nhã. Trong tứ trụ mà không thấy có Bính Giáp Quý là hạ cách.

Mậu Thổ sinh tháng Tám, tháng Tám Kim Bính Thổ hàn, trước chọn Bính Hỏa, thứ đến Quý Thủy, Bính Quý đều thấu, mà không có xung phá, nhất dịnh trở thành hiển hoạn. Bính Quý đều không có, một đời lao lực vất vả. Bính tàng không có Quý cũng là hạ cách. Quý thấu, Bính tàng là số sức khỏe kém. Trong trụ một phái Tân Kim, không thấy Bính Đinh gọi là thương quan cách, cần gặp Quý Thủy là mệnh phú quý, không có Quý là hạ cách. Tóm lại, Thu Thổ là cực yếu, cần được thấu can Bính Đinh mới đẹp.

Mậu Thổ sinh tháng Chín, tháng Chín đang là Mậu Thổ nắm quyền, trước chọn Giáp Mộc, thứ đến Quý Thủy, chỉ có điều kỵ hóa hợp gặp Kim, trong trụ có Giáp không có Quý Bính, ăn mặc đầy đủ. Có Quý, không có Bính, chủ kém sức khỏe. Nếu chi thành Thủy cục, can thấu Nhâm Quý, mà là “Tỉ Kiếp” chủ giàu có. Chi thành Hỏa cục, Kim Thủy đều thấu, chủ sức khỏe kém, không gặp Quý Thủy, số nghèo hèn.


Mùa Đông, Mậu Thổ

Tháng Mười dương khí phát động, trước chọn Giáp Mộc, thứ đến Bính Hỏa, Giáp Bính cả hai đều thấu lộ, phú quý song toàn. Can thấu Giáp Bính, chi tàng Nhâm Thủy là số quý hiển. Thấu Bính, Giáp tàng giành được công danh vững chắc. Nếu thấy Canh Đinh cùng kiềm chế, chủ được công danh khác thường. Trong tứ trụ đều không có Bính Giáp là số đi tu hành.

Tháng Mười Một, tháng Mười Hai là trời đất lạnh cóng, trước chọn Bính Hỏa, lại chọn lại Giáp Mộc, Bính Giáp đều thấu là số phú quý. Tàng Giáp, thấu Bính đạt công danh tối thiểu. Trụ thấu Bính Hỏa không thấy Giáp, chủ sẽ đại phú (giàu to). Có Giáp mà không có Bính thì chủ thanh bần, Bính và Giáp đều không có, chủ ngu hèn. Trong trụ nhiều Bính Hỏa, nhưng gặp một can Nhâm thấu, chủ thanh quý. Không có Nhâm thì chủ cô bần.


Bàn về Kỷ Thổ

Mùa Xuân, Kỷ Thổ

Kỷ Thổ sinh tháng Giêng, đất đông cứng chưa tan, chuyên chọn Bính Hỏa để làm ấm nó. Kỵ gặp Nhâm Thủy, cần được Mậu Thổ để cứu chữa nó. Trong tứ trụ nhiều Nhâm Thủy, nếu được Mậu Thổ thấu can là số thanh quý. Nếu không có Mậu Thổ tức là hạ cách. Trong trụ có nhiều Giáp Mộc, mà được Canh Quý Bính cùng thấu lộ, được gọi là “phối đắc trung hòa”, chủ đạt được cả danh lẫn lợi. Chỉ có điều là phải không hình xung khắc phá mới ứng nghiệm. Nếu một phái Giáp Mộc không gặp Canh Kim, nếu không có Đinh Hỏa cùng kiềm chế, là số tàn tật. Một phái là Hỏa không gặp Thủy thì chủ giàu có.

Kỷ Thổ sinh tháng Hai, trước chọn Giáp Mộc kỵ hợp, thứ chọn Quý Thủy, Giáp Quý cùng thấu, giành được công danh vững chắc. Nếu được kiêm thấu Bính Hỏa, làm quan đến cực phẩm. Hễ thấy Nhâm Thủy thì giáng đến cấp cuối cùng. Giáp Mộc bị Canh Tân kiềm chế, can thấu Nhâm Thủy cùng với nhiều “Tỉ Kiếp” là số người tầm thường.

Kỷ Thổ sinh tháng Ba, tháng Ba là thời gian đang cấy ruộng, trước chọn Bính Hỏa, thứ đến Quý Thủy và Giáp Mộc, Bính Quý Giáp cùng thấu, có vị trí quan cao. Chỉ có điều cần không có hình xung khắc phá mới ứng nghiệm, không có Bính Giáp mà lại thấu Quý là số mệnh của kẻ hàn sĩ. thấu Bính Giáp mà không có Quý là mệnh của người giàu. Không có Giáp mà thấu Bính Quý là người đa tài. Bính Quý đều không có là mệnh của kẻ nghèo hèn.
Mùa Hạ, Kỷ Thổ

Ruộng đất mùa Hạ nên ẩm ướt, trước chọn Quý Thủy, thứ dùng đến Bính Hỏa. Phàm là Kỷ Thổ sinh vào các tháng Tư, Năm, Sáu, Bính Quý cùng thấu, lại xuất thêm Tân Kim, lấy Quý Thủy là mệnh của phú quý. Nếu Bính Hỏa nhiều mà lại gặp Ất Mộc để kiềm chế Tân, nhất định chủ sẽ cô đơn và khổ. Trong trụ không có Bính Hỏa gọi là cô âm, không có Quý Thủy gọi là ruộng cạn đều không phát.


Mùa Thu, Kỷ Thổ

Ba tháng Thu Kỷ Thổ, trước chọn Bính Hỏa để làm ấm nó, thứ chọn Quý Thủy để làm ướt nó, Bính Quý cả hai đều thấu lộ giành công danh vững chắc. Có Bính không có Quý, tất sẽ lập được võ công. Can thấu Nhâm Quý không hẳn bảo đảm; ăn mặc đều không có cả hai, chi thành Kim cục, mà được Quý thấu tức có gốc, chủ giành được quý trong sự giàu có, hoặc chi “tứ khố”, thấu Giáp tức là người giàu, không có Giáp tức là nghèo.


Mùa Đông, Kỷ Thổ

Đất mùa đông không có Hỏa thì không ấm, chuyên chọn Bính Hỏa làm dụng thần, vì sao không chọn Đinh Hỏa, đại để Bính Hỏa là hỏa của Mặt trời, còn Đinh Hỏa chỉ là lửa của cây đèn, cây nến. Can chi gặp Bính, kiêm thấu Giáp Mộc, giành công danh vững chắc. Trong trụ có nhiều Nhâm Thủy, thấu Mậu Thổ để kiềm chế nó, chủ sẽ giành được quý trong giàu có. Nhâm Thủy thấu can, là số cô bần; thấu Mậu Thổ thì sẽ không nghèo, gặp Bính Đinh thì lại không cô đơn.
Bàn về Canh Kim

Mùa Xuân, Canh Kim

Canh Kim sinh tháng Giêng, khí hàn lạnh chưa hết, trước chọn Bính sau chọn Giáp, Bính Giáp cùng thấu cả hai giành công danh vững chắc. Bính tàng Giáp thấu, tất được công danh đặc biệt. Nhiều Thổ mà thấu Giáp thì hiển quý. Giáp tàng trong chi, chủ sẽ giàu có. Can thấu Đinh Hỏa, có Thổ mà không gặp Thủy, thì phú quý song toàn. Chỉ có điều là cần không hình xung khắc phá mới nghiệm, chi thành Hỏa cục, thấu Nhâm là có gốc chủ đại phú quý. Hỏa cục không có Thủy là số mệnh tàn tật. Mộc bị Kim thương, có cái cứu thì tiểu phú. Không thấu Bính Đinh, gọi là không có cứu cánh là hạ cách.

Canh Kim sinh tháng Hai thuộc Ất Mộc nắm quyền, chuyên chọn Đinh Hỏa, thứ dùng Giáp Mộc, Đinh Giáp cùng thấu, dưới chi lại tàng Đinh để kiềm chế Giáp, gọi là phối hợp trung hòa, là mệnh đại quý. Bính Tân Đinh thấu can, dưới chi lại tàng nhiều Thủy nhiều Mộc, chủ cũng đại phú quý nhưng không có con cái, ở trên đều cần không có hình xung khắc phá mới nghiệm.

Canh Kim sinh tháng Ba, trực thuộc Mậu Thổ nắm quyền, trong trụ Thổ vượng cần thấu Giáp Mộc để tương cứu, không có Giáp sẽ là hạ cách. Tóm lại trước chọn Giáp Mộc, sau chọn Đinh Hỏa, Giáp Đinh thấu cả hai, tuyệt đối không có xung phá, công danh giành được vững chắc. Nếu gặp “Tỉ Kiên”, công danh trùng lại, Đinh Hỏa thấu can, chi tàng Giáp Mộc sẽ được công danh đặc biệt. Thấu Giáp không có Đinh, thấu Đinh không có Giáp là mệnh kẻ tầm thường. Giáp Đinh đều không có là mệnh của kẻ hạ tiện. Đinh Giáp tàng chi, lại tàng thêm Bính Hỏa gọi là phối hợp trung hòa, chủ phú quý song toàn. Chi thành Hỏa cục mà thấu Quý Thủy, tuyệt đối không có xung phá, chủ cũng phú quý.

Mùa Hạ, Canh Kim

Canh Kim sinh tháng Tư, cần phải có Thủy Hỏa tương tế mới phát, trước chọn Nhâm Thủy, thứ đến Bính Hỏa Mậu Thổ, Nhâm Bính Mậu cũng thấu là mệnh hiển quý. Trụ nhiều Bính Hỏa, thấu Nhâm Thủy là có kiềm chế, là mệnh phú quý. Không có Nhâm Thủy sẽ là mệnh của kẻ tầm thường. Vả lại còn “hình thê khắc tử”, trong trụ tàng ẩn Canh Tân, được gọi là chi thành Kim cục, can thấu Đinh Hỏa thì sức khỏe kém, không có Đinh Hỏa lại là hạ cách.

Canh Kim sinh tháng Năm, đang là lúc Hỏa nắm quyền, trước chọn Nhâm Thủy thứ đến Quý Thủy. Nhâm xuất can, còn chi tàng Quý, kiêm tàng Canh Tân không có xung phá, giành được công danh vững chắc. Thấu can Quý Tân mà không có xung phá, tất sẽ giành được công danh đặc biệt. Tóm lại, trong trụ không hề có một chút Thủy, hung nhiều, cát ít (dữ nhiều lành ít), cần phải lộ đầu can Thổ, mới tránh được yểu thọ và cô bần.

Canh Kim sinh tháng Sáu là thời kỳ “tam phục sinh hàn” trước chọn Đinh Hỏa, thứ đến Giáp Mộc, Đinh Giáp cùng thấu lộ là số mệnh cao quý, cả hai mà thiếu một thì khó mong phát phúc, Đinh Giáp đều không có là số hèn.

Mùa Thu, Canh Kim

Canh Kim sinh tháng Bảy, thuộc Kim thần đương quyền, trước chọn Đinh Hỏa để luyện Kim, thứ chọn Giáp Mộc để hỗ trợ hỏa lực. Gặp Thủy bị khắc thì không phát, Đinh Giáp cùng thấu, nếu không có hình xung khắc phá, có thể hy vọng nhìn tới trời xanh, nếu hành vận may vỗ cánh chim bằng. Tóm lại, mùa Thu hành Kim hoàn toàn dựa Đinh Giáp phù trợ, nếu thiếu một tức mệnh bình thường. Nếu cả hai đều không có là mệnh kẻ hèn. Chi tàng ẩn Nhâm Quý gọi là thành Thủy cục, cần gặp Bính Đinh cùng chế ngự, nếu có Bính mà không có Đinh là mệnh ngu đần.

Canh Kim sinh tháng Tám, thuộc thời kỳ mùa Thu Kim đang vượng, trước chọn Đinh Hỏa, thứ chọn Giáp Bính, nếu được cả ba cùng thấu, nhất định hiển quý. Lại gặp Dương Nhẫn không gặp hình xung, thì Dương Nhẫn này “giá sát” là quý mệnh của người “xuất tướng nhập tướng” (số không làm đại tướng cũng làm thủ tướng). Trong trụ gặp nhiều Bính Hỏa, can thấu một mình Đinh có thể được công danh. Tóm lại, Canh Kim sinh tháng Tám thiếu Hỏa không phát.

Canh Kim sinh tháng Chín, Mậu Thổ nắm quyền kỵ nhất là trong trụ nhiều Thổ chôn vùi Kim, nên trước chọn Giáp Mộc sau chọn Nhâm Thủy, Giáp Nhâm cả 2 cùng thấu, chủ nhất định sẽ hiển quý. Chỉ có điều cần không gặp Kỷ Thổ, tuyệt đối không có hình xung mới nghiệm. Giáp thấu Nhâm tàng hoặc Giáp tàng Nhâm thấu, có thể dành được công danh. Có Nhâm không có Giáp thuộc loại tầm thường, có Giáp không có Nhâm thì học vấn cao. Chi thành Thủy cục, can thấu Bính Hỏa, tất sẽ nổi tiếng về văn tài. Kỵ nhất là Kim vượng Mậu Thổ nhiều, tuyệt nhiên không có Giáp Nhâm tương cứu, thì gọi là Thổ dầy chôn vùi Kim, thì dù có căn cơ những cũng khó được hưởng phúc.

Mùa Đông, Canh Kim

Canh Kim vào mùa Đông, không có Hỏa thì không vượng, người sinh vào tháng Mười, trong trụ Đinh và Giáp cả hai cùng thấu, giành công danh vững chắc. Nếu lại được chi tàng Bính Hỏa là số mệnh thanh quý. Đinh tàng Giáp thấu, có thể cầu được công danh khác thường. Thấu Bính mà không gặp Đinh, lại là số mệnh tầm thường.

Sinh tháng Mười Một, Thủy vượng trời lạnh rét, trước chọn Đinh Hỏa, thứ đến Giáp Mộc, Bính Hỏa, nếu Đinh Giáp thấu can, chi tàng Bính Hỏa, lại không có hình khắc, nhất định ung dung bước vào chốn thanh vân. Có Đinh không có Giáp thì “quý tòng phú xuất” (có quý không phú). Có Giáp không có Đinh thì tầm thường không phát. Thấu Giáp tàng Đinh tất sẽ lập võ công. Tàng Đinh thấu Bính thì được “dị lộ công danh”. Đinh Giáp cùng thấu, chi không có Bính Hỏa thì công danh tối thiểu. Chi tàng Nhâm Quý thành Thủy cục, trong trụ không hề có Bính Đinh gọi là thương quan cách, ăn mặc không đủ, con cái cũng không.

Sinh tháng Mười Hai, trời đất bắt đầu rét cóng, trước chọn Bính Tí làm đầu, lại dựa vào Giáp Mộc để trợ Hỏa lực, Bính Đinh Giáp cùng thấu không gặp hình xung khắc phá, tất sinh hiển hoạn. Nếu thấu Đinh Giáp mà không có Bính, thì chủ nổi tiếng về tài năng. Thấu Bính mà không gặp Đinh Giáp chủ “quý tòng phú xuất”. Thấu Bính Đinh mà không có Giáp thì nhất định “tay trắng làm nên”.


Bàn về Tân Kim

Mùa Xuân, Tân Kim

Sinh tháng Giêng, Tân Kim chính lúc Giáp Mộc nắm quyền, trước chọn Kỷ Thổ, thứ dùng Nhâm Thủy, Kỷ Nhâm cả hai cùng thấu, chi tàng Canh thì giành công danh vững chắc. Thấu Nhâm Thủy mà không có Kỷ Canh là số nghèo hèn. Tàng Giáp thấu Kỷ đừng nên cầu công danh. Nhưng, đều cần không có hình xung mới nghiệm. Can thấu Nhâm Canh, Hỏa cục có chế ngự, là số mệnh quý hiển.

Tân Kim sinh tháng Hai, Nhâm Giáp cùng dùng, cả hai đều thấu không có xung phá, nhất định hiển quý, can không gặp Thổ chi Hợi tàng Nhâm, chủ sức khỏe kém, dưới chi không có Nhâm tàng, lại là hạ cách.

Tân Kim sinh tháng Ba, trước chọn Nhâm sau Giáp, Nhâm Giáp cả hai cùng thấu, phú quý song toàn, tàng Giáp thấu Nhâm là người giàu có. Tàng Nhâm thấu Giáp đạt công danh tối thiểu. Nhâm Giáp đều không có là kẻ tầm thường. Trong trụ một phái Bính Đinh, tuyệt nhiên không có Nhâm Quý cùng kiềm chế là số của người tu hành. Nếu được trong chi ẩn tàng Quý Thủy thì có thể tránh được.

Mùa Hạ, Tân Kim

Tân Kim sinh tháng Tư, Bính Hỏa nắm quyền, không có Thủy thì Kim bị Hỏa làm thương tổn, trong tứ trụ cả Nhâm và Quý cùng thấu, tuyệt nhiên không có hình xung, tất nhiên quý hiển. Nếu chỉ có chi tàng Nhâm Quý và Mậu Kỷ là mệnh số sức khỏe kém. Nhâm Quý đều không có, trái lại lại thấu Hỏa, nghèo khổ không có hậu, nếu được can thấu Giáp Mộc thì gọi là có bệnh gặp thuốc, có thể bảo đảm được ăn mặc không quá tồi.

Sinh tháng Năm, Đinh Hỏa đang quyền, Tân Kim cần phải được Thổ ướt tương hỗ, cho nên chọn Kỷ Thổ, Nhâm Thủy làm dụng thần. Quý là nước sông ngòi, lực hơi yếu, không bằng nước trên trời của Nhâm. Nhâm Kỷ cả hai cùng thấu dưới chi tàng Quý, tuyệt nhiên không có xung phá tất nhiên hiển quý. Thấu Kỷ không có Nhâm, có thể được công danh khác thường.

Tân Kim sinh tháng Sáu đang lúc Thổ vượng, chuyên chọn Nhâm Thủy, lại dựa vào Canh Kim để phụ trợ, cả hai Nhâm Canh cùng thấu không có hình xung, tất nhiên hiển quý. Can thấu Mậu Thổ nếu không có dương Giáp cùng kiềm chế là mệnh của kẻ tầm thường. Nếu có Giáp có Canh, Mộc bị Kim khắc cũng là hạ cách. Chỉ có điều là can thấu Nhâm Kỷ, có Canh không có Giáp mới là thượng mệnh.

Mùa Thu, Tân Kim

Mùa Thu tháng Bảy Kim đang vượng, chuyên chọn Nhâm Thủy làm đầu, đôi khi cũng cần Giáp Mộc Mậu Thổ, trong tứ trụ có Thổ không có Mộc gọi là có bệnh không có thuốc, tuy mệnh tốt, nhưng cũng khó phát vận. Trong tứ trụ một phái Kim Thủy, nếu được Mậu Giáp cùng gặp, mà không có hình xung là mệnh phú quý. Nếu gặp Mậu, không có Giáp lại là hạ cách.

Sinh tháng Tám Tân Kim nắm quyền, chuyên chọn Nhâm Thủy, kỵ gặp Bính Đinh, trụ thấu một mình Nhâm và gặp Canh Giáp, tuyệt đối không có Hỏa khí hình xung, tất nhiên đại phú đại quý. Hễ gặp Đinh Hỏa thì chỉ đủ no ấm. Mậu Thổ chồng nhau, “Tỉ Kiên” trùng lặp, can thấu một Nhâm gọi là Thổ dầu vùi Kim, là số mệnh tầm thường. Hễ gặp Giáp Mộc sẽ là có bệnh gặp được thuốc, chủ tay không làm nên. Một Nhâm thấu can, Tân Kim gặp chồng nhau mà không có hình xung thì phú quý song toàn. Tóm lại, Kim sinh vào mùa Thu nếu thành Kim cục, mà lại được Tỵ Dậu Sửu đều có đủ, thì nhất định làm quan chức lớn.

Tháng Chín Mậu Thổ nắm quyền, chọn trước Giáp sau Nhâm, Giáp Nhâm cùng thấu giành công danh vững chắc. Can thấu Giáp Mộc, chi tàng Nhâm Mậu có thể giành được công danh đặc biệt.

Mùa Đông, Tân Kim

Kim sinh vào lúc dương Thu, trước Nhâm sau cái khác, có thể nhận được hiệu ích Thủy Hỏa tương tế. Nhâm Bính cùng thấu, tuyệt nhiên không có hình xung, gọi là Kim bạch Thủy thanh, tất được công danh. Can thấu Nhâm Thủy, chi tàng Bính Hỏa là mệnh sức khỏe kém. Nhâm Mậu cùng thấu thì đủ ăn đủ mặc, gặp Nhâm mà không có Mậu thì chủ nghèo hèn.

Tân Kim sinh tháng Mười Một, Quý Thủy đang quyền, nhất thiết kỵ Mậu Quý mà thích Nhâm Bính. Nhâm Bính cả hai cùng thấu, can chi đều không có Mậu Quý, tất nhiên phú quý song toàn. Trong trụ có nhiều Nhâm Thủy, lại thấu Mậu Giáp Bính là số mệnh quý hiển. Trong trụ nhiều Nhâm Thủy không gặp Bính Mậu là kẻ nghèo nàn.

Sinh tháng Mười Hai là lúc trời đất lạnh cóng, chọn trước Bính sau Nhâm, Bính Nhâm thấu cả hai không có hình xung, là mệnh của người thanh quý (quan thanh liêm). Thấu Bính thiếu Nhâm chủ sức khỏe kém, thiếu Bính thấu Nhâm chủ nghèo hèn. Bính Nhâm đều không có là mệnh tú tài, nhiều Bính thiếu Nhâm mà thấu Quý Thủy, nếu không có hình xung khắc phá, có thể làm nên cơ nghiệp bằng nghề buôn bán.


Bàn về Nhâm Thủy

Mùa Xuân, Nhâm Thủy

Nhâm Thủy sinh tháng Giêng là lúc Thủy đang vượng, trước chọn Canh Kim tương sinh thì sẽ chảy được xa, thử dùng Mậu Thổ để phòng kiềm chế, Bính Hỏa để tương tế. Trong trụ Canh Mậu Bính đều thấu đủ, không gặp hung tinh hình xung, nhất định quý hiển. Can thấu Mậu Thổ, trong chi lại ám tàng nhiều Mậu, không gặp hình xung, thì gọi là một người nắm giữa quan ải muôn người không địch nổi, nhất định sẽ không làm đại tướng cũng làm thủ tướng. Tóm lại, Nhâm Thủy sinh tháng Giêng không gặp Canh Mậu sẽ là hạ cách.

Nhâm Thủy sinh tháng Hai, trước chọn Mậu Thổ, thứ chọn Tân Kim, Mậu Tân cả hai cùng thấu không có hình xung, giành công danh vững chắc. Can thấu Canh Kim, chi tàng Mậu Tân, chỉ giàu không sang. Mậu thấu Tân tàng, có thể cầu được công danh đặc biệt. Chi tàng Giáp Ất thành Mộc cục, can thấu Canh kim chủ được công danh. Hỏa nhiều thấu Mộc lại gặp Nhâm Thủy, gặp Dương Nhẫn, Tỉ kiếp, trái lại chủ được phú quý, gọi là Mộc thịnh Hỏa viêm, không có Thủy sẽ là hạ cách.

Sinh tháng Ba, Mậu Thổ đang vượng, trước chọn Giáp sau Canh, Canh Giáp cùng thấu không có hình thương xung phá, công danh giành được vững chắc. Giáp thấu đầu can, lại gặp Quý Thủy mà không có hình xung, tất sẽ hiển quý bằng võ công. Chi tàng một Giáp, can không thấu Mộc, chủ nhất định sẽ giàu to. Tóm lại, trong trụ không có Giáp chủ ngang ngược, không gặp Canh kim chủ ngu và thô lỗ.

Mùa Hạ, Nhâm Thủy

Nhâm Thủy sinh tháng Tư thuộc Bính Hỏa nắm quyền, chuyên dùng Nhâm Thủy để tương trợ, thứ chọn Tân Kim để tương sinh. Nhâm Tân cùng thấu không có hình xung khắc phá, giành công danh vững chắc. Trong trụ Quý Tân Giáp cùng thấu, có thể cầu được công danh đặc biệt. Trong tứ trụ Thủy ít Hỏa nhiều, gọi là liều mạng theo tài, tất được “Thê Tài”. Nếu can của ngày thấu Nhâm Ngọ, can năm thấu Nhâm Dần, tháng và giờ đều là Ất Tỵ tức là “tam hình hợp cục” nhất định làm quan cực phẩm.

Nhâm Thủy sinh tháng Năm, đang thuộc Đinh Hỏa nắm quyền, Nhâm Thủy cực yếu, trước chọn Canh kim để tương sinh, thứ chọn Quý Thủy để hỗ trợ, Canh Quý cùng thấu giành công danh vững chắc. Trong tứ trụ nếu gặp hai Nhâm kẹp một Canh, không hề có hình xung, tất nhiên sẽ đại quý.

Nhâm Thủy sinh tháng Sáu, Kỷ Thổ nắm quyền. Chọn trước Tân sau Giáp, Tân Giáp cùng thấu, phú quý song toàn, thấu Giáp tàng Tân, chủ sẽ lập được quân công. Tân Nhâm thấu can, vô hình thương nhất định quý hiển.

Mùa Thu, Nhâm Thủy

Sinh tháng Bảy, Canh kim đang nắm quyền, trước chọn Mậu Thổ, thứ chọn Đinh Hỏa, Mậu Đinh cả hai cùng thấu, không có hình thương tất đạt quan cao chức trọng. Trong trụ có nhiều Mậu Thổ, không gặp Giáp Mộc sẽ là kẻ tầm thường. Hễ gặp Giáp Mộc để kiềm chế Thổ có thể đạt tiểu quý. Đinh Mậu cả hai đều tàng ẩn trong chi, chủ sẽ có được quý từ trong giàu có.

Nhâm Thủy sinh tháng Tám thuộc Tân kim đang vượng, chuyên chọn Giáp Mộc, can giờ thấu Giáp, không hề có hình xung phá hại, tất nhiên sẽ quý hiển, chỉ gặp Thân, Hợi thì chủ kém sức khỏe.

Nhâm Thủy sinh tháng Chín, trước chọn Giáp Mộc thứ đến Mậu Thổ, Giáp Mậu cùng thấu, thấu Bính nhiều Nhâm, trong tứ trụ trung hòa, không có bệnh là mệnh thanh quý. Không gặp Bính Mậu là hạ cách.

Mùa Đông, Nhâm Thủy

Tháng Mười đang thuộc Nhâm Thủy tự vượng, trước chọn Mậu Thổ, thứ đến Canh Kim, Mậu Canh cả hai cùng thấu, tất nhiên thanh quý. Can Mậu Canh không gặp Giáp, không hề có hình thương phá hại thì chủ quý hiển. Giáp Mộc thấu can và xuất Mậu Thổ để cùng kiềm chế, nếu không có Canh Kim cùng cứu là mệnh nghèo hèn.

Nhâm Thủy sinh tháng Mười Một, Dương nhận trợ thân, Thủy khí cực vượng, trước chọn Mậu Thổ, thứ dùng Bính Hỏa, Mậu Bính cùng thấu, trong tứ trụ phối ghép trung hòa, chủ nhất định phú quý. Thấu Bính không có Mậu thì chủ tiểu phú.

Nhâm Thủy sinh tháng Mười Hai, đang là lúc trời lạnh nước đóng băng, chuyên chọn Bính Hỏa, thứ đến Giáp Mộc, Bính Giáp cùng thấu không có hình hại, chủ nhất định sẽ quý hiển.


Bàn về Quý Thủy

Mùa Xuân, Quý Thủy

Quý Thủy sinh tháng Giêng, là thời gian nội Hỏa đang vượng, trước chọn Tân Kim để phát nguồn nước, thứ dùng Bính Hỏa để hòa tan nước đông. Tân Bính cùng thấu gọi là âm dương hòa hợp, trong cách không gặp hình thương phá hoại, tất nhiên đại phú đại quý. Nếu chi tàng Bính Đinh thành Hỏa cục, lại kiêm Hỏa nhiều Thủy ít, cần thấu Nhâm Thủy là “cứu dược” chủ mới phú quý. Không có Canh sẽ biến thành mệnh nghèo yếu. Bính tàng Tân thấu chủ quý hiển, Bính thấu Tân tàng mệnh Tú tài. Nếu thành Thủy cục tất gặp Bính Hỏa chủ sức khỏe kém, không có Bính sẽ là hạ cách.

Quý Thủy sinh tháng Hai, thuộc lúc Ất Mộc đang vượng, chuyên chọn Canh Tân để sinh Thủy cả hai cùng thấu, không gặp Đinh Hỏa và hình hại tất nhiên hiển quý một thấu một tàng, thì đạt công danh tối thiểu. Trong chi tàng Canh Tân, trong trụ không có hình xung, chủ được quý trong sự giàu có, Canh Tân đều không có là mệnh hèn.

Quý Thủy sinh tháng Ba, người sinh sau tiết Thanh Minh, cái rét mùa Xuân chưa hết, chuyên dùng Bính Hỏa, sinh sau Cốc Vũ, cũng chọn Bính mà kiêm dùng Tân Giáp để phù trợ, Tân Bính Nhâm đều tề tựu, không gặp hình xung, người sinh sau Thanh Minh tất nhiên hiển quý. Người sinh sau Cốc Vũ, Quý Tân thấu can không gặp hình thương thì chủ tiểu quý. Can thấu Giáp Mộc, chi tàng Thìn Tuất Sửu Mùi (gọi là Tứ khố) chủ công danh hiển đạt.

Mùa Hạ, Quý Thủy

Quý Thủy sinh tháng Tư, chuyên chọn Tân Kim làm trợ giúp, không có Tân thì không quý; thứ đến Canh Kim, Tân Canh thấu can lại gặp Nhâm Thủy mà không có hình thương, tất nhiên sẽ hiển quý. Hễ gặp Đinh Hỏa sẽ biến thành mệnh của kẻ nghèo khổ và hèn mọn. Trong chi tàng Tân, tuyệt nhiên không có Đinh Hỏa kiềm chế sẽ đạt công danh tối thiểu. Trong trụ một phái Hỏa Thổ không gặp Tân Kim và Dương nhận tuy có Kỷ Canh cũng khó làm “cứu dược”, người này nhất định phải chịu tàn tật. Nhâm Canh cùng thấu không có hình thương là mệnh của người được hiển quý.

Sinh tháng Năm, Bính Hỏa đang vượng, chuyên chọn Canh Tân để hỗ trợ Thủy, Canh Tân thấu can lại gặp Nhâm Thủy, không hề có hình thương phá hại, nhất định sẽ gặp đại quý. Canh Tân thấu can, chi tàng Thân Tí Thìn là mệnh của người thanh quý. Thủy ít Kim nhiều là mệnh của người giàu có. Kim thủy đều thấu, không có hình thương sẽ được phú quý song toàn.

Quý Thủy sinh tháng Sáu, sinh vào nửa đầu tháng (sau tiết Tiểu Thử) chuyên chọn Canh Tân làm phù trợ. Nếu cả Bính Đinh đều gặp, Hỏa nhiều Kim yếu cần gặp “Tỉ Kiếp” chủ mới phú quý. Sinh vào nửa cuối tháng, từ sau tiết Đại Thử, trong trụ Canh Tân đều thấu, không gặp “Tỉ Kiếp” cũng có thể giành được công danh. Hễ gặp Đinh Hỏa sẽ là hạ cách.

Mùa Thu, Quý Thủy

Quý Thủy sinh tháng Bảy là thời kỳ Canh kim đang vượng, trước Đinh sau Giáp, Đinh Giáp đều xuất, trong trụ không có hình thương phá hại, nhất định chủ đại quý. Một Đinh nằm tại Ngọ không gặp hình thương, sẽ là cách đặc biệt chủ phú quý và nhiều con trai, Canh Tân nhiều mà không có Đinh là số nghèo khổ. Có Đinh mà không có Giáp có thể giành công danh tối thiểu.

Quý Thủy sinh tháng Tám thuộc lúc Thủy trong Kim đang vượng, trước chọn Bính Hỏa, thứ chọn Tân kim, Bính Tân cùng thấu, không có hình thương nhất định chủ hiển quý. Tân tàng Bính thấu, có thể mong tiến bằng học hành và quan trường.

Quý Thủy sinh tháng Chín đang thuộc Thổ tinh nắm quyền, Quý Thủy không có hình dáng biến đổi chế ngự, chuyên dựa Tân Kim tương trợ. Giáp Mộc phò tá, Tân Giáp đều thấu, chi lại tàng Quý, trong trụ không có hình thương, chủ nhất định hiển quý. Can thấu Giáp Quý không có hình thương, chủ nhất định phú quý song toàn, nhưng gặp Giáp Quý không gặp Tân chỉ giàu mà không quý. Cả ba cái đều không gặp là số mệnh nghèo hèn.

Mùa Đông, Quý Thủy

Sinh tháng Mười đang lúc Thổ vượng, Quý Thủy không tránh khỏi chịu khắc và yếu đuối. toàn dựa vào khí Canh Tân Kim để phát ra nguồn nước. Canh Tân cùng thấu, tứ trụ không gặp hình thương, nhất định sẽ quý hiển. Chi thành Mộc cục, Đinh Hỏa thấu Đinh Hỏa là mệnh người luôn bận rộn và vất vả.

Quý Thủy sinh tháng Mười Một, chuyên chọn Bính Hỏa để giải nước đông cứng, thứ chọn Tân kim để tương trợ, Bính Tân cùng thấu, giành công danh vững chãi. Nhưng gặp Bính Hỏa, không gặp Tân Nhâm và hình thương chủ cũng hiển đạt, có Tân không có Bính sẽ là hạ cách.

Quý Thủy sinh tháng Mười Hai, dĩ nhiên cũng chuyên chọn Bính Hỏa để giải đông cứng, trong tứ trụ năm và giờ sinh thấu Bính, lại được Nhâm Thủy xuất can, Mậu Thổ tàng chi gọi là Thủy chuyển dương khắc. Nếu như không có hình thương nhất định sẽ làm quan đến cực phẩm. chi tàng Nhâm Quý thành Thủy cục, can thấu lưỡng Hỏa mà không có hình thương, thì một đời ăn mặc sung sướng, không gặp Bính Hỏa là số nghèo. Có Bính không có Nhâm giành công danh tối thiểu. Tóm lại, ba tháng mùa Đông Quý Thủy, một khi thiếu Bính Hỏa thì cuối cùng cũng không có hy vọng phát đạt. 

Tứ trụ gồm Trụ năm-Trụ tháng-Trụ ngày-Trụ giờ, bản thân từng Trụ như chúng ta đã biết, được đại diện bởi các cặp Can-Chi, Thiên Can có tên gọi Giáp, Ất ...... hay Địa chi Tý, Sửu .... Để phân tích, đánh giá Tứ trụ của một người, người ta dùng quy luật của Âm Dương-Ngũ Hành. 

Xem tử vi luân tuổi vợ chồng theo tứ trụ


Ơ mục này lấy cung thê đóng ở trụ ngày vượng suy là hỉ, kị và thê tài tài tinh có đắc lực hay không để bàn về duyên nợ của Tứ trụ . Tài tinh cung thê bao gồm : chính thất, kế thất và bản tính người vợ. Độc giả có thể căn cứ vào đó để suy ra sao chồng đóng ở trụ ngày của nữ có đắc lực hay không để biết được giàu nghèo, sang hèn.

Con Người đã bẩm thụ khí của Trời Đất, cho lên cũng không thoát khỏi quy luật vận động của Trời đất (Thông qua Âm dương-Ngũ hành). Mõi người sinh ra đều có Tứ trụ: Năm Tháng Ngày Giờ gọi là nguyên Mệnh, có tứ trụ tức là đã biết được Khí Âm dương, sinh vượng, trong đục, thông qua quy luật Sinh khắc, chế hoá ..v.v..để biết được Mệnh Giầu-nghèo; Sang-Hèn; Thọ-Yểu; Bệnh tật; Tai hoạ; Tình yêu; Hôn nhân; hoàn cảnh gia đình; thăng quan tiến chức; Tiền tài danh vọng ..v.v.. Thông qua Thời Vận để biết được khi nào thì phát sinh tốt xấu, ứng vào ai trong gia đình hay bộ phận nào trên cơ thể; Hay khi nào nên kết hôn, hôn sự thế nào, khi nào nên đầu tư kinh doanh, kinh doanh nghành nghề nào; Đi về phương nào kinh doanh thì có lợi được giầu sang phú quí, phương nào thì bất lợi, thậm trí phá sản ..v.v.. cũng là tuỳ Người, tuỳ Thời Vận >>> Đó cũng là mục đích nghiên cứu các môn Dịch học nói chung, Dự đoán tứ trụ nói riêng. Đó chính là Lý do để môn Dự đoán theo Tứ trụ tồn tại hàng trăm năm, luôn có sức sống mới, đặc biệt như chúng ta đang ở thời kỳ Vận 8-Bát bạch là thời kỳ sức sống của Dịch học đang được Thời, bởi được Ông Sao tốt quản xem tu vi mien phi

Tục ngữ nói : “Gần son thì đỏ, gần mực thì đen “. Nếu Tứ trụ người đó là mệnh phú quý thì người cùng chung hưởng vinh hoa với mình nhất định cũng là người có phúc. Trong
cuộc sống có những nam giới trước khi lấy vợ còn nghèo, sau khi lấy vợ thăng quan tiến chức, phát tài, mọi việc đều thuận lợi. Điều đó chứng tỏ trong mệnh người đó, vợ là tài tinh giúp mình, còn khi anh ta lấy người vợ khác thì bị phá tài, rủi ro, đó là vì khí quý của mình bị vợ xì xẹp mất. Cho nên ở đây muốn nhắc nhở những người ham ăn chơi phải biết giữ thân mình để đừng làm hại lây sang vợ. Nhưng cũng có trường hợp ngược lại, sau khi lấy vợ không những làm ăn không lên nổi mà còn ốm yếu liên miên, thậm chí vừa cưới về thì mất bố mẹ hoặc bị mất quan, bãi chức,hoặc buôn bán thua lỗ,v.v..

Theo tuviso.com thì cái lý do của nó là thân vượng thì thắng tài, thân nhược gặp tài là tai họa. Nói chung tài vượng có thể thắng, gặp vận tốt vừa được vợ, vừa được của. Muốn trong mệnh tài nhiều mà thắng thì thân phải rất vượng. Loại tổ hợp này ít gặp. Phần nhiều người ta chỉ gặp tổ hợp đó trong một khoảng thời gian.

Tuviso.com thấy cách xem cung vợ là chi ngày và tài tinh ở ngôi nào, là sinh vượng hay suy mộ và kết hợp xem đại vận. Nếu Tứ trụ không có tài tinh thì chỉ xem chi ngày. Cụ thể như sau:
Chi ngày là chính quan thì vợ tướng mạo đoan trang, ôn hoà hiền thục, nội trợ tốt. tu vi tron doi

Chi ngày đóng thực thần mà không có kiêu thần đoạt thực thần hoặc chi ngày là lộc thì vợ tính rộng rãi, người đậm, chăm chỉ việc nhà, gia đình đời sống đầy đủ.

Chi ngày đóng tài tinh là hỉ, người đó được vợ giúp đỡ hoặc có của nhờ vợ. Nếu còn gặp thiên đức là vợ hiền lành, khảng khái.

Chi ngày đóng chính ấn là vợ hiền, được vợ giúp, thân nhược càng tốt.

Chi ngày đóng tài tinh gặp tướng tinh là vợ con nhà danh giá phú quý.

Chi ngày đóng tỉ kiếp mà thân nhược là vợ tháo vát, đóng lộc càng tốt.

Chi ngày đóng tỉ kiếp mà thân nhược là vợ tháo vát, đóng lộc càng tốt.

Chi ngày đóng thương quan là người vợ đẹp. Thân vượng tài nhẹ là người có của . Kị thương quan vì như thế là người bị vợ làm cho phá tài hoặc không giúp đỡ gì được. Thương quan vượng là vợ hay mắng chồng hoặc mắng người khác.

Tài tinh được lộc là vợ khoẻ mạnh,hiền lành, chăm công việc.

Tài tinh đóng dưới quý nhân hoặc cùng chi với quý nhân là vợ đẹp, thông minh, nhu mì, con nhà phú quý.

Tài tinh được trường sinh là vợ trường thọ.

Chi ngày hoặc tài tinh đóng trạch mã là lấy vợ quê xa và chết ở quê vợ. Chi ngày hoặc tài tinh đóng hoa cái là vợ thông minh nhưng cao ngạo.

Chi ngày hoặc tài tinh đào hoa là vì luyến ái mà lấy nhau, vợ phong lưu nhiều tài nghệ.

Chi ngày là thiên ấn mà thân nhược là vợ hiền, tháo vát. Nếu thân nhược hoặc kị thiên ấn là vợ không giúp đỡ mấy.

Chi ngày là thất sát thì vợ tính thô bạo, vợ chồng không hòa thuận hoặc khắc vợ. Nếu gặp cả hai xung thì sau khi cưới nhiều bệnh. Không xung mà có chế thì tránh được , có chế gặp hợp thì tốt.

Thất sát đóng chi ngày và là dụng thần cũng là được vợ giúp đỡ.

Nhật chủ vượng, kình dương đóng ở chi ngày là vợ không hiền, hung hãn, hao tài, thậm chí vì vợ mà phá sản, hoặc vợ nhiều bệnh, hoặc vợ hình khắc. Nếu tài tinh mỏng yếu thì chủ về khắc vợ, khắc lần 1 , lần 2, thậm chí ba lần vẫn còn khắc nữa. Người mà tỉ kiếp nhiều, tài nhẹ cũng như thế.

Nhật chủ vượng, chi ngày là tỉ kiếp là vợ làm hao tài,hay cãi cọ, nặng ra có thể phá sản. Thân vượng, tài nhược càng ứng nghiệm.

Chi ngày đóng kình dương hoặc tài tinh đóng dưới kình dương là vợ không hiền, vợ chồng không hòa thuận.

Chính tài mạnh, thiên tài yếu hoặc có chính tài không có thiên tài là vợ không khoan dung với tì thiếp, ngược lại là vợ không chấp nhận tì thiếp. Tài lâm tử mộ tuyệt, kị thì khắc vợ, hỉ thỉ tốt.

Chi ngày có tài tinh vượng mà thân nhược là tài nhiều thân nhược là tài nhiều thân nhược , người đó vợ không đắc lực hoặc vợ nhiều bệnh, nặng thì khắc vợ. Nếu kình dương thì ngược lại là được nhờ vợ.

Xung, hợp và hại được ứng dụng rất rộng trong tử vi. Nhưng bản chất của những khái niệm tử vi cơ bản này là gì? Hãy cùng tìm hiểu để tiệm cận hơn với môn khoa học biết trước vận mệnh.1. Lục xung


Xung, hop, hai - ban chat cua nhung khai niem tu vi co ban hinh anh 2
Lục xung gồm 6 cặp địa chi xung nhau trong từng cặp một. 6 xung gồm có:
- Tí Ngọ xung nhau vì Dương Thủy của Tí khắc Dương Hỏa của Ngọ.
- Sửu Mùi xung nhau vì Mùi Thổ đới Kim khắc Sửu Thổ đới Mộc.
- Dần Thân xung nhau vì Dương Kim của Thân khắc Dương Mộc của Dần.
- Mão Dậu xung nhau vì Âm Kim của Dậu khắc Âm Mộc của Mão.
- Thìn Tuất xung nhau Tuất Thổ đới Thủy khắc Thìn Thổ đới Hỏa.
- Tỵ Hợi xung nhau vì Âm Thủy của Hợi khắc Âm Hỏa của Tỵ.

2. Lục hợp
Xung, hop, hai - ban chat cua nhung khai niem tu vi co ban hinh anh 2
Lục hợp gồm 6 cặp địa chi hợp nhau theo từng cặp một. 6 hợp gồm có:
- Tí Sửu hợp nhau vì Dương Thủy của Tí sinh Âm Mộc của Sửu (Thổ đới Mộc) và ngược lại.
- Dần Hợi hợp nhau vì Âm Thủy của Hợi sinh Dương Mộc của Dần và ngược lại.
- Mão Tuất hợp nhau vì Dương Thủy của Tuất (Thổ đới Thủy) sinh Âm Mộc của Mão và ngược lại.
- Thìn Dậu hợp nhau là vì Dương Hỏa của Thìn (Thổ đới Hỏa) sinh Âm Kim của Dậu và ngược lại.
- Tỵ Thân hợp nhau vì Âm Hỏa của Tỵ sinh Dương Kim của Thân và ngược lại.
- Ngọ Mùi hợp nhau vì Dương Hỏa của Ngọ sinh Dương Kim của Mùi (Thổ đới Kim) và ngược lại.
3. Lục hại
Xung, hop, hai - ban chat cua nhung khai niem tu vi co ban hinh anh 2
Lục hại gồm 6 cặp địa chi hại nhau theo từng cặp một. 6 hại gồm có:
- Tí Mùi hại nhau; vì Sửu sinh Tí, Mùi khắc Sửu, vậy Mùi hại Tí; và ngược lại Ngọ sinh Mùi, Tí khắc Ngọ, vậy Tí hại Mùi.
- Ngọ Sửu hại nhau; vì Tí sinh Sửu, Ngọ khắc Tí, vậy Ngọ hại Sửu; và ngược lại Mùi sinh Ngọ, Sửu khắc Mùi, vậy Sửu hại Ngọ.
- Dậu Tuất hại nhau; vì Mão sinh Tuất, Dậu khắc Mão, vậy Dậu hại Tuất; và ngược lại Thìn sinh Dậu, Tuất khắc Thìn, vậy Tuất hại Dậu.
- Thìn Mão hại nhau; vì Tuất sinh Mão, Thìn khắc Tuất, vậy Thìn hại Mão; và ngược lại Dậu sinh Thìn, Mão khắc Dậu, vậy Mão hại Thìn.
- Thân Hợi hại nhau; vì Dần sinh Hợi, Thân khắc Dần, vậy Thân hại Hợi; và ngược lại Tỵ sinh Thân, Hợi khắc Tỵ vậy Hợi hại Thân.
-  Tỵ Dần hại nhau; vì Hợi sinh Dần, Tỵ khắc Hợi, vậy Tỵ hại Dần; và ngược lại Thân sinh Tỵ, Dần khắc Thân, vậy Dần hại Tỵ.
Những khái niệm tử vi cơ bản này đặc biệt quan trọng khi xem xét lá số, luận bàn số mệnh nên cần hiểu rõ và nắm chắc. Mối quan hệ giữ các địa chi đều có liên quan tới Ngũ hành tương sinh – tương khắc.

LUẬN ĐIỀM KIẾT HUNG
Luôn luôn có những điềm báo trước cho mỗi người biết sự may rủi kiết hung sắp đến... Song nó báo tùy theo giờ mà điềm báo khác, vì vậy mình vô tình không lưu ý đến.

Soạn giả sưu tầm ra đây để các bạn kinh nghiệm xem sao? Nên để ý là các điềm tuỳ theo giờ, có điềm lại ứng tùy bên tả hay bên hữu.


ĐIỀM MÁY MẮT TÙY GIỜ, TẢ HAY HỮU
Giờ Tý: Tả gặp quới nhơn - Hữu có sự ăn uống.
Giờ Sửu: Tả có sự lo âu - Hữu có người trông đợi.
Giờ Dần: Tả khách xa đến - Hữu chuyện mừng đến.
Giờ Mẹo: Tảcó quới khách đến - Hữu điềm được bình an.
Giờ Thìn: Tả có khách xa đến - Hữu có sự hao tổn.
Giờ Tỵ: Tả có sự ăn uống - Hữu có việc chẳng lành.
Giờ Ngọ: Tả gặp ăn uống - Hữu có việc không lành.
Giờ Mùi: Tả điềm thạnh lợi - Hữu điềm vui nhỏ.
Giờ Thân: Tả đề phòng hao tổn - Hữu có gái mong đợi.
Giờ Dậu: Tả có khách - Hữu khách xa đến.
Giờ Tuất: Tả có khách - Hữu có hội hiệp.
Giờ Hợi: Tả có khách đến - Hữu lâm miệng tiếng.


Lưu ý: Tả là máy mắt bên trái, hữu là máy mắt bên phải.


ĐIỀM TAI Ù
Giờ Tý: Tả có gái mong chờ - Hữu diềm mất của.
Giờ Sửu: Tả lâm tai tiếng - Hữu có chuyện thị phi.
Giờ Dần: Tả có tổn tài - Hữu điềm về tâm sự.
Giờ Mẹo: Tả có sự ăn uống - Hữu có khách đến.
Giờ Thìn: Tả có chuyện đi xa - Hữu có khách đến.
Giờ Tỵ: Tả có hung sự. - Hữu điềm may mắn.
Giờ Ngọ: Tả có tin xa đến - Hữu có bà con đến.
Giờ Mùi: Tả điềm ăn uống - Hữu khách xa đến.
Giờ Thân: Tả điềm người đi - Hữu có chuyện vui.
Giờ Dậu: Tả điềm mất của - Hữu điềm đại kiết.
Giờ Tuất: Tả về vụ ăn uống - Hữu có khách đến.
Giờ Hợi: Tả điềm đại kiết - Hữu có sự ăn uống.



ĐIỀM THỊT GIỰT
Giờ Tý: Điềm tốt có người nhắc.
Giờ Sửu: Điềm vui có của hoạnh tài đến.
Giờ Dần: Có chuyện lành trừ ác rồi.
Giờ Mẹo: Điềm đắc tài đại kiết.
Giờ Thìn: Có chuyện ác tới mình hung sự.
Giờ Tỵ: Có khách giáp mặt tới.
Giờ Ngọ: Có lo ngại chuyện ấy liền.
Giờ Mùi: Có tài, có tin vui đến.
Giờ Thân: Có cãi lẫy, dè dặt thì khỏi.
Giờ Dậu: Điềm lâm họa ác, tốn tiền của.
Giờ Tuất: Có sự đi xa đại kiết.
Giờ Hợi: Có sự vui lành, đại kiết



ĐIỀM HỒI HỘP
Giờ Tý: Có người tư tưởng, sự vui đến.
Giờ Sửu: Việc không lành đến ngỏ.
Giờ Dần: Có khách tới hiền lành.
Giờ Mẹo: Có ăn uống và người ngoài đến.
Giờ Thìn: Có chuyện thành hợp, vui tốt.
Giờ Tỵ: Điềm vui có gái tưởng đến.
Giờ Ngọ: Việc ăn uống tự nhiên đến.
Giờ Mùi: Có giai nhân nhớ tưởng, tốt.
Giờ Thân: Điềm mừng to đến.
Giờ Dậu: Có người đem tin mừng.
Giờ Tuất: Có quí khách đến.
Giờ Hợi: Điềm hung hoặc tang khó.



ĐIỀM NHẢY MŨI
Giờ Tý: Điềm hội họp ăn uống vui vầy.
Giờ Sửu: Có khách nhắc nhở, có gái cầu việc.
Giờ Dần: Có nữ nhơn tương hội ăn uống.
Giờ Mẹo: Có tài lợi, có người hỏi han.
Giờ Thìn: Ngày mai sẽ có lộc ăn uống.
Giờ Tỵ: Có kẻ tốt đến giúp tài lợi.
Giờ Ngọ: Có quí khách, có kẻ xa hội tiệc.
Giờ Mùi: Có ăn uống, điềm kiết lợi.
Giờ Thân: Ăn uống bất lợi, chiêm bao sợ sệt.
Giờ Dậu: Điềm phụ nữ đến hỏi chuyện.
Giờ Tuất: Có việc hòa hảo với đàn bà.
Giờ Hợi: Điềm tài lợi lưu thông.



ĐIỀM KẸT VƯỚNG ÁO
Giờ Tý: Nam về ăn uống, nữ về bà con.
Giờ Sửu: Lo lắng về sự phá tài.
Giờ Dần: Chuyện khó của người thân không thành.
Giờ Mẹo: Anh em giao hữu ăn uống.
Giờ Thìn: Tự phá tài bịnh hoạn.
Giờ Tỵ: Đàn bà có ngoại tư.
Giờ Ngọ: Có kẻ xa đến đắc tài.
Giờ Mùi: Sự hại vì bất cản máu me.
Giờ Thân: Của bên ngoài ra vô tốt.
Giờ Dậu: Xấu, có kẻ đến làm hao tài.
Giờ Tuất: Thưa kiện được của cải.
Giờ Hợi: Gặp quan đắc tài đại kiết.



ĐIỀM CHÓ VỒ
Giờ Tý: Chuyện đàn bà cãi lẫy.
Giờ Sửu: Chuyện lo phiền tâm sự.
Giờ Dần: Chuyện may, chồng được của.
Giờ Mẹo: Trông nhớ chồng đắc tài lợi.
Giờ Thìn: Tiền của lưu thông.
Giờ Tỵ: Có tin thân nhân đến.
Giờ Ngọ: Có yến tiệc ăn uống lành.
Giờ Mùi: Vợ con ngoại tâm phá tài.
Giờ Thân: Gia trạch tiểu khẩu (cãi vã sơ).
Giờ Dậu: Lên chức thêm lộc được của.
Giờ Tuất: Hung, điềm chác sự tai tiếng.
Giờ Hợi: Điềm thưa cãi quan sự.



ĐIỀM CHIM KHÁCH KÊU
Giờ Tý: Có bà con về.
Giờ Sửu: Có may mắn về vợ con.
Giờ Dần: Đôi chối quan sự.
Giờ Mẹo: Điềm phát tài có ăn nhậu.
Giờ Thìn: Có người xa về.
Giờ Tỵ: Có việc mừng đến.
Giờ Ngọ: Lâm bịnh tật dè dặt cho qua.
Giờ Mùi: Thất tài về súc vật.
Giờ Thân: Tốt, điềm may mắn.
Giờ Dậu: Buồn bã không yên.
Giờ Tuất: Phát tài đại kiết.
Giờ Hợi: Đôi chối tiếng tăm.



ĐIỀM LỬA REO
Giờ Tý: Vợ ngoại tâm khó lòng.
Giờ Sửu: Lòng nữ nhân hướng về người khác rồi.
Giờ Dần: Tốt, được tài lợi bình an.
Giờ Mẹo: Tiền của lưu thông.
Giờ Thìn: Lo lắng hao tổn, nam có cãi vã sơ.
Giờ Tỵ: Chuyện hội họp ăn uống.
Giờ Ngọ: Có chuyện quan sự khó lòng.
Giờ Mùi: Có của hưng vong.
Giờ Thân: Của tiền đều được.
Giờ Dậu: Điềm hung báo tang.
Giờ Tuất: Lo lắng sau thắng lý.
Giờ Hợi: Điềm tai bệnh chẳng lành.



ĐIỀM TAI NÓNG
Giờ Tý: Có Tăng đạo đến luận việc.
Giờ Sửu: Có chuyện vui đem tới.
Giờ Dần: Tốt, có hội họp yến tiệc.
Giờ Mẹo: Tốt, có người xa giáp mặt.
Giờ Thìn: Điềm tài lợi lưu thông.
Giờ Tỵ: Điềm bất lợi coi chừng mất của.
Giờ Ngọ: Có sự ăn uống đưa tời.
Giờ Mùi: Có khách bàn sự tương lai.
Giờ Thân: Có sự vui say chè chén.
Giờ Dậu: Có tin về duyên nợ.
Giờ Tuất: Điềm cãi vã kiện thưa.
Giờ Hợi: Điềm tai tiếng quan phi.



ĐIỀM MẶT NÓNG
Giờ Tý: Có chuyện vui đắc tài.
Giờ Sửu: Có chuyện lo buồn.
Giờ Dần: Có khách xa tương hội.
Giờ Mẹo: Điềm ăn uống lại có bạn đến.
Giờ Thìn: Có khách xa tương hội.
Giờ Tỵ: Có người cần giáp mặt.
Giờ Ngọ: Có người cần giúp việc.
Giờ Mùi: Có thị phi cãi vã.
Giờ Thân: Có quới nhơn hội ngộ.
Giờ Dậu: Tốt, có người xa hiệp mặt.
Giờ Tuất: Điềm có rượu thịt.
Giờ Hợi: Có tai vạ tiếng tăm.






XEM THỜI TIẾT MÙA MÀNG 12 THÁNG

THÁNG GIÊNG


Tuyết sa lác đác mây bao phủ,
Là triệu tân niên hãy dự phòng.
"Lập Xuân" bữa ấy trời trong,
Nhà nông ắt đặng nhẹ công cấy cày.

THÁNG HAI

Sấm vang "Kinh Trập" trúng mùa này,
Mưa bữa "Xuân Phân" bệnh dẫy đầy.
Có ba ngày Mẹo tháng này,
Hoa mầu tươi tốt trổ đày khắp nơi.

THÁNG BA

Mưa sa mùng một khó vô hồi,
Làm bệnh lê dân khổ khắp nơi.
"Thanh Minh" ngày ấy xemt rời,
Nam phong gió thổi mùa thời trúng to.

THÁNG TƯ

Gió đông "Lập Hạ" bệnh phòng ngay,
Mùng tám được mưa lợi trái cây. (gió đông mùng 8)
Canh Thìn, Giáp Tý hai ngày,
Sâm vang hao tổn lúa khoai khỏi nào.

THÁNG NĂM

Vừa mưa vừa nắng năm dông gió,
"Mang Chưởng" trời gầm tốt tự nhiên.
"Hạ chí" Tây Bắc thổi liền,
Cây vườn hao hớt phải siêng vun trồng.

THÁNG SÁU

"Tam Phục" nực nồng trời nóng hậu,
Hoa mầu lúa thóc kho đơm bông.
Nhược bằng mùa tiết được thông,
Gió mưa tầm tả tam đông chẳng vừa.

(Sơ phục, trung phục và mạt phuc gọi tắt là Tam phục)

THÁNG BẢY

"Lập Thu" ngày ấy lại không mưa,
Thất mùa phân nửa phải lo ngừa.
Nhằm ngày "Xử Thử" lại mưa,
Cái phần kết quả khó bề trở xoay.

THÁNG TÁM

"Thu Phân" mây trắng trời trong vắt,
Mừng được trúng mùa mặc hát ca.
Ngại là sấm chớp lòe ra,
Đông này lúa thóc nên ma quái gì.

THÁNG CHÍN

Mùng một sa mù xâm tổn dân,
Trung dương kia ấy một trời thanh.
Trăng làu bầm đỏ bệnh hành,
Bằng có sấm gầm rau mía được tăng.

THÁNG MƯỜI

"Lập Đông" lại đúng ngày Nhâm,
Năm ấy ruộng giống thật phí tâm.
Hoặc nhằm Canh Tý chẳng lầm,
Tai ương tổn hại lê dân khắp cùng.

THÁNG MƯỜI MỘT

Dông tuôn mùng một bênh nan cần,
Lại sa tuyết dữ hại vô ngần.
Trời thanh "Đông chí" nên mừng,
Là năm vui vẻ tưng bừng hát cả.

THÁNG CHẠP

Mùng một đông phong lục súc tai,
Tuyết sa năm mới đến nơi rồi.
Được trời trong tốt ngày này,
Nông phu được đại phát tài cuối năm.

MƯA NHỮNG NGÀY GIÁP TÝ THẾ NÀO?

Mùa Xuân Giáp Tý nếu trời mưa,
Ngàn dặm đồng khô chẳng chỗ chừa.
Giáp Tý, Hè mưa, mưa chẳng ít,
Chống ghe vào chợ cũng bằng thừa.
Mùa Thu hoa trổ sanh đôi nỏ,
Giáp Tý ơn nhờ giọt móc mưa.
Giáp Tý ngày Đông mưa trút xuống.
Trâu dê hao hớt trước nên ngừa.

GIÓ NGÀY KỶ MẢO THẾ NÀO?

Xuân về Kỷ Mảo trời dông gió,
Đại thọ cành trơ nhành không lá.
Hè sang Kỷ Mảo lại dông,
Lúa khoai ruộng trống đồng không nên gì.
Thu lại Kỷ Mảo vậy thì,
Gió dông lua má còn gì nữa đâu?
Đông về Kỷ Mảo mưa sầu,
Bông trái hoa mầu thời có kể chi?

CHIẾM BỐN MÙA 28 VÌ SAO MƯA GIÓ

MÙA XUÂN


Hư, Nguy, Thất, Bích đa phong võ,
Nhược ngộ Khuê, Tinh, thiên sắc thanh.
Lâu, Vị, Ô phong thiên lãnh thống,
Mảo, Tất ôn hòa thiên hựu minh.
Chẩn, Giác nhị tinh thiên thiểu võ,
Hoặc khởi phong võ tác hoành hành.
Cang, Tú đại phòng khởi sa thạch,
Đê, Phòng, Tâm, Vỹ võ phong thanh.
Cơ Đẩu lạc lạc thiên thiểu võ,
Ngưu, Nữ di di, tác võ thanh.

MÙA HẠ

Hư, Nguy, Thất, Bích thiên bán âm,
Khuê, Lâu, Vị Tú võ lâm lâm.
Mảo Tất nhị tinh thiên hữu võ,
Chủy Sâm nhị tú thiên hựu âm.
Tĩnh, Quỷ, Liễu tinh, thanh hoặc võ,
Tinh, Trương, Duật, Chẩn hựu minh thanh.
Giác, Cang nhị tú, thái dương kiến,
Đê, Phòng nhị tú, đại võ phong.
Tâm, Vỷ hoài nhiên, tú tác võ,
Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, ngộ thiên thanh.

MÙA THU

Hư, Nguy, Thất, Bích, chấn lôi kinh,
Khuê, Lâu, Vị, Mảo, võ lâm đình.
Tất, Chủy, Sâm, Tĩnh thanh hưu võ,
Quỷ, Liễu vân khai, khách tiện hành.
Tinh, Trương, Duật, Chẩn thiên vô võ,
Giác, Cang nhị tú, võ phong thanh.
Đê, Phòng, Tâm, Vỹ, tắc hữu võ,
Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, võ lâm lâm.

MÙA ĐÔNG

Hư, Nguy, Thất, Bích đa phong võ,
Nhược ngộ Khuê tinh, thiên sắc thanh.
Lâu, Vị võ thanh, thiễn lãnh đóng,
Mảo, Tất chi kỳ, thiên hựu thanh.
Chủy, Sâm thử tú, thời thanh tịnh,
Tĩnh, Quỷ nhị tinh, thiên sắc huỳnh.
Mạc đại Liễu, Tinh, vân lộ khởi,
Thiên hàng phong võ, hữu tinh sương.
Trương, Duật phong võ, hựu kiến nhựt,
Chẩn, Giác dạ võ, nhựt hườn thanh.

Quý bạn lưu ý:
Soạn giả muốn giới thiệu cho quí bạn quyển Kim Oanh Ký cuốn nhì rút cả tinh hoa trong ba bộ Bát Trạch Minh Cảnh có thứ tự, liên quan đến cõi vô hình sanh ra bao nhiêu tai nạn, bệnh tật khổ sở trong gia đình người nọ, còn người kia lại hưởng chăn êm nệm ấm gia đình hạnh phúc!

Sự kiết hung, họa phước, một là do tuổi đôi vợ chồng, hai là do nhà cửa phương hướng hapj, kỵ, ba là do phương hướng đặt để bếp núc mà ra. Rồi bày ra cúng ếm lung tung đã hao tổn mà việc đâu vẫn còn đó.

Bạn sẽ bấm đặng Phi cung mới dám chắc tuổi vợ chồng người ta hung kiết thế nào, có phạm Bát san chăng? Nhà cửa, bếp núc, mả mồ, đường ra vào thế nào v.v...?

Nếu bạn cố tâm tập dượt trong vòng nửa tiếng đồng hồ là bấm được các việc kiết hung 64 cung tuổi vợ chồng, 64 cung phương hướng nhà cửa, 64 cung bếp núc mả mồ, may rủi họa phước v.v... Sau này còn bấm cả 64 quẻ Diệc nữa.

Chỉ bấm nội ba ngón tay: ngón trỏ, giữa và áp út, bấm vào bàn tay dưới chân ngón cái như người ta nhịp kèn, nhịp quyển mà hiểu thấu triệt cả mấy trăm cung nói trên. Nên soạn giả tự hào cung Phi của mình là linh động nhứt.

Nghĩa là bạn càng xem càng hiểu thêm, lại càng ham và chầy tháng trì năm trong đó nó sẽ giúp bạn mở mang thêm sáng kiến, thấy rộng hiểu xa hơn.


Cần biết người là khôn,
Cần biết mình là sáng.
Và biết số mạng mình là hay...
Bạn sẽ biết đặng người sao cả đời nghèo khổ, mà sau con cháu vẫn ở đó lại làm nên. Có kẻ giàu sang về sau con cháu cũng ở đất đó lại suy vi sụp đổ. Có người bỏ quê nhà đến xứ lạ lại làm nên, còn có người đang phát đạt mua đất cất nhà lại lâm nạn lầm than, cơ cực...! Tất cả đều do cung mạng ở nhằm phương hướng hạp kỵ, bạn hiểu đặng tất giải sự nguy cơ dễ dàng.

Quý vị nên xem thông hiểu quyển Kim Oanh Ký 2 mới biết Phi Cung Bát Trạch, tôi quả quyết: Người nào được nhều may mắn, hoặc người nào lâm cảnh khốn đốn như tuyệt tự, số không thọ, mang tật bệnh sợ truyền nhiễm lại con cái, bị người dèm siểm, mưu hại, nào là tớ phản, nào bị trộm cắp, hỏa tai, cãi vã, kiện thưa, quan sự thị phi, bại tài, thối điền sản v.v... Bạn biết được và bạn đem sự hiểu biết giúp cho người ta, chuyển họa thành phước ứng nghiệm như thần, miễn là người ấy cải tà qui chánh. Ví bằng tâm địa bạo tàn thì không thể cãi được lẽ trời báo ứng.


CHUYỆN ĐÁNG GHI NHẬN
1.- Một cơ thể nào trong mình suy kém, nếu bữa cơm chiều ăn no quá đêm ngủ ác mộng, chiêm bao quái gở, sợ hãi kêu la mớ rên. Bữa cơm tối nên ăn vừa thôi.

2.- Chiêm bao gặp gỡ tư tình là thận suy, sanh di tinh, mộng tinh nên trị ngay.

3.- Đến nhà bạn, bạn đi khỏi nên về ngay, chớ nên cà rà làm khách, đại kỵ là làm khách của vợ bạn.

4.- Kẻ thân bằng thật tình đãi cơm, đồ ăn dầu đơn sơ mấy, mình ăn tìm cách khen ngon miệng, ăn được thật no và thích ăn đạm bạc v.v... cho vui lòng bạn và người nhà nấu dọn.


NÊN TRÁNH
Không kể xấu hổ là một. Mượn đồ người ta diện là hai. Nịnh bợ người ta là ba. Hay khoe mình khi người là bốn. Tìm cách nói xấu người là năm. Không đáng cười cũng cười là sáu.

Phạm một điều là trở thành người hèn rồi, càng phạm nhiều điều càng trở nên đê tiện đến vô giá trị.


Soạn giả: Cựu giáo viên
Thái Kim Oanh


 

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.